Chuỗi đập thuỷ điện Vân Nam và " Cửu Long cạn dòng" - Tiến Bộ

Breaking

Home Top Ad

Post Top Ad

Thứ Ba, 28 tháng 4, 2020

Chuỗi đập thuỷ điện Vân Nam và " Cửu Long cạn dòng"



Sông Mekong ở Nakhon Phanom khô cạn. [Ảnh: Bangkok Post]

Trong bài viết trên trang mạng của Viet Ecology Foundation [1] và được trích đăng trên báo Người Việt ở Orange County, California [2], Bác sĩ (BS) Ngô Thế Vinh, tác giả của 2 quyển sách Cửu Long cạn dòng, Biển Đông dậy sóng và Mekong – Dòng sông nghẽn mạch, đã dùng một bài phỏng vấn được đăng trên báo Người Đô Thị ở trong nước ngày 15 tháng 5 năm 2016 [3] để “…trả lời quan điểm sai trái cho rằng Cửu Long cạn dòng không phải do Trung Cộng xây chuỗi đập thủy điện trên thượng nguồn.”

BS Ngô Thế Vinh nhận định rằng: “Đã tới năm 2020, mà vẫn còn một số bài viết mới phát tán trên mạng, và tác giả bài viết ấy chỉ dựa vào con số 16% lượng nước sông Mekong đổ xuống từ Trung Quốc, để bảo rằng ảnh hưởng chuỗi đập khổng lồ Vân Nam là không đáng kể, như một biện minh che chắn cho những việc làm sai trái của Bắc Kinh trên dòng Mekong trong suốt hơn ba thập niên qua.

Xây chuỗi đập bậc thềm Vân Nam, Trung Quốc đã khởi đầu phá hủy sự cân bằng bền vững của toàn hệ sinh thái lưu vực sông Mekong. Dung lượng các hồ chứa Vân Nam ngoài khả năng giữ hơn 30 tỉ mét khối nước [thời điểm 2016], còn chặn lại một trữ lượng rất lớn phù sa không cho xuống tới hạ lưu. Thiếu nguồn nước ngọt, thiếu phù sa lại thêm ngập mặn với nước biển dâng, cả một vùng châu thổ phì nhiêu ĐBSCL, cái nôi của một nền văn minh miệt vườn, có tương lai trở thành một vùng đất chết do sa mạc hóa.”




Các nhận định của BS Ngô Thế Vinh có chính xác hay không? Quan điểm cho rằng Cửu Long cạn dòng không phải do Trung Cộng xây chuỗi đập thủy điện trên thượng nguồn có sai trái hay không? Quan điểm cho rằng ảnh hưởng của chuỗi đập khổng lồ ở Vân Nam là không đáng kể có phải là một biện minh để che chắn cho những việc làm sai trái của Bắc Kinh hay không? Bài viết nầy nhằm mục đích trả lời những câu hỏi đó.

Nguyên tắc thủy học của một đập thủy điện

Thông thường, một đập thủy điện được xây cất để tạo một hồ chứa nước ở phía sau đập, với một chiều cao (thủy thế) đủ để chạy các turbine đặt trong nhà máy phát điện ở chân đập rồi xả nước xuống hạ lưu. Tất cả các đập trên dòng chánh Lancang ở Trung Hoa đều thuộc loại nầy.

Vì lưu lượng tại vị trí đập thay đổi rất lớn tùy theo mùa, nước được trữ trong hồ chứa trong mùa mưa để có thể chạy máy turbine quanh năm. Do đó, các đập thủy điện loại nầy làm lưu lượng của sông tại vị trí đập giảm trong mùa mưa và tăng trong mùa khô.

Một loại đập thủy điện khác, cũng được dùng để tạo hồ chứa nước ở phía sau đập, nhưng với chiều cao đủ để điều hòa lưu lượng tại vị trí đập. Nhà máy điện được đặt trong một lưu vực sông khác, có cao độ thấp hơn cao độ của hồ chứa, để tạo thủy thế cho các turbine của nhà máy điện. Thí dụ điển hình là đập thủy điện Đa Nhim, với hồ chứa Đơn Dương ở cao độ khoảng 1.040 m nằm trên sông Đa Nhim nhưng nhà máy điện Krong Pha thì nằm trong lưu vực Sông Cái (Phan Rang) có cao độ khoảng 250 m.

Một loại đập thủy điện khác không có hồ chứa nước ở phía sau đập gọi là đập dòng chảy (run-of-the-river dam). Đập chỉ xây đủ cao để tạo thủy thế và chỉ sử dụng lưu lượng tự nhiên của sông tại vị trí đập. Tất cả số nước chảy đến đập đều được xả xuống hạ lưu đập qua các máy turbine của nhà máy điện ở chân đập hay các cửa xả lũ. Tất cả các đập trên dòng chánh ở hạ lưu Mekong đều thuộc loại nầy.

Cửu Long cạn dòng vì chuỗi đập Vân Nam?

Dùng con số 16% số lượng nước Mekong đổ xuống từ Trung Hoa chỉ là cách giải thích đơn giản và dễ hiểu để minh chứng chuỗi đập thủy điện khổng lồ ở Vân Nam không làm cho Cửu Long cạn dòng. Tuy không đầy đủ, nhưng cũng không có gì sai.




Có rất nhiều nghiên cứu, dựa trên dữ kiện thủy học đo đạc, cho thấy các đập thủy điện trên thượng nguồn Lancang ở Trung Hoa đã theo đúng các nguyên tắc thủy học của một đập thủy điện có hồ chứa nước ở phía sau: giảm lưu lượng trong mùa mưa và tăng lưu lượng trong mùa khô.

“Dữ kiện đo đạc từ năm 1961 đến 2000 cho thấy rằng việc xây cất và vận hành đập Manwan (Mạn Loan) có ảnh hưởng đáng kể đến tình trạng thủy học, đó là mực nước và lưu lượng, ở trạm thủy học Chiang Saen [Thái Lan], cửa ngỏ của hạ lưu vực Mekong. Việc đóng đập Manwan có thể làm cho mực nước trung bình hàng tháng ở Chiang Saen xuống đến mức thấp nhất trong năm 1992 và 1993.


Đập thủy điện Manwan ở Trung Hoa. [Ảnh: Internet]

Lưu lượng trong mùa khô (tháng 11 đến tháng 4) ở trạm Chiang Saen gia tăng đáng kể sau khi đập Manwan được hoàn tất vào năm 1993… Lưu lượng trung bình hàng tháng trong mùa khô tăng từ 654 m3/sec đến 1.055 m3/sec, hay khoảng 61%.

Lưu lượng trong mùa mưa (tháng 5 đến tháng 10) ở trạm Chiang Saen cũng gia tăng từ năm 1993… Lưu lượng trung bình hàng tháng trong mùa mưa tăng từ 2.744 m3/sec đến 3.511 m3/sec, hay khoảng 21%. Sự gia tăng nầy có thể do lượng mưa rất lớn ở thượng lưu vực trong khoảng thời gian nầy.

Ảnh hưởng thủy học của việc hoàn tất và điều hành đập Manwan không được quan sát ở Châu Đốc và Tân Châu [Việt Nam], hai trạm thủy học cuối nguồn của hệ thống trạm thủy học ở hạ lưu vực Mekong.” [4]




Một nghiên cứu trong năm 2014, sử dụng dữ kiện đo đạc từ 1960 đến 2014, cho thấy việc điều hành các đập thủy điện đã thay đổi lưu lượng của sông từ năm 2011 với mức thay đổi lớn nhất trong năm 2014. Tại Chiang Saen, lưu lượng trung bình hàng tháng gia tăng 121-187% trong tháng 3 đến tháng 5 năm 2014 (mùa khô) và giảm 32-46% trong tháng 7 và 8 năm 2014 (mùa mưa). Tại trạm Kratie ở Cambodia, lưu lượng thay đổi ít hơn với 41-74% gia tăng và 0-6% giảm trong cùng thời gian. [5]

Gần đây nhất, Ủy hội Sông Mekong (Mekong River Commission (MRC)) loan báo mực nước sông Mekong tại các trạm thủy học dọc theo sông Mekong đã xuống đến mức thấp nhất trong lịch sử đo đạc, ngay trong mùa mưa [6]. Từ ngày 14 tháng 6 đến ngày 18 tháng 7 năm 2019, mực nước giảm xuống 0,97 m tại trạm Chiang Saen ở Thái Lan, 5,58 m tại trạm Vientiane ở Lào, và 0,38 m tại trạm Kratie ở Cambodia [6]. Đây có lẽ là bằng chứng vững chắc nhất cho thấy chuỗi đập thủy điện Vân Nam không phải là “thủ phạm” làm cho “Cửu Long cạn dòng”, vì đập thủy điện lớn cuối cùng và có hồ chứa lớn nhất, đập Nuozhadu (Nọa Trác Độ) với dung tích gần 24 tỉ m3 nước, được hoàn tất và đưa vào hoạt động từ năm 2014.


Đập thủy điện Nuozhadu ở Trung Hoa. [Ảnh: Internet]

Chuỗi đập Vân Nam phá hủy toàn hệ sinh thái lưu vực Mekong?

Ngay sau khi phê bình một số tác giả trên mạng “…chỉ dựa vào con số 16% lượng nước sông Mekong đổ xuống từ Trung Quốc để bảo rằng ảnh hưởng chuỗi đập khổng lồ Vân Nam là không đáng kể,” BS Ngô Thế Vinh đã “tự bắn vào chân mình” khi chỉ dùng con số 30 tỉ mét khối dung lượng của chuỗi đập Vân Nam, khoảng 6% số lượng nước hàng năm của sông Mekong, để kết luận rằng “…chuỗi đập bậc thềm Vân Nam, Trung Quốc đã khởi đầu phá hủy sự cân bằng bền vững của toàn hệ sinh thái lưu vực sông Mekong.”

Quả thật là các đập thủy điện lớn có những ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường gồm có các ảnh hưởng trực tiếp đến các đặc tính sinh học, hóa học và vật lý của sông, những vùng đất dọc theo sông (stream-side) ở phía dưới đập, và những vùng đất chung quanh hồ chứa nước. Ảnh hưởng quan trong nhất của chuỗi đập Vân Nam là ngăn chận một số lượng phù sa đáng kể trong các hồ chứa nước.




Theo một nghiên cứu mới nhất của MRC, dựa trên dữ kiện lưu lượng và độ phù sa đo đạc, số lượng phù sa trong sông Mekong từ năm 1961 đến năm 2011-13 giảm từ 71,3 xuống còn 12,8 triệu tấn tại trạm Chiang Saen, giảm từ 112,4 xuống còn 22,8 triệu tấn tại trạm Luang Prabang ở Lào, giảm từ 144,5 xuống còn 91,1 triệu tấn tại trạm Mukdahan ở Thái Lan, và giảm từ 165,8 xuống còn 70,8 triệu tấn tại trạm Pakse ở Lào [7]. Như vậy, chúng ta có thể kết luận rằng chuỗi đập thủy điện ở Vân Nam làm giảm số lượng phù sa trong sông Mekong khoảng 80% khi chảy vào hạ lưu vực ở Chiang Saen, Thái Lan và khoảng 50% ở Pakse, Lào trước khi chảy vào Cambodia.

So sánh số lượng phù sa trong sông Mekong trong năm 1961 (lúc chưa có đập thủy điện) và năm 2011-13 ( đã có chuỗi đập Vân Nam và đập trên phụ lưu ở Thái Lan và Lào), chúng ta thấy số lượng phù sa do các phụ lưu ở hạ lưu vực (94,5 triệu tấn năm 1961 và 58 triệu tấn năm 2011-13) quan trọng hơn số lượng phù sa từ thượng lưu vực (71,3 triệu tấn trong năm 1961 và 12,8 triệu tấn trong năm 2011-13). Đó là chưa kể đến số lượng phù sa từ lưu vực Sekong-Sesan và Sre Pok (3S), được ước tính khoảng 11 triệu tấn/năm. Số lượng phù sa từ lưu vực 3S được ước tính chỉ còn khoảng 1,6 triệu tấn/năm trong khoảng 2011-13, tức giảm khoảng 85%.


Đập thủy điện Hạ Sesan 2 ở Cambodia. [Ảnh: Khmer Times]

ĐBSCL sẽ trở thành vùng đất chết do sa mạc hóa?

Những người hoạt động môi trường thường dùng phương pháp “gieo rắc sợ hãi” để hù dọa quần chúng. Là một “con người xanh của môi sinh” như ông đã xác nhận, BS Ngô Thế Vinh cũng áp dụng phương pháp gieo rắc sợ hãi khi khẳng dịnh rằng: “Thiếu nguồn nước ngọt, thiếu phù sa lại thêm ngập mặn với nước biển dâng, cả một vùng châu thổ phì nhiêu ĐBSCL, cái nôi của một nền văn minh miệt vườn, có tương lai trở thành một vùng đất chết do sa mạc hóa.” [1-3].

ĐBSCL có thể thiếu nguồn nước ngọt của sông Mekong vì nhu cầu sử dụng nước gia tăng ở các quốc gia thượng nguồn, chứ không phải do các đập thủy điện trên dòng chánh Lancang của Trung Hoa, vì các đập thủy điện nầy làm tăng lưu lượng của sông trong mùa khô. Hơn nữa, ĐBSCL còn có những nguồn nước ngọt khác, chẳng hạn như nguồn nước ngầm và nguồn nước biển được khử muối bằng kỹ thuật tiên tiến [8]. Mặc dù số lượng phù sa trong sông Mekong có thể giảm đến 50%, nhưng ĐBSCL có thể sử dụng phân bón để duy trì năng suất nông nghiệp.




ĐBSCL không thể nào bị ngập mặn vì nước biển dâng, nếu nó được bảo vệ bởi một hệ thống đê, tương tự như hệ thống đê ở Hòa Lan. Ngày nay, có khoảng 27% diện tích của Hòa Lan nằm dưới mặt biển và là nơi cư trú của trên 60% dân số 17 triệu của nước nầy [9].

ĐBSCL cũng không thể nào trở thành một vùng đất chết do sa mạc hóa, nếu những tiến bộ kỹ thuật được áp dụng để tiết kiệm nước [8] và canh tác các loại hoa màu và cây cối có sức chịu hạn mặn cao. Với những tiến bộ kỹ thuật nầy, Israel đã biến một phần của sa mạc Negev thành những cánh đồng xanh cho nông nghiệp [10].


Canh tác trong sa mạc Negev ở Israel. [Ảnh: YouTube]

Phần kết luận

Trong một bài viết được đăng tải trên trang mạng của Viet Ecology Foundation và nhật báo Người Việt ở Orange County, California, BS Ngô Thế Vinh quả quyết rằng chuỗi đập thủy điện Vân Nam trên sông Lancang ở Trung Hoa làm cho “Cửu Long cạn dòng”, phá hủy sự cân bằng bền vững của toàn hệ sinh thái lưu vực sông Mekong, và làm cho ĐBSCL bị ngập mặn hay trở thành một vùng đất chết do sa mạc hóa trong tương lai. Sau đó, lên án những ai - cho rằng ảnh hưởng chuỗi đập khổng lồ Vân Nam là không đáng kể - đã biện minh và che chắn cho những việc làm sai trái của Bắc Kinh trên dòng Mekong trong suốt hơn ba thập niên qua.




Nhưng có nhiều nghiên cứu – dựa trên dữ kiện đo đạc từ trước cho đến nay – cho thấy chuỗi đập thủy điện Vân Nam không những không làm cho “Cửu Long cạn dòng”, mà còn làm gia tăng lưu lượng trong mùa khô. Giống như bất cứ dự án phát triển nào, chuổi đập thủy điện Vân Nam có ảnh hưởng đến hệ sinh thái, nhưng chỉ giới hạn ở vùng dự án và ven sông chứ không có ảnh hưởng trên toàn lưu vực. ĐBSCL không thể bị ngập mặn hay trở thành vùng đất chết do sa mạc hóa, nếu ĐBSCL biết áp dụng những tiến bộ kỹ thuật đã được áp dụng trên thế giới để tạo thêm nguồn nước ngọt, ngăn mặn và duy trì năng suất nông nghiệp.

BS Ngô Thế Vinh có quyền “theo một motif hay tư duy cũ mèm là đổ lỗi cho Trung Quốc xây đập trên thượng nguồn xa lắc… rồi chửi bới, đổ lỗi được coi là giải pháp và lòng yêu nước” [11] để lên án những việc làm của Bắc Kinh mà ông cho là sai trái. Nhưng ông không thể lên án những ai cho rằng chuỗi đập khổng lồ Vân Nam không có ảnh hưởng đáng kể là một biện minh để che chắn cho những việc làm sai trái đó, chỉ vì họ đã làm đúng theo lương tâm khoa học: Khoa học không có tình thương mà cũng không có hận thù; khoa học không có vị nễ mà cũng không có bôi bác; khoa học là thẳng thắn, trung thực, và chính xác.

Sơ lược về tác giả

Tác giả nguyên là Kỹ sư Công chánh Chuyên nghiệp (Professional Civil Engineer) của tiểu bang Florida và California. Tốt nghiệp Kỹ sư Công chánh tại Trường Cao đẳng Công chánh, Trung tâm Quốc gia Kỹ Thuật Phú Thọ, Sài Gòn năm 1972. Trưởng ty Kế hoạch, Ủy ban Quốc gia Thủy lợi, Bộ Công chánh và Giao thông, Sài Gòn đến tháng 4 năm 1975. Tốt nghiệp Kỹ sư Công chánh (1983) và Cao học Thủy lợi (1985) tại Đại học Nebraska, Hoa Kỳ. Chuyên viên Thủy học (Hydrlogist) của Sở Quản trị Thủy lợi, Broward County, Florida đến năm 1989. Từ năm 1990 đến 2015, Kỹ sư Giám sát Trưởng (Senior Supervising Engineer) của Stetson Engineers Inc., một công ty cố vấn về thủy lợi và ô nhiễm nguồn nước, thành lập năm 1957 ở Los Angeles. Về hưu từ năm 2016.



© Trân Văn
Chú thích:
[1] Ngô Thế Vinh. Không có ngày tháng. “Vũ khí giải cứu Mekong: Chất xám và tiếng nói.” Viet Ecology Foundation. http://vietecology.org/Article/Article/2380
[2] Ngô Thế Vinh. 23 tháng 3 năm 2020. “Vũ khí giải cứu Mekong: Chất xám và tiếng nói.” Người Việt. https://www.nguoi-viet.com/dien-dan/vu-khi-giai-cuu-mekong-chat-xam-va-tieng-noi/
[3] Lê Quỳnh. 15 tháng 5 năm 2016. “Phỏng vấn Ngô Thế Vinh – người đi dọc 4.800 km sông Mekong.” Người Đô thị. https://nguoidothi.net.vn/phong-van-ngo-the-vinh-nguoi-di-doc-4-800km-song-mekong-3533.html
[4] Quang M. Nguyen, P.E. June 28, 2003. “Hydrologic Impacts of China’s Upper Mekong Dams on the Lower Mekong River.” Mekong Info. http://www.mekonginfo.org
[5] Timo A.Räsänen, et al. February 2017. “Observed river discharge due to hydropower operations in the Upper Mekong Basin.” Journal of Hydrology. https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0022169416308125?via%3Dihub
[6] Mekong River Commission. 18 July 2019. “Mekong water levels reach low record.” Mekong River Commission. http://www.mrcmekong.org/news-and-events/news/mekong-water-levels-reach-low-record/
[7] Lois Koehnken. Julu 2014. Discharge Sediment Monitoring Project (DSMP) 2009-2013. Summary & Analysis of Results. Final Report. Mekong River Commission Secretariat. https://portal.mrcmekong.org/assets/v1/documents/Report-workshop/Technical-Report_DSMP/DSMP-Report-2009_13-Final-Report-July-2014.pdf
[8] Nguyễn Minh Quang. 22 tháng 3 năm 2020. “Ngày Nước Thế giới: Vinh danh Tiến bộ Kỹ thuật Giúp Nhân loại Giải quyết Tình trạng Thiếu Nước.” Mekong – Cửu Long Blogspot. https://mekong-cuulong.blogspot.com/2020/03/ngay-nuoc-gioi-vinh-danh-tien-bo-ky.html
[9] Matt Rosenberg. September 9, 2019. “How the Netherlands Reclaimed Land from the Sea.” ThoughtCo.. https://www.thoughtco.com/polders-and-dikes-of-the-netherlands-1435535
[10] Tourist Israel. Accessed March 26, 2020. “Israel’s Desert Agriculture.” Tourist Israel. https://www.touristisrael.com/israels-desert-agriculture/10334/
[11] Đăng Khoa. 14 tháng 3 năm 2020. “Tình cảnh Mekong: Người Việt nên tự trách mình.” Báo Sạch. https://facebook.com/baochisach/posts/218871886144656

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Post Bottom Ad