Tại sao giáo dục Mỹ số một thế giới? Chỉ có hai từ khóa: TỰ DO! - Tiến Bộ

Breaking

Home Top Ad

Post Top Ad

Thứ Hai, 28 tháng 9, 2020

Tại sao giáo dục Mỹ số một thế giới? Chỉ có hai từ khóa: TỰ DO!


Giáo dục Mỹ, đặc biệt giáo dục đại học, luôn có một hấp lực đặc biệt đối với thế giới. Sự ổn định của hệ thống giáo dục Mỹ đã kéo dài nhiều thập niên và bây giờ nó vẫn là thanh nam châm thu hút tài năng toàn cầu



NHỮNG HẤP LỰC CĂN BẢN


Điều đem lại sự thăng hoa và phát triển ổn định của giáo dục đại học Mỹ chính là cơ chế và (phương pháp) tổ chức. Hệ thống đại học Mỹ ít phụ thuộc vào quản lý nhà nước so với nhiều quốc gia. Họ có thu nhập từ nhiều nguồn, từ giới tư bản từ thiện đến tài trợ doanh nghiệp. Và hệ thống đại học Mỹ cũng đủ cấp độ, từ những trường khổng lồ và có bề dày lừng lẫy như Harvard, Princeton hoặc Yale đến các đại học cộng đồng rất nhỏ như Kalamazoo

70% nhà khoa học giành Nobel hiện làm việc tại các đại học Mỹ. Họ cung cấp khoảng 30% bài nghiên cứu khoa học và có 44% bài nghiên cứu được trích dẫn nhiều nhất (chỉ riêng Phòng thí nghiệm Lincoln của Viện công nghệ Massachusetts đã sử dụng gần 2.400 người và xài 450 triệu USD/năm cho nghiên cứu). Cùng lúc, tỉ lệ dân học giáo dục nâng cao tại Mỹ cũng nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào (1/3 người ở tuổi đại học có bằng đại học thứ nhất và 1/3 trong số đó tiếp tục học để lấy bằng thứ hai hoặc thạc sĩ-tiến sĩ). Xin để ý thêm vài chi tiết: khoảng 20% sinh viên Mỹ đều thuộc gia đình nghèo hoặc dưới mức nghèo; 80% sinh viên phải tự làm thêm để kiếm tiền theo đuổi đại học và hơn 40% sinh viên là người ở độ tuổi 25 trở lên.




Nguyên tắc đầu tiên là vai trò hạn chế của chính phủ trung ương (tức chính phủ liên bang). Mỹ không hề có một kế hoạch chung cho mô hình đại học, theo cách như Pháp hoặc Đức. Hệ thống đại học Mỹ nhận kinh phí từ đủ thành phần, từ các công ty, tổ chức nhà nước, tổ chức phi chính phủ, tổ chức tôn giáo đến nhà từ thiện. Sân trường đại học Mỹ đầy hình ảnh và bóng dáng những nhà từ thiện tỉ phú như Ezra Cornell, Cornelius Vanderbilt, Johns Hopkins, John D. Rockefeller hoặc Bill Gates. Truyền thống đóng góp cho đại học tiếp tục duy trì đến nay. Sự hạn chế vai trò chính phủ liên bang không có nghĩa nhà nước buông lỏng quản lý giáo dục. Rất nhiều điều luật Quốc hội hỗ trợ và nâng cao phát triển hệ thống giáo dục đại học liên tục được cải thiện và chính phủ cũng rót vốn rất mạnh vào nghiên cứu-phát triển.

Lý do thứ hai là tính cạnh tranh khốc liệt. Đại học Mỹ giành giật nhau mọi thứ, từ sinh viên đến giảng viên. Phần mình, giảng viên cũng cạnh tranh nhau để chứng tỏ năng lực nhằm giành tài trợ nghiên cứu từ nhà nước. Trong khi đó, sinh viên cạnh tranh nhau để giành học bổng. Lý do thứ ba là tính hữu dụng thực tế. Khi nghe tin một đồn điền thất bát, một đại học nào đó có thể gửi giáo sư đến tức thì để nghiên cứu thực địa và làm giáo trình giảng dạy cập nhật. Nói cách khác, tư duy tháp ngà là điều tối kỵ trong đại học Mỹ. Do đó, Mỹ là nơi đi đầu trong việc liên kết đại học và công nghiệp. Các đại học Mỹ kiếm được hơn 1 tỉ USD/năm từ tiền bản quyền. Hơn 170 đại học Mỹ có “lò ấp trứng” từ các doanh nghiệp và hàng chục đại học có quỹ hợp tác đầu tư riêng với các ngành doanh nghiệp.


Còn nữa, hệ thống giáo dục đại học Mỹ khuyến khích nghiên cứu đột phá. Không quốc gia nào có nhiều môn nghiên cứu như Mỹ, từ “chewing-gum học” đến “chuyển đổi giới tính học”. Điều này cho thấy tính cởi mở và năng động. Điển hình cho tính năng động là mô hình “đại học hai cấp”. Chỉ khoảng 100 trong 3.200 viện đại học Mỹ là trường đại học (chuyên lĩnh vực) nghiên cứu. Phần còn lại là đại học cộng đồng (ít tập trung nghiên cứu và chương trình đào tạo chủ yếu lý thuyết thường kéo dài hai năm). Sinh viên giỏi có thể học thêm khi đi từ đại học cộng đồng đến đại học nghiên cứu.

Hai chữ cốt lõi: “TỰ DO”

Chính sách tự do trong giáo dục Mỹ dựa vào triết lý căn bản: con người là những thực thể khác nhau, có khả năng khác nhau và tố chất khác nhau. Không có con đường nào là duy nhất để mang lại kiến thức và giáo dục con người. Không có phương pháp và mô hình nào duy nhất để xây dựng và phát triển con người. Thật ra cho đến thập niên 1960 chính phủ liên bang mới bắt đầu “can thiệp” bằng cách đưa ra chính sách chung cho giáo dục nhưng từ đó đến nay chính phủ vẫn không bao giờ kiểm soát tuyệt đối hệ thống vận hành của bộ máy giáo dục. Vai trò đáng chú ý nhất của chính phủ liên bang là tạo ra sự công bằng và bình đẳng trong hệ thống giáo dục; bảo vệ quyền hiến định của học sinh (safeguarding students' constitutional rights; chẳng hạn cấm phân biệt chủng tộc, giới tính, tôn giáo…); và bảo vệ quyền hiến định của giáo viên (giáo chức được bảo vệ khỏi sự ngược đãi nếu có...).




Không ai có quyền thao túng, áp đặt và “chỉ đạo” chính sách giáo dục. Kết quả của sự tự do trong giáo dục Mỹ là họ tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh, giữa các bang, giữa các trường, giữa các giáo viên, giữa những nhà giáo dục học, giữa những người viết sách giáo khoa mà giáo viên có toàn quyền chọn để dạy, thậm chí giữa những nhà lập pháp các tiểu bang. Sự phát triển và thành công của giáo dục Mỹ đặt trên yếu tố thực chứng. Nó được phép thể hiện sự tự do nhiều nhất có thể, miễn nó mang lại kết quả tối ưu trong thực tế. Các mô hình giáo dục được phép thể hiện tự do, miễn cho thấy và chứng minh được mục đích cuối cùng là xây dựng thành công con người.

NHÌN LẠI VIỆT NAM

Chừng nào Việt Nam có những ngôi trường được dùng sách giáo khoa riêng, phương pháp giảng dạy riêng và trường học có những lớp mà học sinh thích đứng hay ngồi tùy ý? Điều quan trọng bây giờ đối với “hệ sinh thái giáo dục Việt Nam”, như cách dùng từ của ông Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ, là sự cần thiết trả lại quyền tự do cho giáo dục. Chỉ bằng tự do cạnh tranh mới có thể mang lại sự đào thải những mô hình giáo dục kém hoàn thiện. Chỉ bằng cạnh tranh trên tinh thần tự do thì mới dẹp được nạn tham nhũng thối nát, từ chạy bằng cấp đến tình trạng độc quyền sách giáo khoa.


Trong bài báo, giáo sư Hoàng Tụy viết: “Căn nhà giáo dục đã cũ nát thảm hại nhưng cứ loay hoay nay cơi nới chỗ này, mai sửa chữa chỗ kia, rốt cuộc thành ra căn nhà dị dạng chẳng ai muốn ở…”.

Hơn 10 năm sau bài viết này, bức tranh giáo dục nước nhà ngày càng bệ rạc và dị dạng gấp nhiều lần. Có lẽ cần bổ sung và “nói thẳng” hơn cả “xin cho tôi nói thẳng”: vấn đề đặc biệt nghiêm trọng và là rào cản lớn nhất của phát triển giáo dục Việt Nam là đảng cầm quyền không ngừng tay bóp nghẹt tự do trong chính sách lẫn điều hành giáo dục. Tạp chí Tia Sáng đã bị đóng cửa vì bài viết nói trên của ông Hoàng Tụy. “Nói thẳng” đã không bao giờ có thể giúp nới ra được bàn tay “siết cổ” giáo dục. “Chức năng” giáo dục đã không được phép tách rời khỏi “nhiệm vụ chính trị” mà các nghị quyết Đảng đặt ra. Muốn bàn về sự cởi trói những khó khăn của giáo dục, trước hết phải nhìn thấy được “mức độ cởi trói” đối với giáo dục, để nó có thể tự do tìm kiếm con đường nào là tốt nhất nhằm thỏa mãn được các mục tiêu cốt lõi của bản chất giáo dục: “Giáo dục cái gì” và “Giáo dục cho ai”.




Ngày 2-9-2020, theo thông lệ thường niên, tổ chức Times Higher Education đã công bố xếp hạng những đại học hàng đầu thế giới. 10 trường đứng đầu trong “World University Rankings 2021” là:

1/ Oxford University (U.K.)
2/ Stanford University (U.S.)
3/ Harvard University (U.S.)
4/ California Institute of Technology (U.S.)
5/ Massachusetts Institute of Technology (U.S.)
6/ Cambridge University (U.K.)
7/ University of California, Berkeley (U.S.)
8/ Yale University (U.S.)
9/ Princeton University (U.S.)
10/ University of Chicago (U.S.)

Gần như trong cùng thời gian, ngày 14-9-2020, tờ U.S. News and World Report cũng công bố bảng xếp hạng “2021 U.S. Best Colleges”. Top five gồm:

1/ Princeton University
2/ Harvard University
3/ Columbia University
4/ Massachusetts Institute of Technology
5/ Yale University


© Mạnh Kim
    TheNewViet

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Post Bottom Ad