Kinh tế Việt Nam có thể nhân dịch bệnh COVID-19 để ‘thoát Trung’? - Tiến Bộ

Breaking

Home Top Ad

Post Top Ad

Thứ Sáu, 28 tháng 2, 2020

Kinh tế Việt Nam có thể nhân dịch bệnh COVID-19 để ‘thoát Trung’?


Nếu như Việt Nam thông minh nhìn xuyên suốt bàn cờ thế giới thì càng nên đi vào con đường đa phương hóa, đa dạng hóa hoạt động kinh tế và thương mại của mình, chứ không nên chỉ cố rút vào thị trường truyền thống cũ, mà thị trường đó mình càng lệ thuộc vào Trung Quốc nhiều thì mình càng chết.

Công nhân Việt Nam làm việc tại nhà máy sản xuất xe hơi Ford ở tỉnh Hải Dương. Hình chụp ngày 11/01/2017. AFP


Nhấp vào nút play (►) dưới đây để nghe

Cơ hội thoát Trung

Trong một cuộc phỏng vấn với Trí Thứ Trẻ liên quan tác động của dịch COVID-19 đối với kinh tế Việt Nam, được đăng tải vào hôm 19/2, Viện trưởng Viện nghiên cứu Phát triển thành phố Hồ Chí Minh-Tiến sĩ Trần Hoàng Ngân nhận định rằng kinh tế của Việt Nam bị ảnh hưởng ngay tức thì vì là quốc gia láng giềng với Trung Quốc và khi hai nước có tổng xuất nhập khẩu lên đến khoảng 4500 tỷ đô la Mỹ (USD).

Tiến sĩ Trần Hòang Ngân đưa ra số liệu kim ngạch xuất nhập khẩu hiện tại giữa Việt Nam và Trung Quốc là 117 tỷ USD, chiếm 23% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của dịch COVID-19, đã có đến 20% xuất khẩu qua đất liền bị đóng băng và con số này chưa tính đến giao thương qua đường tiểu ngạch. Bên cạnh đó, lượng du khách Trung Quốc (chiếm đến 30% tổng số du khách nước ngoài) đang bị hạn chế vào du lịch Việt Nam trong thời điểm dịch COVID-19 không chỉ gây tác hại trong ngành du lịch mà còn dẫn đến hiệu ứng domino cho các chuỗi ngành khác liên quan như khách sạn, nhà hàng, hàng không…Trong lĩnh vực sản xuất, Tiến sĩ Trần Hoàng Ngân dự báo Quý II năm 2020 là giai đoạn rất khó khăn cho nhiều doanh nghiệp dệt may, da giày, sản xuất điện thoại…vì nguyên liệu dự trũ đầu vào, mà chủ yếu nhập từ Trung Quốc bị cạn kiệt.

Viện trưởng Viện nghiên cứu Phát triển thành phố Hồ Chí Minh khẳng định kinh tế Việt Nam đang đối mặt với những bất lợi qua các trưng dẫn vừa nêu. Thế nhưng, Tiến sĩ Trần Hoàng Ngân cho rằng “đây là thời điểm để đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu nền kinh tế một cách mạnh mẽ hơn, tránh phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc từ nguyên liệu đầu vào đến thị trường hòa hóa đầu ra” cho giải pháp trung và dài hạn đối với nền kinh tế của Việt Nam.

Tiến sĩ kinh tế Lê Đăng Doanh, vào tối ngày 25/2 nói với RFA rằng đề xuất này của Tiến sĩ Trần Hoàng Ngân là hợp lý:

“Việt Nam từ trước đến nay vẫn có câu là ‘trong họa thì có phúc’, ‘trong nguy thì có cơ’. Trong diễn biến như thế này, thì đúng là có cơ hội để Việt Nam đổi mới, tái cơ cấu và thay đổi. Tôi nghĩ rằng sức ép đó cần phải biến thành những phương án cụ thể.”

Nếu như Việt Nam thông minh nhìn xuyên suốt bàn cờ thế giới thì càng nên đi vào con đường đa phương hóa, đa dạng hóa hoạt động kinh tế và thương mại của mình, chứ không nên chỉ cố rút vào thị trường truyền thống cũ, mà thị trường đó mình càng lệ thuộc nhiều thì mình càng chết. Theo thiển kiến của tôi thì hướng đi tốt nhất của Việt Nam trong tình hình hiện nay là phải càng đi sâu về chủ trương và đường lối đa phương hóa và đa dạng hóa quan hệ kinh tế và thương mại của mình với tất cả các quốc gia

-Nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại Lê Văn Triết
Ông Lê Văn Triết, nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại, bày tỏ đồng quan điểm với Tiến sĩ Trần Hoàng Ngân về viễn cảnh kinh tế Việt Nam phải chủ động để “thoát Trung”:

“Nếu như Việt Nam thông minh nhìn xuyên suốt bàn cờ thế giới thì càng nên đi vào con đường đa phương hóa, đa dạng hóa hoạt động kinh tế và thương mại của mình, chứ không nên chỉ cố rút vào thị trường truyền thống cũ, mà thị trường đó mình càng lệ thuộc nhiều thì mình càng chết. Theo thiển kiến của tôi thì hướng đi tốt nhất của Việt Nam trong tình hình hiện nay là phải càng đi sâu về chủ trương và đường lối đa phương hóa và đa dạng hóa quan hệ kinh tế và thương mại của mình với tất cả các quốc gia.”

Chuyên gia tài chính-ngân hàng độc lập, Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu cho RFA biết rằng quan điểm của Tiến sĩ Trần Hoàng Ngân đã được giới chuyên gia nhiều lần đề xuất với Chính phủ Việt Nam trong những năm vừa qua:

“Nhiều chuyên gia kinh tế yêu cầu Việt Nam thực hiện đa dạng hóa cả đầu vào và đầu ra. Đầu vào là thay vì Trung Quốc thì mình đi tìm những thị trường nhập khẩu như Hàn Quốc, Nhật và các thị trường ở vùng Đông Nam Á. Tận dụng vị thế của Việt Nam để nhập khẩu nhiều từ các thị trường ở Đông Nam Á và Châu Á-Thái Bình Dương và từ đó đưa ra xuất khẩu. Còn về xuất khẩu thì ngay cả thị trường Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam cũng phải được đa dạng hóa. Tại vì đến một thời điểm nào đó mà thị trường Mỹ gặp khó khăn thì xuất khẩu của Việt Nam cũng gặp khó khăn.”




Tiến sĩ Lê Đăng Doanh xác nhận với RFA rằng mặc dù theo như Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu vừa trình bày. Tuy nhiên:

“Cho đến nay, tôi chưa thấy có một đề án về tái cơ cấu và đa phương hóa, đa dạng hóa mà công việc đó hiện nay là Bộ Công thương đang chịu trách nhiệm chủ trì về việc tìm kiếm thị trường mới. Các doanh nghiệp cũng đang rất nỗ lực. Nếu mà xây dựng một phương án tổng thể thì cần phải có Thủ tướng chỉ đạo và có sự tham gia của các bộ, các viện và các ngành.”

“Giảm, hoãn thuế và gia hạn nợ cho doanh nghiệp”

Truyền thông trong nước vào ngày 26/2 dẫn nguồn từ Bộ Công thương cho biết, tại cuộc họp đánh giá tác động của dịch bệnh COVID-19 đến các ngành sản xuất của Việt Nam, rằng các ngành điện, điện tử chỉ còn đủ linh kiện cho sản xuất nhiều nhất là đến cuối tháng 3. Tương tự, ngành dệt may, da giày, túi xách cũng chỉ còn nguyên liệu sản xuất đến đầu tháng 3 hoặc nhiều nhất là đến đầu tháng 4-2020 và có nhiều khả năng doanh nghiệp phải tạm dừng sản xuất.

Tiến sĩ Đinh Trọng Thịnh cho RFA biết giải pháp ngắn hạn mà Bộ Công thương đưa ra là có thể nhập bông vải sợi từ Ấn Độ hay nhập linh kiện điện tử từ Nhật Bản, Đài Loan để thay thế nguồn nguyên vật liệu từ Trung Quốc.

Tiến sĩ Trần Hoàng Ngân trong cuộc phỏng vấn với Trí Thức Trẻ còn nhấn mạnh một trong những giải pháp có thể giúp giảm thiểu tối đa tác động của dịch COVID-19 đối với nền kinh tế là cần phải ngay lập tức hỗ trợ cho các doanh nghiệp bị ảnh hưởng được giảm, hoãn thuế, gia hạn nợ, khoanh nợ, khoanh lãi đối với khỏan vay ngân hàng.

Qua trao đổi với một số doanh nghiệp ở trong nước, Đài RFA ghi nhận nguyện vọng của họ mong muốn Chính phủ giảm lãi suất. Bà Nguyễn Thị Ba, nhân viên một công ty tư nhân ở Sài Gòn bày tỏ:

“Lãi suất phải giảm xuống. Hoặc có thể những hộ nuôi trồng nông sản, thủy hải sản cho người ta được giảm lãi suất hoặc không lãi suất trong thời gian 3 đến 6 tháng.”

Một doanh nhân kinh doanh về phân bón và nông sản hữu cơ, ẩn danh, cho RFA biết người nông dân trồng cây ăn trái ở Việt Nam là những người bị ảnh hưởng nặng nề nhất trong dịch bệnh COVID-19. Do đó:

“Phải giảm lãi suất và thậm chí là ưu đãi không lãi suất cho họ.”

Ngân hàng Nhà nước, vào ngày 24/2 ban hành công văn số 1117/NHNN-TD yêu cầu các tổ chức tín dụng thực hiện các giải pháp hỗ trợ cho khách hàng do ảnh hưởng của dịch CCOVID-19. Theo đó, các tổ chức tín dụng phải áp dụng thời hạn trả nợ, miễn giảm lãi vay, giữ nguyên nhóm nợ cho khách hàng đối với các khoản nợ bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19 và có dư nợ gốc và/hoặc lãi đến kỳ hạn trả nợ trong thời gian từ ngày 23-1-2020 đến ngày 31-3-2020.




Đài RFA nêu vấn đề với Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu rằng giải pháp Tiến sĩ Trần Hoàng Ngân nêu ra cũng như đề nghị của khối doanh nghiệp về giảm lãi suất liệu có thể khả thi hay không; trong khi chỉ vài ngày trước lúc Việt Nam công bố dịch COVID-19, Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu từng nhận định năm 2020 sẽ là năm mà nhiều ngân hàng rất khó giảm lãi suất do gặp áp lực về chi phí vốn. Trả lời câu hỏi của RFA, Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu khẳng định Chính phủ Việt Nam thực tâm muốn giảm lãi suất thì có thể thực hiện được.

Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu giải thích rằng Việt Nam hiện có hai thị trường vốn 1 và 2. Thị trường 1 là thị trường vốn của người dân và các thành phần kinh tế. Còn thị trường 2 là thị trường vốn của các ngân hàng với nhau. Việc giảm lãi suất có thể bắt đầu từ Ngân hàng Nhà nước giảm lãi suất điều hành (là loại lãi suất mà Ngân hàng Trung ương áp dụng trong hệ thống liên ngân hàng). Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu nhấn mạnh:

“Thế thì Ngân hàng Nhà nước có thể giảm lãi suất áp dụng trên thị trường 2, trong đó có lãi suất tái cấp vốn, alxi suất omo, lãi suất chiết khấu. Đây là các lãi suất mà Ngân hàng Trung ương có thể tự định ra. Khi Ngân hàng Trung ương giảm lãi suất điều hành ở thị trường 2 thì có thể các ngân hàng có dòng vốn rẻ hơn và họ sử dụng dòng vốn đó cho thị trường 1 là thị trường cho vay. Ngân hàng Nhà nước giảm mặt bằng lãi suất, nhưng với liều lượng ít nhất vào khỏang 0,5%; chứ còn như những lần trước với liều lượng 0,25% thì không đủ. Và cũng cần độ trễ vào khoảng 3 tháng thì mới lan tỏa sang thị trường 1.”

“Tạo niềm tin rất lớn cho nhà đầu tư nước ngoài”

Bệnh nhân thứ 16 được điều trị khỏi COVID-19 xuất viện vào sáng ngày 26/2/2020. Courtesy: VGP News
Tại cuộc họp trực tuyến của Bộ Y tế vào sáng ngày 25/2, bộ này thông báo 16 trường hợp nhiễm virus corona tại Việt Nam đã khỏi bệnh. Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam tuyên bố rằng “có thể đánh giá Việt Nam đến nay kiểm soát được dịch COVID-19”.

Tiến sĩ Trần Hòang Ngân, qua cuộc phỏng vấn với Trí Thức Trẻ, đã rất lạc quan nói rằng Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đánh giá rất cao khả năng ứng phó với bệnh dịch của Việt Nam. Điều này mang lại niềm tin rất lớn cho các nhà đầu tư nước ngoài đến làm ăn, kinh doanh tại Việt Nam. Tiến sĩ Trần Hoàng Ngân cũng lưu ý về xu thế chuyển dịch ra khỏi Trung Quốc của các tập đoàn sản xuất lớn và Việt Nam là quốc gia có nhiều lợi thế để thu hút các tập đoàn này đến đầu tư.

Tiến sĩ Trần Hoàng Ngân còn khẳng định trong thời gian tới, Việt Nam sẽ có cơ hội đón được nguồn đầu tư từ Châu Âu, với công nghệ tiên tiến chất lượng cao khi hai Hiệp định Tự do Thương mại Việt Nam-EU (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ Đầu tư Việt Nam-EU (EVIPA) có hiệu lực.




Một số vị chuyện gia, Đài RFA có dịp trao đổi, đồng thời cũng nhấn mạnh về thị trường EU rộng lớn, đầy tiềm năng cho Việt Nam trong tương lai.

Cho đến nay, tôi chưa thấy có một đề án về tái cơ cấu và đa phương hóa, đa dạng hóa mà công việc đó hiện nay là Bộ Công thương đang chịu trách nhiệm chủ trì về việc tìm kiếm thị trường mới. Các doanh nghiệp cũng đang rất nỗ lực. Nếu mà xây dựng một phương án tổng thể thì cần phải có Thủ tướng chỉ đạo và có sự tham gia của các bộ, các viện và các ngành

-Tiến sĩ Lê Đăng Doanh
Tiến sĩ kinh tế Nguyễn Huy Vũ, từ Na Uy, qua ứng dụng messenger chia sẻ với RFA ghi nhận của ông:

“Sau cuộc chiến thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, cuộc khủng hoảng vì dịch bệnh ở Trung Quốc cũng sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp nước ngoài ở Trung Quốc đẩy mạnh đầu tư thêm ra các nước khác để đa dạng hoá danh mục đầu tư phòng ngừa rủi ro. Việt Nam nếu kiểm soát dịch bệnh tốt, cải thiện môi trường đầu tư, hạ tầng, thuế và cung cấp thêm nhân công có trình độ tay nghề thì sẽ trở thành một điểm đến cho các nhà đầu tư này.”

Tiến sĩ Nguyễn Huy Vũ còn đề cập đến trào lưu những người đến tuổi nghỉ hưu ở Mỹ và phương Tây muốn tìm một nơi thoải mái và rẻ tiền để sống lâu dài lúc về hưu. Tiến sĩ Nguyễn Huy Vũ cho rằng:

“Nếu Việt Nam cải thiện các điều kiện xin visa sống lâu dài, bảo đảm quyền sở hữu nhà ở của người nước ngoài, miễn thuế đối với các thu nhập có nguồn gốc ở nước ngoài, và cải thiện hệ thống y tế sẽ khuyến khích nhiều người Âu, Mỹ chọn nghỉ hưu ở Việt Nam. Họ sẽ là những khách du lịch dài hạn, thậm chí trong nhiều trường hợp trở thành những nhà đầu tư. Làm được vậy sẽ giúp ngành du lịch đa dạng hoá nguồn khách du lịch, bớt phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc, tăng nguồn thu ngoại tệ, kích thích đầu tư trong nước.”

“Nói thì dễ nhưng thực hiện không dễ”

Nhà quan sát tình hình Việt Nam-Tiến sĩ Vũ Quang Việt, chuyên gia kinh tế từng làm việc tại Cục Thống kê Liên Hiệp Quốc, vào ngày 25/2 lên tiếng với RFA rằng trước mắt dù dịch COVID-19 được kiểm soát tốt đến đâu thì:

“Sắp tới kinh tế Việt Nam đương nhiên sẽ bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh này. Đầu tư địa ốc từ nước ngoài ở Việt Nam có thể sẽ giảm. Do đó, khu vực bất động sản sẽ cực kỳ khó khăn. Như vậy một số ‘đại gia’ trong ngành này sẽ phá sản và sẽ lôi kéo tình trạng khủng hoảng tài chính của Việt Nam.”

Liên quan đề xuất Việt Nam “trong nguy có cơ” để nền kinh tế không còn quá phụ thuộc vào Trung Quốc, Tiến sĩ Vũ Quang Việt cho rằng “không hề đơn giản”. Từ Hoa Kỳ, Tiến sĩ Vũ Quang Việt lý giải:

“Thí dụ ngay cả đến như Samsung có số lượng điện thoại bán trên thế giới có một nửa là sản xuất tại Việt Nam. Một phần các con chip trong điện thoại Samsung được sản xuất ở bên Trung Quốc. Có thể thêm một thời gian nữa thì Samsung tại Việt Nam sẽ gặp khó khăn vì dự trữ không còn nữa. Ngay cả bây giờ Nam Hàn cũng bị vấn đề tương tự như vậy.

Trung Quốc có rất nhiều lợi thế mà không dễ gì có thể thay thế được những lợi thế đó bằng những lợi thế của những quốc gia khác. Thành ra nói thì dễ nhưng việc thực hiện không phải là chuyện dễ, dù có thể khả thi

-Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu
Ví dụ có một tập đoàn nào đó muốn sản xuất sắt thép tại Việt Nam, mà Việt Nam không có những nguyên liệu sắt thép thì họ sẽ phải làm sao cho năng lượng, cho điện rất rẻ để người ta đưa vào (sản xuất). Đại khái với cách làm như vậy thì họ sẽ thu hút những công nghệ rất lạc hậu và rẻ tiền đưa từ Trung Quốc hoặc từ Hàn Quốc sang. Những chuyện như vậy, chúng ta thấy rồi.

Hay ví dụ như Tập đoàn Vingroup nhảy vào sản xuất xe hơi. Nhưng sau khi Hiệp định EVFTA được ký và thông qua thì ngay lập tức xe hơi nhập vào Việt Nam với thuế suất là 0. Bây giờ không phải chỉ là Vingroup thôi mà cả những công ty khác đầu tư sản xuất xe hơi ở Việt Nam sẽ phải giải quyết vấn đề như thế nào?”


Các vị chuyên gia kinh tế Đài RFA tiếp xúc cùng có chung nhận định rằng sẽ rất khó để kinh tế Việt Nam không bị phụ thuộc vào Trung Quốc vì rất nhiều nguyên nhân như hàng hóa rất rẻ, thuận tiện cho việc chuyên chở giao nhận do ở sát biên giới, đặc biệt tập tục buôn bán và văn hóa kinh doanh của hai nước rất tương đồng với nhau…Tiến sĩ Nguyễn Hiếu khẳng định:

“Trung Quốc có rất nhiều lợi thế mà không dễ gì có thể thay thế được những lợi thế đó bằng những lợi thế của những quốc gia khác. Thành ra nói thì dễ nhưng việc thực hiện không phải là chuyện dễ, dù có thể khả thi”.


Sau trào lưu “toàn cầu hóa”, chúng ta có thể thấy xuất hiện một xu hướng trái ngược, xin tạm gọi là “nhất thể hóa” là quốc gia nào cũng cố sản xuất lấy phần lớn hàng hóa và dịch vụ cho mình thay vì trông cậy hay hợp tác với các nước khác

Cổ phiếu Trung Quốc xuống dốc sau Tết Nguyên Đán


Nhấp vào nút play (►) dưới đây để nghe

Dịch bệnh xuất phát từ thủ phủ Vũ Hán của tỉnh Hồ Bắc đã trở thành một vấn đề quốc tế với hơn tám vạn ca nhiễm bệnh và hơn hai ngàn 700 người thiệt mạng, đa số tại Trung Quốc. Nhưng dịch bệnh do vi khuẩn được tổ chức Y tế Quốc tế WHO đặt tên là “COVID-19”, hay được Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Mỹ CDC đặt tên là “SARS-CoV-2” lại lan qua 41 quốc gia và khu vực khác ngoài Trung Quốc nên có thể dẫn tới một đại dịch toàn cầu. Hậu quả sẽ là những gì, Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu sau đây qua bài phỏng vấn kinh tế gia Nguyễn-Xuân Nghĩa.

https://www.cdc.gov/coronavirus/2019-nCoV/summary.html

Hậu quả kinh tế lan rộng

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do cùng Nguyên Lam xin kính chào chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, từ đầu Tháng 12 năm ngoái cho tới nay là cuối Tháng Hai, thế giới có ba mối lo chồng chất. Đó là tình hình dịch bệnh tại Trung Quốc, với dữ kiện khó tin vì cứ đổi thay của nhà chức trách; thứ hai là sự lây lan dịch bệnh tại nhiều quốc gia ngoài trung Quốc khiến người ta nói đến nguy cơ “đại dịch toàn cầu”, hay “global pandemic”. Và mối lo thứ ba chính là hậu quả kinh tế lan rộng cho các nước trên thế giới. Ông nghĩ sao về các chuyện ấy?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ ta có ít ra sáu mối lo chồng chất trong nhiều vòng xoắn thắt khó gỡ: Thứ nhất, trong vạn năm qua, nhất là từ hai thế kỷ gần đây, khoa học kỹ thuật của con người đã có nhiều tiến bộ, mà vẫn không thể giải quyết mọi dịch bệnh, mươi năm lại xảy ra vài lần. Mỗi lần như vậy, giới khoa học chuyên về dịch tễ lại tìm hiểu và trao đổi thông tin để tìm giải pháp chữa chạy và chủng ngừa trong khi con người lại hốt hoảng lo sợ vì cái chết, là điều dễ hiểu.

- Thứ hai, lần này dịch bệnh lại xuất phát từ Trung Quốc nữa, với thói che giấu thông tin và không nói thật về số nhiễm bệnh hay tử vong nên các nước càng e ngại. Khi thông tin chính thức thiếu khả tín thì lời đồn được coi là tin thật, nên sự hốt hoảng càng lan rộng.

Sau trào lưu “toàn cầu hóa”, chúng ta có thể thấy xuất hiện một xu hướng trái ngược, xin tạm gọi là “nhất thể hóa” là quốc gia nào cũng cố sản xuất lấy phần lớn hàng hóa và dịch vụ cho mình thay vì trông cậy hay hợp tác với các nước khác

-Nguyễn Xuân Nghĩa
- Thứ ba, sau ba tháng lây lan tại Trung Quốc, từ đầu Tháng 12 năm ngoái, tình hình trở thành nguy ngập hơn vì dịch bệnh lại tràn lan ngoài lãnh thổ Trung Quốc vào các lục địa và 40 quốc gia hay khu vực khác. Hôm Thứ Ba 25, lần đầu tiên số người nhiễm bệnh ngoài Trung Quốc lại vượt qua số nội địa. Vì vậy, người ta sợ dịch bệnh từ Vũ Hán sẽ là “đại dịch toàn cầu”, hay “global pandemic”, do lây qua người chưa đến Trung Quốc hay lâm bệnh tại Vũ Hán, như Iran hay Brazil là các nước chưa có hệ thống dịch tễ hiện đại bằng Nhật Bản, Hàn Quốc hay Đài Loan….

- Thứ tư, vì kinh tế Trung Quốc có sản lượng thứ nhì thế giới sau Hoa Kỳ, lại tham gia vào “chuỗi cung ứng toàn cầu”, nên dịch bệnh tại đây gây lo ngại cho các doanh nhiệp nội địa lẫn quốc tế. Hậu quả là luồng sản xuất, kỹ nghệ du lịch và vận chuyển của thế giới đều bị thiệt hại - nặng nhất là kinh tế Trung Quốc. Chúng ta chưa biết tình trạng này sẽ kéo dài bao lâu nhưng các thị trường Á, Âu rồi Mỹ đều chờ tin xấu cho nên tuột giá trong nhiều ngày liền của tuần này.




- Thứ năm, lãnh đạo Bắc Kinh đang ở vào hoàn cảnh “lưỡng nan”, hai ngả đều khó, là từ bỏ chế độ cách ly và gián đoạn lưu thông để cứu kinh tế hay cứu người? Thành thử dịch bệnh đang thách đố hệ thống kinh tế chính trị của Trung Quốc và vị trí lãnh tụ tối cao của Tổng bí thư Tập Cận Bình. Vòng xoắn này mới là éo le nhất.

- Thứ sáu, nhìn về dài, tôi còn nghĩ dịch bệnh Vũ Hán sẽ đảo lộn toan tính kinh doanh của thế giới. Khi Chiến Tranh Lạnh kết thúc với sự tan rã của Liên bang Xô viết, người ta tưởng thế giới sẽ tìến vào hình thái “toàn cầu hóa”, là các nước tự do giao dịch với nhau và mở ra kỷ nguyên hội nhập để một sản phẩm tiêu thụ có phần đóng góp của cả trăm doanh nghiệp từ cả chục nước, trong cái gọi là “chuỗi cung ứng toàn cầu” hay “global supply chain”, với giá rẻ nhất. Nào ngờ, dịch bệnh Vũ Hán phá vỡ sự lạc quan đó, như tại Nam Hàn, Nhật Bản, Đài Loan, chưa nói tới nỗi bất trắc tại Liên Hiệp Âu Châu sau khi Vương quốc Anh Thống nhất rút khỏi tổ chức này. Vì vậy, sau trào lưu “toàn cầu hóa”, chúng ta có thể thấy xuất hiện một xu hướng trái ngược, xin tạm gọi là “nhất thể hóa” là quốc gia nào cũng cố sản xuất lấy phần lớn hàng hóa và dịch vụ cho mình thay vì trông cậy hay hợp tác với các nước khác. Tiến bộ về khoa học kỹ thuật, về “thuật lý” là “technology”, trí thông minh nhân tạo hay nghệ thuật sản xuất qua không gian ba chiều gọi là 3-D sẽ càng thúc đẩy trào lưu đó. Đấy là một thiệt hại cho các nước đang phát triển, mà đứng đầu vẫn là… Trung Quốc đông dân nhất!

Kinh tế thế giới sẽ suy trầm?

Nguyên Lam: Nhưng thưa ông, dù sao kinh tế của Trung Quốc cũng đóng góp tới một phần ba cho đà tăng trưởng sản xuất của thế giới trong năm 2019. Nếu dịch bệnh tại Trung Quốc lại nghiêm trọng đến như vậy thì tình hình sẽ ra sao?

Add caption
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta thật ra chưa thể biết mà chỉ dự đoán thôi và tôi nghĩ là nhiều phần sẽ đoán sai! Thứ nhất, chưa ai biết sự thể sẽ nghiêm trọng tới độ nào và thứ hai là sẽ kéo dài bao lâu. Giới chuyên gia kinh tế, như thuộc Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế IMF trong khóa họp tuần qua của Nhóm G-20 tại Saudi Arabia thì cho rằng kinh tế Trung Quốc sẽ chóng phục hồi trong năm 2020 này, đà tăng trưởng của họ vẫn đạt 6% so với 3,3% của toàn cầu, nhưng Ngân hàng Thế giới lại dự báo một đà tăng trưởng toàn cầu thấp hơn, chỉ ở khoảng 2,5% mà thôi.

- Lý do là họ đo đếm từ các số liệu của trận dịch Viêm Phổi Cấp Tính SARS xảy ra tại Quảng Đông cách nay 17 năm. Khi đó, đà tăng trưởng sản xuất của Trung Quốc mất hai điểm bách phân là 2%, nhưng phục hồi nhanh và thiệt hại chỉ ở khoảng 55 tỷ đô la. Tuy nhiên, tình hình ngày nay đã khác vì kinh tế Trung Quốc đã giàu hơn thời 2002-2003, từ 4% Tổng sản lượng toàn cầu, nay đã lên tới 17% và họ tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu với nhiều nền kinh tế khác, như các nước Á Châu là Nhật Bản, Nam Hàn hay cả Việt Nam cần tới 40% sản phẩm bán chế đến từ Trung Quốc. Ngày nay, các sản phẩm đó hết còn nữa, ít nhất là trong vài tháng, nên tình hình không thể như trước và ngoài tổn thất nhân mạng vì dịch bệnh, các nước còn bị tổn thất kinh tế mà chưa ai có thể đếm ra được.




- Một nước Tây phương bị thiệt hại nhất vì nền kinh tế quá lệ thuộc vào việc xuất khẩu, kể cả xuất khẩu giáo dục là đào tạo sinh viên cho thị trường Trung Quốc chính là nước Úc. Vụ khủng hoảng về dịch bệnh này có thể khiến Úc phải đa diện hóa thị trường xuất cảng, như với Indonesia, Ấn Độ và Âu Châu, để thoát khỏi ảnh hưởng quá bất lợi đến từ Trung Quốc.

Nguyên Lam: Trở lại với trường hợp Hoa Kỳ, tối Thứ Tư 26, giờ miền Đông Hoa Kỳ, sau khi thảo luận với ban đặc nhiệm về sức khỏe, Tổng thống Donald Trump có cuộc họp báo để trấn an dư luận rằng không nên sợ hãi dịch bệnh lây lan vì nước Mỹ có khả năng kiểm soát được tình hình và mức độ rủi ro vẫn còn thấp. Tuy nhiên, lời trấn an có vẻ thiếu công hiệu vì hôm sau, các thị trường tài chính của Mỹ lại tiếp tục sụt giá nặng. Theo như ông nhận xét thì liệu kinh tế thế giới có bị suy trầm vì dịch bệnh này hay không?

Trung Quốc đã không giải quyết nổi một vấn đề y tế xã hội nên sẽ lãnh hậu quả kinh tế nặng nhất và các nước còn lại không thể trông cậy vào việc giao dịch với nền kinh tế này như xưa. Chúng ta cần thời gian, ít ra là sáu tháng, để kiểm nghiệm lại sự thay đổi này.

-Nguyễn Xuân Nghĩa
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Ông Trump không thuyết phục được thị trường. Người ta lo rằng dịch bệnh đã lan ra quá nhiều quốc gia chứ hết còn là một vấn đề của riêng Trung Quốc. Việc Nhật Bản cho đóng cửa các trường trung tiểu học trong suốt Tháng Ba cũng là yếu tố đáng ngại. Vì vậy, chuỗi cung ứng giữa các nước đang bị tê liệt, và nếu đà tăng trưởng toàn cầu chỉ còn là 2,5% như Ngân hàng Thế giới dự báo cho năm nay thì quả thật là kinh tế toàn cầu đang trôi vào suy trầm.

- Theo định nghĩa, suy trầm là khi đà tăng trưởng sút giảm trong hai quý liền, nên người ta chỉ biết sau sáu tháng, nhưng các thị trường đều có dấu hiệu hốt hoảng và mất giá liên tục trong sáu ngày liền, phân lời trái phiếu dài hạn cũng sụt tới mức đáng lo. Nhưng đáng lo hơn vậy là lãi suất của các nền kinh tế Âu Mỹ Nhật nói chung đều quá thấp nên nếu kinh tế bị suy trầm thì biện pháp kích thích sản xuất bằng hạ lãi suất cũng có giới hạn. Sau cùng, ta phải kết luận rằng trường hợp đại dịch toàn cầu đang xảy ra trước mắt chúng ta.

Nguyên Lam: Tuy nhiên, nếu nhìn trong trường kỳ thì biến cố này lại khiến các nước quan niệm lại về chuỗi cung ứng của Trung Quốc, như ông có nói hồi nãy. Có phải như vậy không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Đấy là nỗi lo chồng chất thứ sáu tôi trình bày ở trên. Trung Quốc đã không giải quyết nổi một vấn đề y tế xã hội nên sẽ lãnh hậu quả kinh tế nặng nhất và các nước còn lại không thể trông cậy vào việc giao dịch với nền kinh tế này như xưa. Chúng ta cần thời gian, ít ra là sáu tháng, để kiểm nghiệm lại sự thay đổi này.

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do cùng Nguyên Lam xin cảm tạ kinh tế gia Nguyễn-Xuân Nghĩa về bài phân tích tuần này.


Nguyễn Xuân Nghĩa
RFA

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Post Bottom Ad