Tin Tức Cập Nhật 24/7

Những anh Việt kiều về thăm quê hương



Hôm rồi nhỏ bạn rủ cà phê để giới thiệu mấy anh bạn Việt kiều về thăm quê hương của nó . Nói chuyện trên trời dưới đất một hồi , cũng quẹo sang chính trị chính em . Nghe mấy ảnh kể bạn bè của mấy ảnh phản đối Trupm ra sao … Rồi quay sang việc khen Việt Nam có nhiều thay đổi , dẫn câu nói của một anh Việt kiều :

– Anh về Việt Nam cách đây 10 năm , bây giờ về lại thấy đổi khác nhiều . Việt Nam bây giờ thay da đổi thịt và đẹp hơn trước em ha .

Có lẽ tui cũng được nhỏ bạn giới thiệu sơ cho mấy ảnh , nên có một anh nhìn tui nói :

– Chế độ nào cũng vậy hết em ơi , cũng có tham nhũng , cũng có chuyện tốt chuyện xấu . Em cố gắng chấp nhận để hòa nhập với cuộc sống , ai sao mình vậy đi . Tụi cộng sản này nó ác lắm mình lên tiếng chỉ thiệt cái thân mình thôi em ơi !

Thú thật , lúc đó tui cố kiềm cái mồm để không buột ra tiếng chửi thề . Nhỏ bạn liếc nhìn thấy bản mặt tui lúc đó có lẽ rất khó coi nên nó lật đật lái qua chuyện khác :

– Nó nhờ tui lấy dùm 5 vé đi Vinpearl land , tui nói : giá vé bây giờ 880k/1 người
Mấy anh chàng VK mắt tròn mẹt dẹt , đồng thanh nói :

– Oh sao mắc vậy hả em ? Anh nhớ hồi đó ( hồi năm nẳm ) , anh đi vé có 600k/1người mà .
Tui nói :

-Ở Việt Nam cái giống gì cũng lên hết anh ơi : Điện lên , xăng lên , giá thực phẩm lên , tham nhũng ngày tăng tốc , thì giá vé Vinp có lên cũng là chuyện bình thường mà .

Một anh lật đật xua tay :

– Ok không sao , em cứ đặt mua giúp tụi anh đi .

Tui từ chối luôn :

-Anh cứ ra cảng , xếp hàng rồi mua vé lên cáp treo cũng được , khỏi mất công em đi lấy vé ( thực lòng nếu tui đi lấy vé , thì tui được giảm 25k mỗi vé )

Thấy không khí khá căng , nhỏ bạn tui nói :

– Chiều rảnh , mày đi ăn với tụi tao luôn cho vui .

Một ông chỏ mõm nói :

– Ờ đúng đó , Lai là thổ địa dắt tụi anh đi ăn đi , ăn hải sản nha , anh nghe nói thịt heo đang dịch bệnh đúng không ?

Tui cười cười :

– Ở Việt Nam đến không khí cũng bị ô nhiễm chứ đừng nói đến thịt heo hay các thực phẩm khác , thôi mấy anh cố hòa nhập mà ăn đi chớ có né món này thì trúng độc món khác cũng dzị à . Tui quay sang anh Việt kiều bên cạnh :

– Anh gì đó vừa so sánh chế độ nào cũng có tham nhũng , thì tui cũng xin thưa với anh rằng : – Anh nói không sai , nhưng tham nhũng đến độ làm suy sụp cả đất nước thì chỉ có chế độ cộng sản mà thôi . Anh nói Việt Nam thay da đổi thịt , vậy anh có biết để có những nhà cao tầng mọc lên như nấm , thì có biết bao nhiêu dân oan bị đẩy ra đường sống vất vưởng không ? Anh có biết đằng sau các công trình đó chúng được chia bao nhiêu lợi nhuận không ? Cái anh thấy chỉ là lớp vỏ bên ngoài , còn bên trong mục ruỗng đụng đâu hư đó anh có biết không ? Để có những hình ảnh đẹp rổng tuếch như vậy dân đen tụi tui phải gánh bao nhiêu nợ công anh có biết không ?. Mà Việt Nam đẹp vậy sao mấy anh không quay về ở luôn đi , chứ sống chi bên Mỹ , được hưởng tiền trợ cấp , ăn cơm Mỹ rồi chống lại Trupm thì chả khác gì bọn ăn cháo đá bát cả . Về Việt Nam sống đi anh , về đây sống coi mấy anh còn gáy được bao nhiêu lâu nữa .

Nhỏ bạn tui rối rít :

– Con Lai bạn em tính nó vậy đó , nó thẳng ruột ngựa nên hay nói sảng lắm .

Thấy tội nghiệp cho nhỏ bạn nên tui cáo bận về trước . Chỉ biết khi tui đứng lên đi về ba cha Việt kiều cụp mắt xuống đất , không lão nào dám ngẩng mặt lên để chào tui một tiếng .

Trước khi đi , tui cố thòng thêm 1 câu :

– Em thấy một số Việt kiều hay chửi dân Việt hèn , bây giờ em được hân hạnh nói chuyện với mấy anh . Hii em cũng không biết ai hèn hơn ai nữa .

Nhìn mặt mấy chả lúc đó không khác gì 3 trái cà dái dê ???


Nguyễn Lai - Thân hữu Nha Trang của Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam

PVN không thể quyết định đầu tư sang Venezuela


Mấy hôm nay, báo chí và mạng xã hội sục sôi cho rằng Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đã chi hàng trăm triệu đô la cho dự án Junin 2 ở Venezuela mà chưa được giọt dầu nào và có nguy cơ mất trắng. Dự luận cũng rất bức xúc khi PVN đã chi nhiều tiền vào cái khoản “phi lý” mà báo chí gọi là bonus. Đây là một câu chuyện dài và hệ trọng cần được hiểu rõ ngọn ngành…

PVN không thể quyết định đầu tư sang Venezuela

Việc đầu tư sang Venezuela là chủ trương của Đảng và Chính phủ Việt Nam khi đang còn anh em thân thiết với Venezuela. Đầu tư sang Venezuela hay một số nước khác ngày ấy được coi như những thứ to tát hơn như “an ninh năng lượng”, “ngoại giao anh em”, những thứ hiệp định có đi, có lại, nâng vị thế Việt Nam trên trường quốc tế…

Ngày ấy, Venezuela được coi là một trong những nước có trữ lượng dầu lớn nhất thế giới và có nền kinh tế, chính trị ổn định. Ông Hugo Chavez vừa được bầu lại làm tổng thống (nhiệm kỳ 3). Tuy nhiên, để Chính phủ Venezuela ngày ấy dành cho Việt Nam (chứ không phải cho PVN) lô Junin 2 là cả một nỗ lực ngoại giao lớn của Đảng, Chính phủ, trong đó không thể không nói đến tình cảm đặc biệt của Tổng thống Hugo Chavez dành cho Việt Nam.

Dạo ấy, cứ 2-3 tháng lại có một đoàn cán bộ cấp cao của Đảng và Chính phủ Việt Nam bay sang Venezuela để đàm phán, thương thảo về việc này. Trung Quốc đã phải cho Venezuela hàng tỷ đô la, trong đó viện trợ cho rất nhiều thiết bị quân sự mới có được một lô tương tự như vậy. Vì vậy, liên doanh khai thác dầu khí lô Junin 2 tại Venezuela được coi là dự án tiêu biểu, là điển hình đẹp về “ngoại giao dầu khí” của Việt Nam.

Bởi vậy, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam không dám và không thể tự quyết định điều hệ trọng này mà đây là quyết định của Chính phủ. Một vài tờ báo cho rằng: PVN đã báo cáo sai, lập dự án không chính xác, không thông qua Quốc hội và đã chấp nhận điều khoản cực kỳ phi lý là phải trả “phí tham gia” (bonus) cho Venezuela với mức 1 USD/thùng dầu. Trong vòng 30 tháng, bất kể có dầu hay không, PVN vẫn phải nộp đủ phí này là 584 triệu USD bằng tiền mặt.

Vậy tại sao một dự án có số vốn đầu tư lên tới hàng chục nghìn tỉ đồng không trình Quốc hội mà vẫn được thông qua để triển khai? Tại sao những cái sai đó, phi lý đó của PVN vẫn được Bộ Chính trị, Chính phủ chấp nhận, thông qua và cho PVN chuyển tiền đi mà không một ai phản đối, ngăn cản?

Một ông nguyên bộ trưởng bây giờ mới dám hé miệng bảo rằng: Lúc đó ông chịu những sức ép ghê gớm từ một số người, buộc phải ký Giấy chứng nhận đầu tư cho dự án. Vậy sự trung thực, bản lĩnh, vai trò đảng viên của ông này để đâu? Tại sao phải chịu sức ép để ký thì sai luật, không ký thì đi ngược lại ý kiến chỉ đạo hay ông đã bỏ túi hàng trăm triệu đồng rồi?

Hơn nữa, vai trò giám sát, phản biện của Quốc hội, của các cơ quan có thẩm quyền để ở đâu? Họ ăn lương của ngân sách để làm mỗi việc giám sát mà tại sao lại không làm đúng chức năng, nhiệm vụ?

Vụ việc này là câu hỏi lớn về thể chế xã hội Việt Nam lỏng lẻo và sự vô trách nhiệm với đất nước, với nhân dân của các vị chóp bu ngày đó. Vụ việc cũng cho thấy rõ thiếu một cơ quan giám sát độc lập, các chức năng phản biện của các cơ quan nhà nước gần như bằng không… Nếu đưa vụ này ra ánh sáng thì Tổng Bí thư và Thủ tướng … thời đó không thể vô can… Đây là lỗi của cả hệ thống, lỗi của thế chế không minh bạch và hoàn thiện theo kiểu “cha chung không ai khóc”…

Về khách quan mà nói: Dự án Junin 2 ở Venezuela, Việt Nam đã gặp phải rủi ro lớn mà không ai ngờ tới: Tổng thống Chavez chết đột ngột do căn bệnh ung thư khi mới 58 tuổi, chính trị Venezuela đảo lộn, giá dầu giảm mạnh, lạm phát phi mã của đồng nội tệ, tỷ giá ngoại tệ chênh lệch lớn… Đây là nguyên nhân chính khiến dự án này lâm vào tình trạng như hiện nay…

Vì vậy, chúng ta nên công bằng, phân tích vụ việc này trong bối cảnh chính trị, kinh tế, xã hội lúc đó bằng những hiểu biết kiến thức kinh tế, ngoại giao, chính trị, không nên viết theo kiểu hội đồng và “dậu đổ bìm leo”…


FB Trần Thị Sánh

Góc nhìn: Từ mắm Việt đến "bếp ăn thế giới"


Tôi chợt khựng lại khi vị giáo sư già đặt câu hỏi: "Đâu là khác biệt của phở, so với món mì Nhật Bản và Trung Quốc?"...

Một nhà thùng nước mắm. Bản sắc ẩm thực Việt sẽ trở lên cá tính và khác biệt hơn nếu chúng ta biết kể những câu chuyện dung dị và hấp dẫn về những giọt nước mắm - chắt chiu tinh túy từ biển cả.

Vài năm trước, thông qua sự giới thiệu của một vị giáo sư già khả kính, tôi có hướng dẫn đoàn sinh viên Đại học Harvard (Mỹ) đến Việt Nam với đề tài nghiên cứu "Phở và cơ hội thị trường quốc tế".

Thái độ làm việc của nhóm hết sức nghiêm túc và cởi mở, họ luôn có góc nhìn sắc sảo của những công dân toàn cầu. Các em không mất quá nhiều thời gian để nghiên cứu sản phẩm, bởi phở Việt Nam đã thành danh trên thế giới. Ngay cả tên gọi phở cũng đã được quốc tế hóa, thay vì dịch một cách thô kệch "mì nước Việt Nam" như vài năm trước đó.

Nếu như không có mắm...

Sau hơn hai tuần nghiên cứu, chúng tôi có một buổi thảo luận nhóm. Với tư cách chuyên gia marketing, tôi có thể góp ý với các em cách xây dựng chiến lược marketing, về phân tích thị trường, về khách hàng tiềm năng, về đối thủ cạnh tranh, và về lợi thế cạnh tranh của phở một cách khá thoải mái - giống như công việc thường ngày tôi vẫn làm với khách hàng trong 20 năm qua.

Nhưng, tôi chợt khựng lại khi vị giáo sư già đặt câu hỏi: "Đâu là khác biệt của phở, so với món mì Nhật Bản và Trung Quốc?". Tôi ngập ngừng: "Phở có từ gốc gạo", ông lắc đầu "Không hẳn, Trung Quốc cũng có mì từ gạo".

Tôi đã phải nợ câu hỏi đó hơn một năm, thậm chí, tôi đã đỏ mặt khi đọc lời cám ơn của nhóm sinh viên khi họ nhắc tên tôi trong bản báo cáo.

Và câu trả lời chỉ có, khi tôi có cơ hội nói chuyện với một bếp trưởng nổi tiếng đất Hà Thành, với điều được rút ra là, không chỉ phở, mà đồ ăn Việt ngon, vì mắm! Tôi vẫn nhớ ánh mắt đầy kiêu hãnh của anh khi khẳng định: "Không có mắm, mà đồ ăn Việt sẽ khó tròn vị".

Mắm với người Việt xứng đáng có vị trí cốt lõi trong hồn cốt ẩm thực Việt, giống như phô mai với người châu Âu, như nước tương của người Nhật Bản, để mang lại umami - "vị của ngon" theo tiếng Nhật. Được coi là vị thứ 5, bên cạnh ngọt, chua, đắng, mặn, umami được coi như vị tinh tế nhất, kết nối và "kích" các vị còn lại cho mỗi món ăn thêm đậm đà. Umami có thể làm mềm lưỡi những thực khách khó tính ở nhà hàng 5 sao, và cũng đưa cơm cho kẻ nghèo khó. Umami được hình thành nhiều nhất trong quá trình lên men của chất đạm. Phô mai, lên men từ sữa, nước tương - lên men từ đậu nành, và mắm - lên men từ cá và ruột cá.

Chính nhờ sự khác biệt và đặc trưng này, mà tô phở trở nên rất Việt - quyến rũ dịu dàng, mềm mại và duyên dáng, khác với tô mì Nhật. Nói không quá, mắm cũng giống như tà áo dài thướt tha, để mỗi người con gái Việt khoe vòng eo một cách duyên dáng, khác hẳn người con gái Nhật kín đáo trong bộ đồ kimono.

"Chỉ vì yêu một bờ môi"

Ẩm thực là ngành công nghiệp đặc thù, không chỉ mang lại doanh thu lớn và sự phát triển bền vững - riêng mảng nhà hàng đã đạt con số gần 4.000 tỷ USD trên toàn cầu năm 2018, mà còn là "quyền lực mềm" của mỗi quốc gia, nơi mỗi đất nước khéo léo chiếm trái tim thực khách một cách ngọt ngào qua con đường dạ dày.

Trong suốt thời kỳ khủng hoảng kinh tế 2008-2010, các nhà kinh tế học Mỹ đã phát hiện một hiện tượng đáng khâm phục: trong khi mọi ngành nghề kinh tế đều suy thoái, thì doanh thu các chuỗi nhà hàng Nhật vẫn phát triển mạnh mẽ. Vì lẽ đó, các quốc gia đã không tiếc công sức quảng bá cho hồn cốt ẩm thực của mình bằng mọi cách sáng tạo nhất có thể. Khi các đại sứ Mỹ cặm cụi làm món gà chiên và hamburger trong nhiều cuộc gặp gỡ ngoại giao, thì Tổng thống Pháp Charles De Gaulles đã khéo khoe phô mai Pháp với lời ta thán đầy kiêu hãnh, "làm sao có thể quản lý được một đất nước có 246 loại phô mai".

Khi chúng ta từng ước mơ đưa Việt Nam thành "bếp ăn của thế giới", thì mắm - hồn cốt ẩm thực Việt vẫn chịu phận long đong, vì chưa được quan tâm một cách đúng đắn. Nằm trong khu vực Đông Nam Á - trung tâm sản xuất mắm, chúng ta có niềm tự hào về truyền thống làm mắm lâu đời. Nhưng trên thị trường quốc tế, nhiều chai mắm nhãn hiệu Phú Quốc lại đang được sản xuất và tiếp thị bởi các doanh nghiệp Thái Lan.

"Cưới một cô gái, chỉ vì yêu một bờ môi" - câu thành ngữ này như một ẩn dụ đắt giá, gợi ý cho chúng ta cách xây dựng thương hiệu của ẩm thực Việt trong lòng thực khách quốc tế thông qua mắm. Tôi tin rằng, bên cạnh những ấn tượng về ngon và lành của món ăn Việt, mắm và chiều sâu lịch sự và văn hóa của nó, sẽ là những điều đọng lại trong tâm trí khách hàng, để họ thêm hiểu, thêm yêu ẩm thực Việt. Bản sắc ẩm thực Việt sẽ trở lên cá tính và khác biệt hơn nếu chúng ta biết kể những câu chuyện dung dị và hấp dẫn về những giọt nước mắm - chắt chiu tinh túy từ biển cả.

Dự thảo "Quy phạm thực hành sản xuất nước mắm" do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đưa ra gần đây đã gây ra một làn sóng dư luận chưa từng có. Nhưng dưới góc độ của người làm thị trường, tôi nhận thấy, đó cũng có thể coi là một cuộc khảo sát thị trường chưa từng có, mang lại kết quả rất đáng chú ý liên quan đến vị thế của mắm trong văn hóa ẩm thực Việt. Điều này sẽ là nền tảng vững chắc cho ước mơ xây dựng ẩm thực Việt qua câu chuyện về mắm.

Tôi cũng tin rằng, sẽ tốt đẹp hơn nhiều, nếu các doanh nghiệp lớn, hay các đại gia nào đó, hợp tác một cách hiệu quả với những nhà sản xuất mắm truyền thống. Sự hợp tác này, vừa phát huy được sức mạnh truyền thống, vừa được cổ vũ bởi công luận, và nhờ cách làm thị trường chuyên nghiệp của các doanh nghiệp lớn, sẽ mang lại kết cục cùng thắng giữa các bên. Nó sẽ góp phần đẩy mắm lên một tầm cao mới, để tiến ra thị trường quốc tế như một sứ giả hiên ngang của ẩm thực và văn hóa Việt.

* Tác giả bài viết là Giám đốc Công ty Tư vấn phát triển thị trường Mancom.


Ngô Trọng Thanh
VnEconomy

Đằng sau ‘Bộ Công an xây dựng dự án Luật Biểu tình’ là gì?


Hoặc cho dù Luật Biểu tình có được thông qua trong năm 2019 hoặc năm 2020, thì với những nội dung dự thảo luật chỉ siết không mở của Bộ Công an, thậm chí còn có thể hợp thức hóa cho hành vi của các ‘lực lượng công quyền’ đánh đập tra tấn người dân một cách côn đồ và lưu manh, sẽ chẳng có bất kỳ ích lợi nào cho người biểu tình ở Việt Nam, nếu không muốn nói là những cuộc biểu tình dân sinh có thể sẽ bị chế độ công an trị dìm trong biển máu.

Người biểu tình chống hai dự luật an ninh mạng và đặc khu kinh tế bị trấn áp.

Quyền biểu tình của người dân Việt Nam đã mang trên mình một món nợ thời gian khủng khiếp: hơn một phần tư thế kỷ ma mị kể từ Hiến pháp 1992 mà không lộ hình một chút thiện tâm nào, dù chỉ là loại thiện tâm ảo ảnh.

Lại mồi nhử nhân quyền để mặc cả thương mại

Tháng 3 năm 2019, chính phủ của thủ tướng ‘Cờ Lờ Mờ Vờ’ Nguyễn Xuân Phúc một lần nữa lấp ló: “Thực hiện các văn bản chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quốc hội và Chính phủ, Bộ Công an đang tiếp tục phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan nghiên cứu lý luận, cơ sở pháp lý và tổ chức khảo sát thực tế tại các đơn vị, địa phương để nghiên cứu, xây dựng dự án Luật Biểu tình bảo đảm thực thi quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, tránh các thế lực thù địch lợi dụng biểu tình để gây rối mất trật tự, chống phá Đảng, Nhà nước ta”.

Một lần nữa trong quá nhiều lần bộ luật quyền dân này bị chính phủ từ thời ‘nắm chắc ngọn cờ dân chủ’ của Nguyễn Tấn Dũng đến ‘liêm chính, kiến tạo, hành động’ của Nguyễn Xuân Phúc, cùng ‘cơ quan dân cử tối cao’ là Quốc hội lợi dụng như một thứ mồi nhử nhân quyền để mặc cả thương mại với Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu - liên quan đến TPP (Hiệp định Đối tác kinh tế Xuyên Thái Bình Dương) vào những năm 2014 - 2016, và EVFTA (Hiệp- định Thương mại tự do châu Âu - Việt Nam) đang trong giai đoạn ‘chuẩn bị ký kết’ vào những năm 2018 - 2019.

Hoàn toàn không phải ngẫu nhiên hay vì thành ý mà chính phủ Nguyễn Xuân Phúc và Bộ Công an tái hiện hình dự án Luật Biểu tình vào lần này.

Một dấu hiệu xuống thang

Nếu yêu cầu của TPP và Hoa Kỳ trong những năm trước về Việt Nam cần có Luật Biểu tình chỉ có vai trò phụ và thứ yếu trong TPP và do đó chính thể độc đảng ở Việt Nam đã chẳng phải làm gì ngoài những lời ‘hứa cuội’, thì vào lần này con đường dẫn tới EVFTA là chông gai và khốn khổ hơn hẳn đối với chính thể đang khốn quẫn này: vào giữa tháng 11 năm 2018, lần đầu tiên Nghị viện châu Âu tung ra một bản nghị quyết lên án Việt Nam vi phạm nhân quyền với nội dung rất rộng và sâu, lời lẽ rất cứng rắn, với một trong những đòi hỏi dứt khoát là Việt Nam phải có Luật Biểu tình; và vào tháng 2 năm 2019, Hội đồng châu Âu đã thẳng tay quyết định hoãn vô thời hạn việc phê chuẩn EVFTA, với nguồn cơn thực chất là tình trạng vi phạm nhân quyền ở Việt Nam quá trầm trọng và chẳng có gì được cải thiện, khiến chính quyền Việt Nam ‘mất ăn’ khi tưởng như đã nuốt trôi mọi thứ.

Cùng thời gian trên, Việt Nam còn phải đối mặt với cuộc đối thoại nhân quyền EU - Việt Nam vào đầu tháng 3 năm 2019 và hai cuộc điều trần nhân quyền - một do Ủy ban Chống tra tấn của Liên hiệp quốc, và một do Ủy ban Nhân quyền của Liên hiệp quốc tổ chức. Toàn bộ các cuộc đối thoại và điều trần đều nhắm vào tình trạng vi phạm nhân quyền quá tồi tệ ở Việt Nam.

Hơn bao giờ hết, nhân quyền đã trở nên điều kiện cần và là điều kiện số 1 trong EVFTA - điều mà giới chóp bu Việt Nam không hề mong muốn nhưng cuối cùng đã xảy ra. Không phải ngẫu nhiên mà việc hoãn vô thời hạn EVFTA theo quyết định của Hội đồng châu Âu dựa vào một trong những căn cứ chính là bản kiến nghị yêu cầu hoãn EVFTA của 18 tổ chức xã hội dân sự độc lập ở nước ngoài và tại Việt Nam.

Vào tháng Giêng năm 2019, bất chấp thái độ nôn nóng muốn thúc đẩy nhanh thủ tục hiệp định này của một số nghị sĩ, Phòng Thương mại châu Âu (Eurocharm) và doanh nghiệp châu Âu, cùng sự vận động ráo riết của giới quan chức Việt Nam, Bernd Lange - Chủ tịch Ủy ban Thương mại Quốc tế của Quốc hội EU - tuy là người được xem là ôn hòa, đã phản ứng cứng rắn hiếm thấy: “Nếu không có tiến bộ nào về nhân quyền, và đặc biệt là quyền của người lao động, thì sẽ không có bất cứ hiệp định nào được Quốc Hội Châu Âu thông qua hết.”

Và ngay sau cuộc đối thoại nhân quyền EU - Việt Nam, ông Umberto Gambini - một quan chức quan trọng của EU - đã xác nhận chính thức về việc EVFTA phải chờ nghị viện mới của châu Âu khi nghị viện này được bầu lại vào tháng 5 năm 2019. Xác nhận này đã đóng dấu chấm hết cho hy vọng của Thủ tướng Phúc, Bộ Chính trị và chính thể độc đảng chỉ muốn ‘ăn sẵn’ khi ‘mong EU linh hoạt ký kết và phê chuẩn EVFTA trong quý 1 năm 2019’.

Bây giờ thì đã rõ mồn một, nếu vẫn không chịu cải thiện nhân quyền, tương lai của EVFTA sẽ chính là kịch bản tồi tệ nhất, đen tối nhất cho nền chính thể độc đảng độc trị ở Việt Nam mà đang quá cần ngoại tệ để trả nợ nước ngoài. Không có bất kỳ bảo chứng nào hay chữ ký nào của những người tiền nhiệm, các thành viên mới của Nghị Viện Châu Âu mới sẽ thật khó để tìm ra lý lẽ dù thuyết phục khiến họ mau chóng gật đầu với EVFTA, để khi đó chủ đề ‘đàm phán EVFTA’ sẽ phải nhai lại từ đầu.

Thông tin chính phủ giao “Bộ Công an nghiên cứu, xây dựng dự án Luật Biểu tình” ló ra vào tháng 3 năm 2019 có thể được xem là phản ứng xuống thang đầu tiên của ‘đảng và nhà nước ta’ trước EU kể từ cuối năm 2016 đến nay, sau sự kiện tiếp đón Tổng thống Mỹ Barak Obama tại Hà Nội vào giữa năm 2016 và nhận được món quà Mỹ gỡ bỏ toàn phần lệnh cấm bám vũ khí cho Việt Nam mà Hà Nội chẳng phải làm gì về cải thiện nhân quyền để có qua có lại.

Nhưng ‘cải thiện nhân quyền’ như thế nào với một chính thể công an trị?

Bộ Công an ‘làm luật’ theo cách nào?

Có một sự thật hết sức trớ trêu ở Việt Nam là vào năm 2011, thủ tướng khi đó là Nguyễn Tấn Dũng đã giao cho Bộ Công an - cơ quan bị xem là ‘công an trị’ và chuyên trấn áp, đàn áp những cuộc xuống đường vì môi sinh môi trường của người dân, ‘chịu trách nhiệm soạn thảo Luật Biểu tình’.

Kể từ đó đến nay, đã quá nhiều lần Bộ Công an thập thò bộ luật này vào mỗi lúc mà chế độ độc trị phát hiện ra triển vọng một hiệp định thương mại quốc tế - hoặc TPP, hoặc Hiệp định thương mại Việt - Mỹ, hoặc EVFTA. Nhưng sau khi đã ‘ăn đủ’ hoặc cám cảnh vì ‘mất ăn’, đã quá nhiều lần cơ quan bộ này yêu cầu hoãn Luật Biểu tình khi nại ra lý do: “Trong quá trình soạn thảo có một số nội dung phát sinh cần tiếp tục đầu tư thời gian, công sức nghiên cứu kỹ lưỡng, thấu đáo, khảo sát thực tiễn và tham khảo kinh nghiệm quốc tế như khái niệm “biểu tình,” “quyền tự do biểu tình,” “nơi công cộng,” “tụ tập đông người”…; phạm vi điều chỉnh của dự thảo luật (có bao gồm cả việc tổ chức mít-tinh, biểu tình do Đảng, Nhà Nước, các tổ chức chính trị xã hội tổ chức; việc khiếu kiện đông người, đình công, bãi công, bãi thị, bãi khóa hay không); vấn đề áp dụng các biện pháp trấn áp tương xứng, có hiệu quả đối với hành vi lợi dụng biểu tình vi phạm pháp luật; trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong việc giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình biểu tình…”

Một luật gia cho rằng đã có đủ căn cứ để thấy rằng việc cố tình kéo dài thời gian soạn thảo dự luật biểu tình của Bộ Công an là hành vi tắc trách công vụ, vi phạm vào Điều 4 của nghị quyết điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2015 do chủ tịch Quốc Hội ký ban hành tại kỳ họp thứ 7, Tháng Sáu, 2014.

Trong khi đó và chẳng cần đến luật biểu tình chưa biết khi nào mới được 500 đại biểu Quốc hội đồng gật, từ năm 2007 đã diễn ra nhiều cuộc tuần hành và tọa kháng của dân oan đất đai. Năm 2011 đã làm nên dấu mốc lịch sử bởi hàng ngàn trí thức, nhân sĩ và người dân đã tổ chức hàng chục cuộc xuống đường để phản đối Trung Quốc, cùng truy vấn thái độ im lặng đầy khuất tất của đảng cầm quyền và chính phủ trước một bí mật bắt đầu bị hé lộ: Hội nghị Thành Đô năm 1990.

Ở Sài Gòn, hai cuộc biểu tình mang tính “kinh điển” vào tháng Năm 2014 phản đối giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc đã lên đến hàng chục ngàn người, và cuộc tổng biểu tình lên đến hàng trăm ngàn người phản đối hai dự luật Đặc khu và An ninh mạng vào tháng Sáu năm 2018 mà đã khiến toàn bộ lực lượng công an, dân phòng, quân đội bất động.

Những năm gần đây, phong trào bất tuân dân sự đang lớn mạnh và khởi sắc hẳn. Cuộc trước là nguồn cảm hứng cho cuộc sau. Từ các cuộc biểu tình phản đối chặt hạ cây xanh và tổng đình công của công nhân một số tỉnh Nam Bộ vào năm 2015 đến phong trào biểu tình phản đối Formosa của người dân miền Trung vào năm 2016 và 2017, cánh lái xe liên tiếp phản đối các trạm BOT thu phí và phản kháng dân sự đối với chính quyền suốt từ năm 2017 đến nay.

Đói quá lâu sẽ hết đói. Cuối cùng, bánh vẽ Luật Biểu tình đã công nhiên trở thành một thứ phế thải. Cuối cùng, người dân Việt Nam đã tự động xuống đường mà bất cần một khung luật nào cho phép. Trong cơn phẫn nộ và bế tắc tận cùng, trong nỗi thất vọng vượt quá giới hạn trước một chế độ đặc trưng quá tham nhũng, độc đoán và khiến phát sinh đủ thứ hậu quả xã hội trầm kha, ngày càng có thêm nhiều người dân vượt qua nỗi sợ của mình để bước ra đường, mở miệng và thét to những gì họ muốn.

Đến lúc này, mọi chuyện đã quá muộn đối với chính thể. Quá muộn để “lấy lại lòng tin của nhân dân”.

Cũng quá muộn để ‘nghiên cứu xây dựng’ và ban hành Luật Biểu tình.

Tại sao không phải Bộ Nội vụ?

Về thực chất, đằng sau động thái chính phủ giao Bộ Công an nghiên cứu xây dựng Luật Biểu tình chỉ là sự tiếp nối của một chuỗi động tác đối phó và ma mị nhằm đạt được mục tiêu ký kết và phê chuẩn EVFTA ngay trong năm 2019. Mà chưa có gì được xem là ‘thành tâm’.

Nhưng thủ đoạn trí trá, giảo hoạt và lươn lẹo ấy lại luôn là một sai lầm về sách lược của ‘đảng và nhà nước ta’.

Bởi lẽ đơn giản là với một Bộ Công an - còn được biệt danh là ‘bộ đàn áp nhân quyền’, quá tai tiếng về đàn áp biểu tình và vô số vấn nạn tra tấn người dân - việc giao cho bộ này làm Luật Biểu tình, trong khi đúng ra phải giao cho Bộ Nội vụ, là quá bất hợp lý, chẳng khác nào ‘giao trứng cho ác’ và tiếp thêm một mồi lửa thách thức EU và các chính phủ tiến bộ trên thế giới.

Hoặc cho dù Luật Biểu tình có được thông qua trong năm 2019 hoặc năm 2020, thì với những nội dung dự thảo luật chỉ siết không mở của Bộ Công an, thậm chí còn có thể hợp thức hóa cho hành vi của các ‘lực lượng công quyền’ đánh đập tra tấn người dân một cách côn đồ và lưu manh, sẽ chẳng có bất kỳ ích lợi nào cho người biểu tình ở Việt Nam, nếu không muốn nói là những cuộc biểu tình dân sinh có thể sẽ bị chế độ công an trị dìm trong biển máu.


Phạm Chí Dũng
Blog VOA

Bộ Chính trị - Nhân tai ‘chưa bao giờ như thế này’!


Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) lại khuấy động dư luận khi 11/13 dự án đầu tư của PVN ở Venezuela, Peru, Mexico, Congo, Iran, Malaysia, Myanmar, Cambodia, Nga, hoặc mất sạch vốn, hoặc thua lỗ nên giữa chừng phải tìm cách chuyển nhượng (1).

Giàn khai thác của PetroVietnam tại mỏ Bạch Hổ. Hình minh họa. (Ảnh: PVN

Trong 11 dự án mất vốn, thua lỗ, dự án Junin 2 đang làm cả công chúng lẫn báo giới sôi sùng sục. Junin 2 là tên một dự án đầu tư tại Venezuela, trị giá 12,4 tỉ Mỹ kim. Năm 2010, PVN cam kết góp 40%, liên doanh giữa PVN và Venezuela sẽ vay 60% còn lại.

Giữa năm 2013, PVN quyết định “bỏ của chạy lấy người” sau khi đã góp 90 triệu Mỹ kim và đóng 442 triệu Mỹ kim cho cái gọi là “phí tham gia hợp đồng” (hoa hồng). Tổng số tiền PVN làm mất trong Junin 2 là 532 triệu Mỹ kim (2).

Mãi tới bây giờ, công chúng và báo giới mới xem việc PVN đầu tư vào các dự án thăm dò – khai thác dầu khí ở nước ngoài giống như thiêu thân lao vào lửa. Càng ngày càng nhiều người, nhiều giới chất vấn hệ thống công quyền rằng họ đã làm gì, ở đâu (3)?

Những câu hỏi như: Tại sao cộng đồng quốc tế đồng loạt cảnh báo về những rủi ro khi đầu tư vào Venezuela mà PVN vẫn lao vào, thậm chí còn chi 442 triệu Mỹ kim “hoa hồng” để được tham gia canh bạc mà không ai thèm chơi? Tại sao Bộ Kế hoạch – Đầu tư, Bộ Tài chính chỉ cảnh báo mà không tích cực ngăn chặn trong khi Junin 2 ngốn đến 20% Quỹ Dự trữ ngoại tệ quốc gia? Tại sao đến 2013 mới quyết định tạm dừng việc đổ thêm vốn vào Junin 2?... đang dậy lên như bão.

Bộ Công an Việt Nam vừa cho biết, họ mới yêu cầu PVN cung cấp toàn bộ hồ sơ liên quan đến dự án Junin 2 để điều tra (4). Ông Nguyễn Vũ Trường Sơn, cựu Tổng Giám đốc PVEP (Tổng Công ty Thăm dò Khai thác dầu khí), doanh nghiệp thay mặt PVN làm chủ đầu tư vào Junin 2, mới vừa từ chức Tổng Giám đốc PVN (5). Dẫu quyết định đầu tư vào Junin 2 đã được xác định là sai lầm, phải sửa bằng cách tạm ngưng đầu tư từ 2013 nhưng ông Sơn vẫn được qui hoạch làm lãnh đạo PVN!

Chuyện ông Sơn đột nhiên từ chức Tổng Giám đốc PVN và ngay sau đó, Bộ Công Thương công bố các thông tin, chính thức xác nhận những dự án mà PVN đã đầu tư bên ngoài Việt Nam là một thứ thảm họa đối với kinh tế quốc gia ở cả hiện tại lẫn tương lai, Bộ Công an loan báo sẽ điều tra,… mở đường cho đủ loại ý kiến chỉ trích. Chẳng riêng ông Sơn, những viên chức hữu trách trong nội các Nguyễn Tấn Dũng cũng bị tấn công vì đã không chu toàn “vai trò mà nhân dân kỳ vọng”.

Trên các phương tiện truyền thông chính thức, báo giới Việt Nam bắt đầu dẫn tâm sự của một số viên chức hữu trách, tiết lộ họ đã từng lên tiếng can gián, song những phân tích, cảnh báo về Junin 2 của họ bị vứt vào sọt rác. Có cựu bộ trưởng than, ông ta bị một số người ép, cuối cùng phải ký “Giấy Chứng nhận đầu tư” cho PVN đổ tiền vào Junin 2 dù quyết định đầu tư ấy phạm pháp bởi không thông qua Quốc hội. Giải pháp duy nhất mà ông bộ trưởng này có thể làm để tránh vạ là viết báo cáo gửi Bộ Chính trị (6).

Bộ Chính trị có làm gì không? Không! Bộ Chính trị không hề làm gì cho dù PVN qua mặt Quốc hội. Cuối cùng, không ai cản được PVN cam kết trả cho Venezuela “hoa hồng” là 1 Mỹ kim/thùng dầu, trong vòng 30 tháng, bất kể có tìm được thùng dầu nào hay không, PVN vẫn trả đủ cho Venezuela khoản “hoa hồng” là 584 triệu Mỹ kim bằng… tiền mặt. Thậm chí liên doanh thăm dò – khai thác dầu khí giữa PVN và Venezuela chưa chào đời, PVN đã chuyển cho Venezuela 300 triệu Mỹ kim…

Trước những tổn thất khổng lồ, những khoản nợ kèm lãi tuy chưa rõ ràng nhưng chắc chắn sẽ hết sức nặng nề cho quốc gia, nhiều người, nhiều giới, kể cả báo giới mới chỉ xoáy vào trách nhiệm của một số cơ quan (Bộ Kế hoạch – Đầu tư, Bộ Tài chính,…), tổ chức (PVN, PVEP,…), cá nhân (Đinh La Thăng, Nguyễn Vũ Trường Sơn,…) mà quên vai trò của Bộ Chính trị. Bộ Chính trị không chỉ màng đến cảnh báo của các viên chức hữu trách mà còn là tác nhân khai phá, mở đường cho PVN đem hàng tỉ Mỹ kim đi vứt.

***

Trong vài năm vừa qua, thiên hạ đã nói xa, nói gần về những dự án đầu tư ra nước ngoài để mua thảm họa của PVN song không có viên chức hữu trách nào của hệ thống chính trị, hệ thống công quyền Việt Nam thèm trả lời. Cho dù biết rất rõ PVN mất trắng 532 triệu Mỹ kim khi đầu tư vào Junin 2, chưa kể hàng chục dự án đầu tư khác rơi vào tình trạng “dở sống, dở chết”, chẳng khác gì đem hàng tỉ Mỹ kim đi rải ở nước ngoài từ 2013 nhưng tháng 7 năm 2015, Bộ Chính trị vẫn ban hành Nghị quyết 41/NQ-TW.

Nghị quyết 41-NQ/TW là định hướng của giới lãnh đạo đảng CSVN về “Chiến lược phát triển ngành Dầu khí đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2035”. Theo đó, PVN tiếp tục được khuyến khích đầu tư ra nước ngoài. Nghị quyết 41-NQ-TW xác định sẽ “xây dựng hành lang pháp luật đặc thù nhằm tăng quyền chủ động cho PVN, nhất là quyền tự quyết định, tự chịu trách nhiệm đi đôi với kiểm tra, giám sát; về cơ chế đầu tư ra nước ngoài” và sẽ “bảo đảm nguồn vốn cho PVN thực hiện các mục tiêu chiến lược”.

Chẳng riêng PVN, nhiều tập đoàn, tổng công ty nhà nước cũng được khuyến khích đầu tư ra nước ngoài. Một thống kê được công bố hồi giữa năm ngoái (2018) cho biết, tính đến cuối năm 2016, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước đã đem bảy tỉ Mỹ kim ra nước ngoài đầu tư và khoảng 30% dự án đang trong tình trạng thua lỗ, hiệu quả sử dụng vốn của phần lớn dự án rất thấp, chưa kể nhiều dự án đối diện với dủ loại rủi ro về pháp lý, thị trường (7).

Đã có khá nhiều người, kể cả đại biểu Quốc hội từng tỏ ra bất an, từng đòi hệ thống công quyền Việt Nam cho biết cặn kẽ hơn về hiệu quả đầu tư ra nước ngoài của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước nhưng không có hồi âm. Phong trào đầu tư ra nước ngoài của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước vẫn được dùng như một thứ trang sức để minh họa cho sự “tài tình, sáng suốt” của Bộ Chính trị trong quá trình thực thi quyền lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối tại Việt Nam. Những dự án đầu tư của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước ra nước ngoài còn được sử dụng để chứng minh “cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín của đất nước chưa bao giờ được như ngày nay”. Chi phí sắm phương tiện chứng minh dẫu mắc nhưng Bộ Chính trị, Tổng Bí thư đâu có trả.

Trân Văn
Blog VOA

Những cái chết oan ức


Một trong bốn nghi can bị bắt trong vụ giết người hàng loạt tại Tân Tây Lan (New Zealand) vào thứ Sáu vừa qua là một người Úc tên Brenton Tarrant, mà Thủ tướng Úc Scott Morrison nhận diện là thành phần “khủng bố cực hữu”. Cuộc bắn giết mà được gọi là khủng bố này làm cho cả nước Tân Tây Lan, nước Úc và toàn thế giới bàng hoàng, bởi nhiều lẽ.

Thắp nến tưởng niệm nạn nhân vụ thảm sát ở New Zealand.

Một, Tân Tây Lan là một nước hiền hòa, bạo lực không phải là không có nhưng rất hiếm. Hiền hòa đến độ cảnh sát Tân Tây Lan có khi không cần đeo súng trong lúc thi hành công vụ. Bởi nó không cần thiết.

Hai, trong lịch sử cận đại của Tân Tây Lan chưa có cuộc tàn sát nào gây thương vong ở tầm mức này. Cho đến nay có 50 người chết, khoảng 40 người bị thương, được chính thủ phạm quay trực tuyến sống (live online), để rồi nữ Thủ tướng Jacinta Ardern phải xác nhận rằng đây là hành động bạo lực bất thường chưa từng xảy ra, và đó là một trong những ngày đen tối nhất trong lịch sử Tân Tây Lan.
Ba, kể từ vụ khủng bố tại New York vào ngày 11 tháng 9 năm 2001 đến nay, đại đa số các cuộc khủng bố đều do các nhóm Hồi giáo cực đoan thực hiện đối với các nền dân chủ Tây phương. Xu hướng thượng đẳng da trắng (white supremacy) đã gia tăng khắp nơi trong thời gian qua, một phản ứng đối với xu hướng Hồi giáo cực đoan, nhưng các cơ quan tình báo nội địa của Tân Tây Lan lẫn Úc không ngờ bị bỏ sau vài bước.

Và chắc chắn đây không phải là lần khủng bố sau cùng bởi người da trắng đối với người Hồi giáo, bởi xu hướng thượng đẳng da trắng ngày càng gia tăng.

Tại sao người ta trở nên cực đoan?

Thoạt nhìn vào những kẻ khủng bố tàn sát bao nhiêu người vô tội một cách dã man như thế, chúng ta dễ dàng đi đến kết luận rằng họ là những người tà ác, là kẻ ác quỷ (evil). Những người theo một tôn giáo nào đó lại dễ tin vào cách kết luận như thế, bởi nhiều tôn giáo quan niệm địa ngục dành cho ác quỷ. Nhưng cách hành xử của con người nói chung là khá phức tạp, và mỗi đối tượng bị cực đoan hóa cũng khác nhau.

Tức giận, hận thù hay niềm tin cực đoan đến độ mất hẳn lý trí, lương tri, không còn một chút lòng thương hại nào, để rồi quyết định tấn công người mà họ coi là kẻ thù phải tiêu diệt, rồi nả súng, đâm chém một cách không thương tiếc, là các dấu hiệu của thành phần bị cực đoan hóa. Nhưng thật ra nó chỉ là triệu chứng chứ không phải là nguyên nhân sâu sa.

Theo cơ quan điều tra FBI của Hoa Kỳ thì không có một lý do riêng lẻ nào giải thích được vì sao người ta trở thành cực đoan bạo lực, nhưng nó thường xảy ra trong tình huống mà người đó đang có khoảng trống nhu cầu cá nhân sâu sắc mà cần được khỏa lắp.

FBI liệt kê bảy loại nhu cầu cá nhân: 1) quyền lực; 2) thành đạt; 3) kết nối; 4) quan trọng; 5) mục đích sống; 6) đạo đức; 7) phấn khích. Có người muốn quyền lực, có người muốn cảm thấy mình quan trọng, có người lầm tưởng rằng hy sinh vì thánh chiến là tiếng gọi thiêng liêng và được lên thiên đàng, và cũng có người muốn tham gia vì các hoạt động này kích thích và phấn khởi v.v…

Những kẻ chủ mưu khủng bố, trong đó có các nhà nước khủng bố, hiểu điều này và khai thác tận tình những người ở trong tình trạng tâm lý bất an, dễ bị tổn thương, dễ bị lây động. Họ là những người cảm thấy cô đơn, mất ý nghĩa và mục đích cuộc sống, hay đã từng trải qua cuộc sống đầy căng thẳng, bất mãn với chính quyền sở tại, thù ghét một số hạng người nào đó, không cảm thấy mình có giá trị hay được xã hội quý trọng, hay nghĩ rằng cơ hội thành công của họ là rất giới hạn v.v... Vì sợ, vì bực bội, bị cô đơn, lo lắng, hay trải qua kinh nghiệm khó khăn đau đớn trong cuộc sống, nhưng không được hướng dẫn giúp đỡ, họ càng dễ bị cám dỗ. Các nhà khoa học tâm lý cũng nghiên cứu sâu sắc về địa hạt này, và cũng đưa ra các kết luận tương tự như cơ quan FBI. Họ cho rằng những trải nghiệm cô đơn, đau đớn dễ làm cho người ta trở nên chấp nhận và ủng hộ các quan điểm cực đoan. Thiển cận cũng là một yếu tố đáng kể. Có những người tưởng mình biết nhiều biết đủ, nhưng thật ra kiến thức rất giới hạn; họ chọn các lập trường cực đoan, không khoan dung hay nhượng bộ.

Tất cả các mẫu người trên dễ bị cám dỗ để rồi trở thành con rối, bị các thế lực khác điều khiển, thay vì ý thức và tự chủ lấy các quyết định đúng đắn của mình. Họ bị tuyên truyền để tin rằng họ đang làm một việc có ý nghĩa, đạo đức, và sự đóng góp và sự hy sinh của họ là cao cả.

Sự kiện khủng bố tại Tân Tây Lan cho thấy rằng không chỉ những người theo đạo Hồi là nạn nhân của mục tiêu cực đoan hóa, mà người da trắng Tây phương hay bất cứ ai cũng có thể trở thành đối tượng của chủ nghĩa cực đoan. ISIS đã bị đánh bại, nhưng Taliban vẫn còn đó; chủ nghĩa cực đoan về tôn giáo (những kẻ sẵn sàng xả thân vì thánh chiến) hay chính trị không biến mất mà chỉ biến dạng. Chủ nghĩa bộ lạc và chính trị bản sắc (tribalism and identity politics) có xu hướng gia tăng. Hận thù và bạo lực sẽ nuôi dưỡng bạo lực và hận thù, một vòng luẩn quẩn trông như không có lối thoát.

Có thể làm gì với xu hướng cực đoan?

Điều quan trọng mà mọi người cần hiểu là rằng tựu chung ai cũng có nhu cầu để được hạnh phúc, sung sướng. Nhưng mỗi người phải tự đi tìm con đường để thực hiện ước vọng này, bởi không ai làm được việc này thay thế mình. Và mỗi thế hệ cũng phải tự làm lấy. Vật chất, dù sung túc, chỉ là một phần trong nhu cầu đời sống phức tạp của con người.

Có người đi tìm mục đích cá nhân bằng con đường chính đáng. Nó phải đáp ứng các giá trị và nguyên tắc sống của họ. Nhưng cũng có người muốn đi con đường tắc, dễ dàng bị lôi kéo, cám dỗ. Điều chắc chắn là không một ai sinh ra tự nhiên là kẻ giết người cả. Hoàn cảnh cá nhân và xã hội đưa đẩy họ đến con đường như thế.

Trong sự kiện khủng bố tại Tân Tây Lan hôm qua, nữ Thủ tướng Jacinta Ardern đã chứng tỏ là một lãnh đạo vừa có viễn kiến, chủ động nắm bắt mọi diễn biến, điều động một cách khôn khéo, và trên hết là người có sự cảm thông sâu xa.

Một, bà Ardern đã họp báo sớm nhất có thể sau khi sự kiện xảy ra để trình bày các thông tin cần thiết, vừa đủ. Đây là điều cần thiết để người lãnh đạo quốc gia, qua truyền thông, trình bày cho người dân hiểu rõ vấn đề, để họ không bị giao động, lo lắng hay cảm thấy bất an. Bà lên án hành động và kẻ khủng bố nhắm vào người di dân đến Tân Tây Lan, trong đó có thể là người tị nạn, mà bà xem tất cả đều là người Tân Tây Lan, là “chúng ta”. Bà cũng liên tục cập nhật thông tin khi có thể, đưa đề nghị để mọi người nên đề phòng đóng cửa/ngưng mọi hoạt động (lockdown) cho đến khi tình huống sáng sủa hơn.

Hai, bà liền bay đến hiện trường, quan sát, rồi đến thăm cộng đồng Hồi giáo, an ủi vỗ về và chia sẻ nỗi đau thương mất mát to lớn của họ. Bà tế nhị bày tỏ sự tương kính dành cho họ bằng cách mang khăn choàng lên đầu như kiểu cách phụ nữ Hồi giáo. Khi được hỏi bà cảm thấy như thế nào khi đứng trong tòa nhà của kẻ sát thủ người Úc, bà Ardern nói ngay lập tức: “Tôi cũng đang ở trong cùng tòa nhà của những người đưa hắn ta ra công lý”. Bà quan tâm, biết rõ mình cần nói gì trong tình huống khó khăn, và điều này xoa dịu phần nào nỗi đau của những người mất mát qua sự kiện này. Khi Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump gọi hỏi Hoa Kỳ có thể làm gì để giúp, bà Ardern trả lời: “Cảm thông và yêu thương dành cho tất cả cộng đồng Hồi giáo”.

Ba, bà Ardern hiểu rằng giải pháp liên can đến khủng bố phải là một loạt các biện pháp cải tổ luật về kiểm soát súng, kiểm soát biên giới, tăng cường chia sẻ thông tin với Úc, và củng cố các biện pháp và tiến trình theo dõi tội phạm. Do đó bà Ardern liền chỉ đạo cho ủy ban điều hợp an ninh quốc nội phải trình bày bản báo cáo về sự vụ này cho nội các của bà vào thứ Hai tới đây để lấy các quyết định nhanh chóng và cần thiết.

Kiểm soát súng có phải là giải pháp?

Các cơ quan công quyền Tân Tây Lan lẫn Úc cho đến nay vẫn chưa rõ là làm thế nào một kẻ như Brenton Tarrant có thể hành động kinh hoàng như thế, làm thế nào hắn ta có đến năm súng, hai bán tự động, hai súng ngắn và một súng tự động (tiểu liên) dùng để giết các nạn nhân này, nhưng Tarrant không nằm trong danh sách cần quan tâm theo dõi nào cả?

Đầu năm 2017, khi Bộ trưởng Cảnh sát Paula Bennett bác bỏ 12 trong 20 đề nghị từ ủy ban điều tra về sự tàng trữ vũ khí trái phép, thì vào tháng 10 năm 2017, Chủ tịch của Hội Cảnh sát Tân Tây Lan Chris Cahill phát biểu rằng đây là cơ hội bị bỏ lỡ, và điều mà có lẽ mang nó trở lại bàn họp này, phải chăng, có thể là một thảm nạn. Điều Cahill nói cách đây 17 tháng quả là như tiên tri. Liền sau sự kiện này, bà Ardern khẳng định một trong những điều chắc chắn phải làm là cải tổ luật kiểm soát súng. Cựu nữ Thủ tướng Tân Tây Lan Helen Clark và rất nhiều chuyên gia về an ninh cũng đồng tình với quan điểm này.

Hiện tại, Tân Tây Lan chỉ có 4.6 triệu người, mà đã có đến 1.2 triệu cây súng (nhưng ước tính có lẽ lên đến 1.5 triệu cây súng trên thực tế). Nghĩa là bình quân một trong bốn người có súng.
Trong khi đó, trong dân số 24.6 triệu dân Úc thì chỉ có 3.5 triệu cây súng. Nghĩa là bình quân một trong tám người có súng.

So với Hoa Kỳ thì trong 100 người thì có đến 120 cây súng, tức bình quân một người có hơn một súng.

Khi so sánh thì Tân Tây Lan, một quốc gia hiền hòa, nhưng số lượng súng vẫn quá cao, đứng hàng 18 trên thế giới về tỷ lệ người dân có súng.

Một trong những điều Tân Tây Lan, và khắp nơi trên thế giới, có thể học được từ Úc là luật kiểm soát súng tại đây. Sau khi vụ thảm sát tại Port Arthur, Tasmania vào đầu năm 1996, giết hại 35 người, cựu Thủ tướng John Howard đã rất cương quyết về việc kiểm soát súng, mặc dầu gặp sự phản đối quyết định của các hội bảo vệ quyền sử dụng súng tại đây. Quyết định của nội các Howard vào ngày 6 tháng Năm năm 1996 là cấm mọi loại vũ khí tự động và bán tự động, thiết lập hệ thống đăng ký vũ khí toàn diện trên toàn quốc, dành một thời gian ân xá trong đó vũ khí bị cấm và không đăng ký có thể được giao trả cho công quyền; và việc tạo ra một quỹ bồi thường thông qua thuế thu nhập để mua vũ khí bị cấm từ những người sở hữu. Lịch sử đứng về phía ông Howard về vấn đề này. Trong 25 năm, tỷ lệ giết người giảm 22 phần trăm, từ 307 năm 1989-90 xuống còn 238 năm 2013-14, tức một trên 100 ngàn người. So với Hoa Kỳ thì tỷ lệ là 10.6 trên 100 ngàn người chết vì súng.

Một trong nhiệm vụ quan trọng nhất của lãnh đạo quốc gia là tìm đủ mọi giải pháp khó khăn nhưng cần thiết để tạo dựng môi trường an toàn và bảo vệ an ninh cho người dân từ những kẻ muốn hãm hại họ. Những vụ giết người bằng súng tại Úc tuy thỉnh thoảng vẫn xảy ra, nhưng từ vụ thảm sát tại Port Arhur cách đây gần 23 năm, hầu như Úc không còn xảy ra các vụ bắn súng giết người hàng loạt nữa, và những kẻ khủng bố như Brenton Tarrant cũng không thể hoạt động tại Úc như đã làm tại Tân Tây Lan.

Đối phó với khủng bố, cực đoan hay các chủ mưu cực đoan hóa là cực kỳ nhức nhối và phức tạp, vì giải pháp phải mang tính đa chiều và đa tầng. Bà Ardern và dư luận Tân Tây Lan có vẻ sẵn sàng để thảo luận và quyết định mang lại thay đổi tốt hơn cho quốc gia của mình, về luật kiểm soát súng và các biện pháp cần thiết khác. Chính quyền Morrison của Úc cũng họp cấp tốc với giới tình báo nội địa hôm nay để tìm kế hoạch ngăn chặn và kiểm soát tình hình có khả năng leo thang của các xu hướng cực đoan trong thời gian tới.

Khi sự tức giận, hận thù và chia rẽ gia tăng mà người ta lại có phương tiện như vũ khí, súng đạn trong tay, để thỏa mãn nhu cầu cá nhân trong những lúc bồng bột dại dột, thì hệ quả là khốc liệt. Nếu phương tiện vũ khí bị tước đi, hay giảm thiểu, thì ý đồ hãm hại người khác, nếu có, cũng khó hoàn thành được mục tiêu.

Điều cần thiết hiện nay là mọi người dân phải đối phó với vấn đề này bằng cái đầu nguội, không phải bằng cảm tính và cảm giác đe dọa. Lãnh đạo quốc gia đóng vai trò quan trọng trong vấn đề này. Họ cần thuyết phục và hướng dẫn công chúng từng bước vượt qua các chướng ngại hiện nay, để sự rạn nứt trong người dân gia giảm, để giảm thiểu những nguy cơ bùng nổ lớn hơn cũng như những cái chết oan ức mà có thể tránh được.



(Úc Châu, 18/03/2019)

Phạm Phú Khải
Blog VOA

Trung Quốc lo bị Mỹ o ép vào phút cuối trên bàn đàm phán


Các quan chức đang lo ngại Trung Quốc có thể bị đặt vào tình huống lúng túng hoặc bị ép đưa ra các nhượng bộ vào phút cuối tại cuộc gặp thượng đỉnh với Mỹ, dự kiến được tổ chức tại khu nghỉ dưỡng Mar-a-Lago của Tổng thống D.Trump tại bang Florida (Mỹ), theo hãng tin Bloomberg.

Tổng thống Donald Trump và Chủ tịch Tập Cận Bình trong cuộc gặp ở khu nghỉ dưỡng Mar-a-Lago ở bang Florida (Mỹ) hồi tháng 4-2017. Ảnh: Reuters

Bắc Kinh cảnh giác sự khó lường của ông Trump

Tổng thống Trump thường xuyên ca ngợi sức mạnh mối quan hệ cá nhân của ông với Chủ tịch Tập Cận Bình và dành cho ông Tập những lời lẽ nồng ấm.

Tuy nhiên, khi hai nền kinh tế lớn nhất thế giới nhích gần đến một thỏa thuận thương mại được thiết kế để sắp đặt lại mối quan hệ kinh tế giữa họ trong những năm sắp tới, một câu hỏi lớn đang được đặt ra: Liệu ông Tập có đủ tin tưởng ông chủ Nhà Trắng để lên máy bay sang Mỹ ký thỏa thuận đó?

Trong nhiều tuần qua, Tổng thống Trump cùng các trợ lý của ông đã thúc ép ông Tập đồng ý dự cuộc gặp thượng đỉnh ở khu nghỉ dưỡng Mar-a-Lago để hoàn tất thỏa thuận chấm dứt cuộc chiến thương mại đang phủ bóng lên nền kinh tế toàn cầu. Ông Trump nói rằng chỉ khi cả hai nhà lãnh đạo gặp nhau, các chi tiết cuối cùng của thỏa thuận mới có thể được dàn xếp.

Tuy nhiên, từ lâu các quan chức Trung Quốc lo ngại rằng Tổng thống Trump, với cách hành xử khó đoán định, có thể khiến ông Tập rơi vào thế lúng túng hoặc bị ép đưa ra những nhượng bộ thương mại vào phút cuối.

“Đó thực sự là một câu hỏi hóc búa đối với ông Tập. Mối lo lắng về việc bị ông Trump làm khó ở bàn đàm phán là một rủi ro thực sự đối với ông”, Eswar Prasad, chuyên gia nghiên cứu kinh tế Trung Quốc ở Đại học Cornell (Mỹ), người thường xuyên tiếp xúc các quan chức cấp cao ở Bắc Kinh, nhận định.

Các trợ lý của ông Trump đang xây dựng một thỏa thuận thương mại với Trung Quốc trong sự nghi ngờ. Theo họ, Trung Quốc đã dối trá và lừa gạt Mỹ trong nhiều thập kỷ về các cam kết thương mại, do vậy họ không tin tưởng Trung Quốc sẽ tuân thủ các cam kết như vậy nữa trừ khi họ đạt được một thỏa thuận với các điều khoản thực thi cứng rắn.

“Đó là một vấn đề quan trọng. Những gì tổng thống muốn là một thỏa thuận mà tính thực thi được đặt lên hàng đầu”, Đại diện Thương mại Mỹ Robert Lighthizer, nói tại cuộc điều trần về đàm phán thương mại Mỹ - Trung tại hạ viện Mỹ hôm 27-2.

Các quan chức ở Bắc Kinh muốn bảo đảm rằng ông Trump sẽ không gạt bỏ thỏa thuận vào phút cuối một lần nữa. Ông Trump đã bác bỏ ít nhất hai thỏa thuận với Trung Quốc được trình lên ông kể từ cuộc gặp ở khu nghỉ dưỡng Mar-a-Lago hồi tháng 4-2017, bao gồm thỏa thuận về việc Trung Quốc cắt giảm công suất thép dư thừa do Bộ trưởng Thương mại Mỹ Wilbur Ross đích thân đàm phán và một thỏa thuận thương mại mà Bộ trưởng Tài chính Mỹ Steven Mnuchin đạt được với phái đoàn đàm phán Trung Quốc do Phó Thủ tướng Lưu Hạc dẫn đầu vào năm ngoái.

Tháng trước, Tổng thống Trump cũng sớm rời hội nghị thượng đỉnh với nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un ở Hà Nội mà không ký thỏa thuận nào. Điều này càng làm gia tăng các lo ngại của Trung Quốc về cách hành xử khó lường của ông.

Cựu Thứ trưởng Bộ Thương mại Trung Quốc Ngụy Kiến Quốc tin rằng, ông Trump sẽ không bao giờ rời bỏ hội nghị thượng đỉnh với ông Tập như cách đã làm với ông Kim Jong-un. Ông cho rằng hậu quả của một hành động như vậy sẽ rất nghiêm trọng.

Trung Quốc muốn thỏa thuận phải “có qua, có lại”

Đại diện Thương mại Mỹ Robert Lighthizer (trái) và Phó Thủ tướng Trung Quốc Lưu Hạc trao đổi bên lề cuộc đàm phán thương mại Mỹ-Trung ở Bắc Kinh hồi tháng 2-2019. Ảnh: Reuters

Trong nhiều tháng qua, Tổng thống Trump nỗ lực thúc đẩy một thỏa thuận thương mại với Trung Quốc và điều này đã làm thay đổi tốc độ của các cuộc đàm phán. Trong những ngày gần đây, cả hai nước tổ chức các cuộc họp từ xa mỗi ngày.

Hôm nay 15-3, Quốc hội Trung Quốc đã thông qua luật đầu tư nước ngoài mới với các điều khoản cam kết các công ty nước ngoài sẽ được đối xử công bằng giống như các công ty trong nước trong các cuộc đấu thầu của nhà nước; cấm nhà chức trách trong nước bắt buộc các công ty nước ngoài chuyển giao công nghệ để được tiếp cận thị trường; cấm các quan chức Trung Quốc lạm dụng các thông tin bí mật kinh doanh của các công ty nước ngoài hoặc chuyển cho các công ty trong nước... Luật mới sẽ có hiệu lực từ ngày 1-1-2020.

Giới phân tích cho rằng luật mới thông qua nhanh chóng dường như là một nỗ lực của Bắc Kinh để làm hài lòng các nhà đàm phán thương mại Mỹ khi cả hai nước tiến gần một thỏa thuận thương mại chấm dứt cuộc chiến thuế.
Trung Quốc cũng đã cam kết mua 1.200 tỉ đô la hàng hóa Mỹ trong sáu năm tới và mở cửa thị trường trong nước cho một ngành kinh doanh quan trọng.

Song các nhà đàm phán Trung Quốc cũng muốn Mỹ phải nhất trí rằng bất cứ cam kết nào trong thỏa thuận thương mại, đặc biệt là các điều khoản về thực thi “phải có qua có lại”.

Mỹ yêu cầu Trung Quốc cam kết không trả đũa bất cứ biện pháp trừng phạt nào mà Washington có thể áp đặt trong trường hợp Bắc Kinh không tuân thủ các cam kết trong thỏa thuận thương mại. Tuy nhiên, cuối tuần trước, Thứ trưởng Bộ Thương mại Trung Quốc Vương Thụ Văn phản bác lại rằng bất kỳ cơ chế thực thi nào phải “hai chiều và công bằng”.

Giới phân tích cho rằng Tổng thống Trump có thể ngoảnh mặt với bất kỳ thỏa thuận thương mại với Trung Quốc. Ông đang đối mặt với nhiều nghi ngờ về việc liệu cuộc chiến tranh thương mại mà ông phát động cũng như những thiệt hại kinh tế do cuộc chiến này gây ra ở các bang nông nghiệp có xứng đáng hay không.

Song cả ông Trump lẫn ông Tập có những lý do riêng để quyết tâm dàn xếp các bất đồng thương mại giữa hai nước. Ông Trump đang đứng trước áp lực phải chứng minh rằng chính sách thương mại “Nước Mỹ trên hết” có thể mang lại kết quả. Theo nhiều người, chính sách này chưa mang lại nhiều thành công như dự kiến. Năm 2018, thâm hụt thương mại và dịch vụ của Mỹ với nước ngoài đã phình lên con số 621 tỉ đô la, mức cao nhất kể từ năm 2008 và tăng hơn 20% (gần 120 tỉ đô la) so với năm 2016 khi ông chưa lên nắm quyền.

Trong khi đó, một hội nghị thượng đỉnh thành công ở Mar-a-Lago sẽ giúp ông Tập dập tắt những tiếng nói chỉ trích trong nước, theo nhận định của Steve Tsang, Giám đốc Viện nghiên cứu Trung Quốc thuộc Trường Nghiên cứu châu Phi và phương Đông của Đại học London (Anh).

Ông Tsang nói: “Nếu ông Tập không đạt được một thỏa thuận chấp nhận được với ông Trump và nền kinh tế Trung Quốc tiếp tục trượt dốc, áp lực đối với ông Tập sẽ tăng lên”.

Hôm 14-3, hãng tin Bloomberg dẫn ba nguồn tin cho biết cuộc gặp thượng đỉnh giữa Tổng thống Donald Trump và Chủ tịch Tập Cận Bình để ký kết thỏa thuận chấm dứt cuộc chiến thương mại sẽ không diễn ra vào tháng này như dự kiến mà có thể dời lại vào cuối tháng 4.

Một nguồn tin nói rằng Trung Quốc đang thúc ép Mỹ tổ chức cuộc gặp này theo nghi lễ chuyến thăm cấp nhà nước chính thức mà theo truyền thống sẽ diễn ra ở Washington. Một nguồn tin khác cho biết Trung Quốc đã hủy bỏ kế hoạch chuyến bay đưa ông Tập sang Mỹ vào cuối tháng này sau chuyến công du châu Âu.

Các nguồn tin nói rằng hai nước đang tập trung đàm phán về lộ trình loại bỏ dần các quy định bắt buộc các công ty nước ngoài phải liên doanh với các đối tác Trung Quốc nếu muốn làm ăn ở nước này; cơ chế thực thi thỏa thuận thương mại và việc dỡ bỏ thuế mà hai nước đã áp đặt vào hàng hóa của nhau.


Chánh Tài
KTSG-Online

Thương cho dân tộc Việt


Hôm qua, 15/3/2019 là ngày có nhiều hành động vì khí hậu nhất từ trước đến nay. Hơn 1,5 triệu người (chủ yếu là học sinh sinh viên) tham gia bãi khóa, hơn 2,000 cuộc bãi khóa tại hơn 100 quốc gia. Việt Nam không có tên trong danh sách 100 quốc gia này. (Đương nhiên), nếu không có lẽ tôi cũng không ngồi đây viết được những con số này. https://www.facebook.com/StrikeClimate/


Trong khi đó, hôm nay tại Việt Nam, một rapper bị hàng trăm comment công kích cá nhân, xỉ nhục, lăng mạ khi lên tiếng chia sẻ tình trạng ô nhiễm môi trường đang nghiêm trọng như thế nào thông qua một bài rap. Tất cả những người dùng lời lẽ lăng mạ đều là người Việt, những người cũng đang chịu ảnh hưởng và tác động của vấn đề nước (không) sạch, không khí (không) sạch, thực phẩm (không) sạch. Tôi không so sánh được lợi ích họ có được khi buông bỏ từng dòng comment thoái mạ đó so với cái tệ hại về sức khỏe do bụi bẩn, nước ô nhiễm, thức ăn độc lại mang tới. Nó có thể lớn hơn, hoặc dễ che mắt hơn nên người ta chọn nó thay vì một cuộc sống an toàn cho họ và những người khác.

Điều đó không quan trọng ở thời điểm này. Bởi quan trọng hơn, tôi nhận thấy các tác động hiện có, tình trạng tệ hại hiện có đối với môi trường chỉ là cái đinh trong tâm trí người Việt, không chỉ của riêng nhóm lợi ích. Hầu hết những người trong hàng trăm người kia có lẽ vẫn chưa cảm nhận được sự đe dọa về sức khỏe, sinh kế mà họ và gia đình họ đang và sẽ gặp phải. Mọi luận điệu, tôi biết có phần được sắp đặt, hướng đến một đất nước công nghiệp & kinh tế tăng trưởng mạnh. Điều đó là nhu cầu chính đáng của dân Việt mà tôi được dạy phải nghe theo răm rắp từ những ngày đầu tới lớp "Mục tiêu 2020 Việt Nam hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước". Quan trọng hơn, nó trở thành một thứ "triết lý ma mị" dẫn dắt cả đất nước này sẵn sàng chà đạp lên những thương tổn cho tự nhiên, cho đồng loại. Nhóm người comment ở kia chỉ là một nhóm nhỏ phản ánh việc lựa chọn quyền lợi cá nhân trước mắt, chủ yếu là tiền, mà không cho mình cơ hội nghĩ về những thứ to tát có ý nghĩa hơn. Nhưng họ không chỉ một mình.

Trong khi những nỗ lực bù đắp phục hồi tự nhiên vẫn còn xa xỉ, thì chí ít sự quay đầu hàn gắn những vết nứt trong xã hội nhỏ này cũng là cần thiết. Tôi thấy đáng thương do dân tộc này, cho chúng ta. Cái quyền cho phép mình đứng đầu chuỗi thức ăn đã là một thứ ngớ ngẩn. Việc cho phép một cá nhân, nhóm người có quyền lực, tiền bạc (không sớm thì muộn) chà đạp lên sức khỏe, sự sống, phẩm hạnh của những người đồng loại khác cũng tệ hại không kém. Dân VT vẫn than khóc ngày đêm, trẻ con đối mặt với nguy cơ sức khỏe từ hàng MG điện sản xuất từ than và chúng mình ở đầu này đất nước vẫn thoải mái tiêu thụ điện, vui vẻ móc hầu bao trả cho doanh nghiệp tiêu thụ/sản xuất hàng tấn ly giấy hộp nhựa đựng trà sữa. Khi cái não thông minh của loài người đang nghĩ về những giải pháp thay thế nhiệt điện than, khi tấm pin năng lượng mặt trời hay cột gió cần được cải tiến để giảm thiểu nhất tác động trong quá trình sản xuất, thì hành vi tiêu dùng của chính người giáo dục, người truyền thông, người buôn bán các sản phẩm đó mới là cái gương mẫu thuyết phục nhất cho thị trường còn hơn cả những chính sách luôn đi rất chậm. Đó là chưa kể với dân Việt, hệ thống chính sách & người làm chính sách nếu không đủ tầm thì rất dễ bị biến tướng trong thực thi. Hệ thống quản lý không đủ năng lực kiểm soát thị trường khiến việc sản xuất tạo ra bao nhiêu nilon túi nhựa rẻ tiền (trốn thuế), chất lượng kém hướng đến kích thích tiêu dùng bậy bạ.

Bởi lẽ tính liên kết và tác dộng qua lại giữa các cá thể-cá thể, cá thể-hành vi-xã hội là một đặc điểm riêng biệt của con người. Vậy nên mới thấy một giải pháp tổng thể là cần thiết. Không có cái nào là ưu việc hơn cái nào trong thế giới này. Mình không cho rằng chính sách là con đường duy nhất. Mình cũng không nghĩ chỉ có truyền thông mới tạo nên sức mạnh. Tương tự, môi trường không phải bài toán hóc búa nhất. Và sự dân chủ, quyền được tham gia cũng không phải cái ưu tiên số một.
Nhắm mặt lại, thấy cần lắm sự nỗ lực của nhiều bên, sự liên kết từ nhiều phong trào khác nhau, và gốc gác cần là sự tự ý thức trong tâm trí của từng con người Việt. Bởi, mỗi một phong trào đều sẽ chỉ như con thuyền đơn lẻ cỡi trên sóng, lênh đênh và dễ bị dập tan bởi chính sóng và gió, nếu mất đi sự nâng đỡ và yêu thương của lòng sông mặt biển.

People power is the key for social movement.


FB Võ Xuân Quyền
 

Top ↑ Copyright © 2016. Tiến Bộ - All Rights Reserved
Back To Top ↑