Tin Tức Cập Nhật 24/7

Truyền thông CSVN lần đầu tiên ‘được quyền’ nói Trung Quốc ‘cưỡng chiếm Hoàng Sa’


Một số tờ báo lớn như Thanh Niên, Tuổi Trẻ, Sài Gòn Giải Phóng lần đầu tiên sau 45 năm đã dùng từ “cưỡng chiếm” đối với Trung Quốc khi nhắc đến trận hải chiến Hoàng Sa vào ngày 19 Tháng Giêng, 1974.

Truyền thông CSVN lần đầu tiên ‘được quyền’ nói Trung Quốc ‘cưỡng chiếm Hoàng Sa’. Hình tư liệu

Báo Đà Nẵng ngày 18 Tháng Giêng viết: “Sự kiện Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm trái phép toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam từ ngày 19 Tháng Giêng, 1974, dẫn đến một thực tế đau lòng: Thành phố Đà Nẵng tuy được giải phóng vào ngày 29 Tháng Ba, 1975, nhưng 45 năm qua, huyện đảo Hoàng Sa vẫn còn bị ngoại bang chiếm đóng.”

Báo Thanh Niên có bài viết với tiêu đề: “45 năm Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa của Việt Nam: Đe dọa hòa bình khu vực và thế giới.”

Ngay từ đầu bài báo phỏng vấn các chuyên gia về Trung Quốc và Biển Đông, phóng viên của Thanh Niên đã viết: “Sự biến Trung Quốc ngang ngược cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, nhiều chuyên gia cho rằng mưu đồ của Bắc Kinh quá rõ ràng.”

Tờ báo trực thuộc “Đảng Bộ Đảng Cộng Sản Việt Nam TPHCM” là Sài Gòn Giải Phóng có bài viết về chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân huyện Hoàng Sa thăm và tặng quà các nhân chứng. Cũng như tờ Thanh Niên, bài viết này tường thuật chi tiết “ông chủ tịch huyện Hoàng Sa (Đà Nẵng) đã bày tỏ lòng biết ơn và tri ân đến các nhân chứng lịch sử, những người đã từng sống, làm việc và chứng kiến quân Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm Hoàng Sa.”

Sài Gòn Giải Phóng cho biết rõ thêm chi tiết là ông Nguyễn Văn Cúc (sinh năm 1952, hiện nay ở An Hải Bắc, quận Sơn Trà), một trong những người bị Trung Quốc bắt giữ sau khi dùng vũ lực cưỡng chiếm Hoàng Sa vào ngày 19 Tháng Giêng, 1974.

Ngày 9 Tháng Giêng, 2019 vừa qua, Bộ Ngoại Giao Việt Nam lên tiếng về vụ khu trục hạm của Mỹ – USS McCampbell – thực hiện hoạt động tuần tra “tự do hàng hải” áp sát các đảo ở Hoàng Sa đầu năm mới 2019 thách thức yêu sách chủ quyền của Trung Quốc.

Bà Lê Thị Thu Hằng, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam, lặp lại tuyên bố: “Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý và bằng chứng lịch sử khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa phù hợp với luật pháp quốc tế.”

Việc “nương tay,” hay nói cách khác là “buông lỏng” báo chí ở mức độ bất bình thường trong dịp 45 năm hải chiến Hoàng Sa, giới truyền thông tự do và những người từng làm việc trong các tờ báo thuộc quản lý của Ban Tuyên Giáo CSVN cho rằng phải có lý do.


Bởi vì, theo cựu tổng biên tập báo Sài Gòn Tiếp Thị, ông Đặng Tâm Chánh, viết trên trang cá nhân: “10 năm trước báo Sài Gòn Tiếp Thị của chúng tôi đã ghi nhận lại hình ảnh nhang tàn khói lạnh trên các nấm mồ liệt sĩ còn nằm dọc tuyến biên giới phía Bắc vào chính những ngày kỷ niệm 30 năm cuộc chiến.



Chiến tích bị đục bỏ. Nghĩa trang néo cửa. Quan san tê tái. Những giọt nước mắt tưởng nhớ lén chảy vào trong nỗi ấm ức. Một hiện thực không thể tưởng tượng, khiến cho bất kỳ ai tận mắt nhìn thấy không thể không bức bối.

Biên giới tháng Hai do Huy Đức viết, là ký sự ghi nhận hiện thực ấy, định đăng ba kỳ báo trên Sài Gòn Tiếp Thị, nhưng chỉ mới đăng được một kỳ đã kết thúc.

Chúng tôi chỉ biết mệnh lệnh ngưng đăng từ truyền đạt của cấp lãnh đạo gần nhất.

Nhiều năm qua, chúng tôi chưa từng được giải thích về mệnh lệnh ấy.

Một lần kiểm điểm tổng biên tập Sài Gòn Tiếp Thị, ông Huỳnh Thanh Hải – phó ban tuyên giáo Thành Ủy – phê bình báo Sài Gòn Tiếp Thị về 100 bài ‘có vấn đề,’ nhận xét ‘chuyện người ta muốn quên thì các đồng chí moi lại. Để làm gì? Có phải chuyện của các đồng chí không? Chuyện của các đồng chí là thị trường…’


Người ta là ai?

Ai cho mình cái quyền được đứng trên, quên hay nhớ lịch sử?
Chúng tôi chỉ nhận được sự im lặng trịch thượng.”


Phóng viên nhật báo Người Việt đặt vấn đề này với nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc, thì theo ông, lý do của sự nương tay với sự thật của lịch sử là: “Thăm dò phản ứng của Bắc Kinh.” Cụ thể hơn, ông nói rằng chính phủ Việt Nam đang muốn thể hiện quan điểm cứng rắn hơn so với ASEAN trong đàm phán Bộ Quy Tắc Ứng Xử trên Biển Đông (COC) và năm Việt Nam làm chủ tịch ASEAN.

Thêm một chi tiết đáng lưu ý nữa, trong họp báo ngày 16 Tháng Giêng vừa qua tại Hà Nội, ngoại trưởng Việt Nam, ông Phạm Bình Minh, đã nhắc đến COC và nói rằng việc tiến hành soạn thảo này là chậm trễ, có nhiều điểm trong Tuyên Bố Về Bộ Quy Tắc Ứng Xử (DOC) không được các bên tham gia thực hiện một cách nghiêm túc.

Ngoài ra trong buổi họp báo, ông Phạm Bình Minh còn đưa ra những bình luận khác về quan hệ với các cường quốc đang có sự tranh chấp trên Biển Đông, về những nghi ngờ tiết lộ nội dung việc thương lượng giữa các bên.

Đây được xem là sự kiện “lạ” vì chưa có bộ trưởng Ngoại Giao CSVN nào có những phát ngôn mạnh mẽ như thế.

Nội dung này chỉ được trang tiếng Anh Vietnam News của nhà nước Việt Nam đăng tải. Tất cả các tờ báo lớn bằng tiếng Việt đều giữ thái độ “im lặng.”

Thêm vào đó, cũng theo nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc, Việt Nam vừa chính thức thực thi Hiệp Ðịnh Đối Tác Toàn Diện và Tiến Bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) vào 14 Tháng Giêng vừa qua nên cố gắng “ghi điểm” giai đoạn đầu.

Năm 2012, Trung Quốc ngang nhiên thành lập thành phố Tam Sa, tỉnh Hải Nam, để quản lý hai quần đảo Hoàng Sa (Trung Quốc gọi Tây Sa) và Trường Sa (Trung Quốc gọi Nam Sa) cùng với bãi cạn Scarborough (Trung Sa theo cách gọi của Trung Quốc).

Trung Quốc đơn phương tuyên bố chủ quyền đến 90% Biển Đông gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhiều ngư dân Việt Nam trong những năm gần đây khi đi đánh bắt hải sản tại ngư trường truyền thống Hoàng Sa đã bị phía Trung Quốc xua đuổi, đe dọa; thậm chí tấn công, bắn giết, tịch thu hải sản, ngư cụ.

Trong một thông cáo báo chí đăng tải trên trang mạng của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc lúc 7 giờ 23 phút tối Thứ Năm, 3 Tháng Giêng, 2019, ông Lục Khảng, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Quốc, trả lời một phóng viên cho rằng việc tàu cảnh biển Trung Quốc đánh chìm hoặc đâm tàu của ngư dân Việt Nam trong vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam là “hành động chấp pháp bình thường.”


Kalynh Ngô
Người Việt

Vũ ‘Nhôm’ bất ngờ từ chối giao nộp tài sản kếch xù


Ban đầu, ông Phan Văn Anh Vũ xin giao nộp bảy tài sản sở hữu để “khắc phục hậu quả” cho tội “lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ.” Tuy nhiên, mới đây ông Vũ đã bất ngờ không nhận tội và làm đơn “xin” không giao nộp số tài sản này.

Ông Vũ “Nhôm” xin không giao nộp tài sản cho nhà nước.

Theo báo VietNamNet ngày 18 Tháng Giêng, 2019, cho biết trong phiên xử ông Phan Văn Anh Vũ (tự Vũ “Nhôm”) và các đồng phạm mới đây, Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao nhận định hành vi của Vũ “Nhôm” và đồng phạm bị cho là “đã gây thiệt hại cho nhà nước hơn 1,159 tỷ đồng (hơn $49.9 triệu), phạm vào tội ‘lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ’ quy định tại Khoản 3, Điều 356 Bộ Luật Hình Sự năm 2015.”

Ông Vũ và đồng phạm đã xâm phạm đến bảy nhà, đất công sản, dự án bất động sản với tổng diện tích hơn 6,723 mét vuông nhà và hơn 26,759 mét vuông đất, tổng trị giá hơn 2,517 tỷ đồng (hơn $108.4 triệu).

Cụ thể, đối với năm tài sản nhà đất gồm: nhà công sản số 319 Lê Duẩn; nhà đất số 16 Bạch Đằng; khu đất đường Ngô Quyền; khu đất đường ven biển Sơn Trà – Điện Ngọc (đều ở thành phố Đà Nẵng) và khu nhà đất số 8 Nguyễn Trung Trực (quận 1, Sài Gòn) “cần phải giao cho Ủy Ban Nhân Dân Đà Nẵng và Ủy Ban Nhân Dân ở Sài Gòn thu hồi và xử lý theo quy định của pháp luật.”

Đối với nhà đất tại số 129 Pasteur (quận 3, Sài Gòn) và nhà đất số 15 Thi Sách (quận 1, Sài Gòn) cần giao cho Bộ Công An, Ủy Ban Nhân Dân ở Sài Gòn “thu hồi và đề xuất biện pháp thu hồi, bảo đảm không thất thoát tài sản Nhà nước và quyền lợi hợp pháp cho những người có liên quan.”

Tờ báo này cho biết, trong quá trình điều tra, ban đầu ông Vũ nhận tội và xin giao nộp bảy tài sản trên để “khắc phục hậu quả.” Tuy nhiên mới đây, ông Vũ bất ngờ không thừa nhận mình phạm tội và còn nộp đơn “xin” không giao nộp tài sản.

Tuy nhiên, để quyết lấy bằng hết những gì Vũ “Nhôm” và gia đình đang có, Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao cáo buộc “để thâu tóm các nhà, đất công sản, dự án có vị trí đắc địa ở Đà Nẵng và Sài Gòn, Phan Văn Anh Vũ đã lợi dụng danh nghĩa công ty bình phong, cùng với sự giúp sức tích cực của đồng phạm, thông qua các văn bản nghiệp vụ của ngành công an để được thuê, nhận chuyển nhượng các bất động sản không phải qua đấu giá, trái quy định của Nhà nước. Do đó, số tài sản trên của ông Vũ thuộc dạng ‘thu lợi bất chính’ cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.”

Trước đó, theo báo Zing, cuối ngày xét xử hôm 4 Tháng Mười Hai, 2018, sau khi tòa mời ông Vũ lên hỏi về tài sản bị kê biên 448 mét vuông đất tại số 78-80-82-84 Trần Quốc Toản, phường Hải Châu 1, quận Hải Châu, Đà Nẵng, đứng tên Phan Văn Anh Vũ và bà Nguyễn Thị Thu Hiền (vợ ông Vũ), ông Vũ khẳng định đây là tài sản của hai vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân (năm 2002-2004) nên “Cơ Quan Cảnh Sát Điều Tra, Bộ Công An, kê biên tài sản này là không đúng.”

Song, ông Vũ lại nhanh chống nhờ gia đình mang số tiền 203 tỷ đồng (hơn $8.7 triệu) mà ông cho biết là tiền mượn của cá nhân ông Trần Phương Bình, chủ tịch Hội Đồng Quản Trị Ngân Hàng Đông Á (DAB), chứ không phải tiền phạm tội, chiếm đoạt của DAB và càng không phải là “tiền khắc phục” giao cho nhà nước. Hành động này được dư luận đánh giá cao cho là Vũ “Nhôm” rất “quân tử,” minh bạch rõ ràng về những việc làm của mình.


Người Việt

Chiến Lược Mỹ Thay Đổi Thế Nào Ở Biển Đông?


Theo Hồi ký của Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, người trực tiếp chỉ huy hải chiến Hoàng Sa 19/1/1974:

“… việc tấn công lực lượng Trung Cộng là hoàn toàn do tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lịnh, không có sự đồng ý của Hoa Kỳ và không có sự giúp đỡ của Hoa Kỳ dù là nhân đạo tối thiểu như vớt người trôi trên biển cả.”


Mỹ- Anh diễn tập chung 6 ngày trên biển Đông - Tàu USS McCampbell và tàu HMS Argyll trong đợt diễn tập. Ảnh: South China Morning Post.

Sau 45 năm chiến lược Á Châu Thái Bình Dương của Mỹ đã hoàn toàn thay đổi.

Tưởng niệm 45 năm cuộc hải chiến Hoàng Sa là cơ hội tìm hiểu về chiến lược Biển Đông của Mỹ để từ đó rút ra bài học.

Vì sao Trung Quốc không chiếm được Trường Sa?

Theo Phó Đề Đốc Thoại thiệt hại phía Việt Nam Cộng Hòa đã nặng, nhưng phía Trung Quốc vì bị tấn công nên thiệt hại nặng hơn.

Soái hạm Kronstad 274 bị chìm. Đô đốc Phương Quang Kính, tư lịnh phó Hạm Đội Nam Hải và hầu hết bộ tham mưu đều tử trận.

Hộ tống hạm Kronstad 271 và hai Trục lôi hạm 389 và 396 bị hư hại nặng.

Cùng lúc đó 17 chiến hạm Trung Quốc tiến xuống Biển Đông đã phải dừng lại bảo vệ Hoàng Sa tránh nguy cơ Việt Nam Cộng Hòa phản công chiếm lại.

Nếu không bị tấn công, không bị thiệt hại các chiến hạm Trung Quốc có thể đã tiếp tục tấn công Trường Sa và chiếm đóng Biển Đông cho đến ngày nay.

Ngày 25/1/1974, Đô đốc Thomas H. Moorer tường trình với Ngoại Trưởng Henry Kissiger như sau:

”Toàn vùng đó là cả vấn đề. Trường Sa và các đảo khác có cùng vấn đề - đó là lãnh thổ đang tranh chấp. Chúng tôi đã ra lệnh tránh khỏi vùng này.”

Mỹ rút khỏi Eo Biển Đài Loan…

Tháng 7/1971, đang thăm Pakistan, Kissinger vờ cáo bệnh, chuyển hướng bay thẳng đến Bắc Kinh hội đàm mật với Chu Ân Lai.

Khi Kissinger về lại Mỹ, Tổng Thống Richard Nixon công khai tuyên bố không chống lại đơn Trung Quốc xin gia nhập Liên Hiệp Quốc.

Mỹ chính thức xem Đài Loan như một phần của Trung Quốc, tháng 10/1971 Mỹ rút Hạm Đội khỏi eo biển Đài Loan.

Tháng 2/1972, Tổng Thống Richard Nixon chính thức thăm Trung Quốc tuyên bố sẽ rút khỏi các căn cứ tại Đài Loan.

Ngày 15/5/1972, Mỹ trao quần đảo Senkaku cho Nhật rút khỏi vùng tranh chấp giữa Nhật, Trung Quốc và Đài Loan.

Mỹ nhường Biển Đông cho Trung Quốc…

Sau khi Hiệp Định Paris được ký kết Mỹ rút quân, Trung Quốc chiếm Hoàng Sa, miền Nam lọt vào tay cộng sản, chiến tranh giữa ba đảng Cộng sản Việt Nam, Trung Quốc và Campuchia bùng nổ.

Ngày 3/11/1978, Việt Nam ký hiệp ước với Liên Xô, theo Điều 6 nếu “…một trong hai bên bị tấn công hoặc bị đe doạ tấn công, thì hai bên sẽ lập tức trao đổi ý kiến với nhau, nhằm loại trừ mối đe doạ và áp dụng các biện pháp thích đáng có hiệu lực, để bảo đảm hoà bình và an ninh của hai nước.”

Ngày 17/2/1979, Trung Quốc vượt biên giới phía Bắc tấn công Việt Nam, Liên Xô án binh bất động.

Năm 1978, Liên Xô chính thức thuê cảng Cam Ranh làm căn cứ hải quân cho Hạm đội Thái Bình Dương.

Ngày 14/3/1987, Trung Quốc cho tàu chiến tấn công và chiếm bãi đá Gạc Ma.

Hải quân Liên Xô đóng tại Cam Ranh, cách Gạc Ma chừng 3 trăm hải lý không hề can thiệp hay lên tiếng.

Các bản đồ Liên Xô, sau năm 1950 đều công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc.

Vào năm 1996 Bắc Kinh tự vẽ những đường cơ sở thẳng kết nối 28 điểm trên quần đảo Hoàng Sa, tự xem là lãnh hải Trung Quốc. Đồng thời tuyên bố yêu sách về phạm vi 12 hải lý trên lãnh hải Hoàng Sa.

Còn Trường Sa gồm cả trăm đảo, bãi đá và cồn san hô nằm rải rác trên một vùng biển khoảng hơn 160.000 km2, nên rất khó cho Việt Nam quan sát và kiểm soát.

Hiện nay, Trung Quốc đã chiếm 7 bãi đá và xây một số đảo nhân tạo, gồm:

1. Biến đá Chữ Thập thành đảo nhân tạo lớn;
2. Biến đá Vành Khăn thành đảo nhân tạo có diện tích lớn nhất trên Biển Đông với phi trường có bãi đáp cho các phi cơ chiến đấu;
3. Biến đá Xu Bi thành đảo nhân tạo lớn thứ hai trên Biển Đông;
4. Cải tạo bãi Châu Viên;
5. Xây đảo tại đá Gạc Ma;
6. Xây cất tại bãi đá Ga Ven và đá Lạc;
7. Bồi đắp đá Tư Nghĩa; và
8. Cắm cờ trên 10 cụm đá khác trong quần đảo Trường Sa.

Tháng 5/2009, Trung Quốc gửi Công hàm cho Liên Hiệp Quốc, tuyên bố chủ quyền Biển Đông được định bởi Đường chín đoạn bao gồm Hoàng Sa, Trường Sa, Đông Sa, bãi Macclesfield và bãi Scarborough.

Mỹ rút khỏi Philippines

Tài liệu giải mật cho biết vào ngày 31/1/1974 Bộ Ngoại giao Mỹ họp bàn về Hiệp ước an ninh giữa Mỹ và Philippines nếu có tranh chấp xảy ra tại Biển Đông, Ngoại trưởng Kissinger nói rõ "Chúng ta không nên nói chúng ta sẽ bảo vệ họ."

Ngày 24/11/1992, Quân đội Mỹ rút khỏi căn cứ vịnh Subic và căn cứ không quân Clark.

Tháng 2/1995, Trung Quốc điều bảy tàu chiến đến đá Vành Khăn, bắt giữ và trục xuất các ngư dân Philippines.

Tháng 4/2012, Trung Quốc tiếp tục lấn chiếm bãi cạn Scarborough.

Ngày 22/1/2013 Philippines kiện Trung Quốc về “chủ quyền Đường lưỡi bò” tại Tòa Trọng tài thường trực.



Ngày 12/7/2016, Tòa tuyên bố Philippines thắng kiện Trung Quốc không có các quyền lịch sử dựa trên bản đồ đường chín đoạn và việc xây các đảo nhân tạo là trái phép gây tổn hại nghiêm trọng đến môi trường biển.

Mỹ quay lại Biển Đông…

Ngày 26/12/1991, Liên Xô tan vỡ. Nga chuyển Cam Ranh thành nơi thám thính và theo dõi hoạt động của Trung Quốc trên Biển Đông, chiến cụ và quân đội được rút về Nga.

Năm 2002, Nga hoàn toàn rút khỏi Cam Ranh.

Từ năm 1992, Mỹ đề nghị các nước trong khu vực để Mỹ kiểm soát eo biển Maclacca.

Mỹ chuyển Bộ Tư lệnh Châu Á - Thái Bình Dương đến Singapore, viện trợ quân sự và hỗ trợ đào tạo cho sỹ quan quân đội các nước trong vùng.

Mỹ tăng cường lực lượng không quân tại đảo Guam, Hawai và tại Yokousuka ở Nhật.

Bộ Tư lệnh quân đoàn 1 lục quân Mỹ được chuyển từ Mỹ đến căn cứ Kanagwa ở Nhật và tăng cường sức mạnh quân sự tại Nhật và Nam Hàn.

Ngày 10/5/1995, lần đầu tiên Mỹ đưa ra lập trường về Biển Đông: (1) tự do hàng hải là lợi ích cơ bản của Mỹ; (2) tàu chiến và máy bay Mỹ toàn quyền qua lại Biển Đông; (3) Mỹ có lợi ích vĩnh cửu trong việc duy trì hòa bình và ổn định tại Biển Đông, và (4) Mỹ kêu gọi các bên liên quan dùng ngoại giao giải quyết tranh chấp.

Mỹ gia tăng sự hiện diện trên Biển Đông, thường xuyên tổ chức các cuộc tập trận chung với các quốc gia trong vùng.

Ngày 1/4/2001, máy bay thám thính EP-3 của Mỹ đang trên đường trở về căn cứ Okinawa thì bị 2 chiếc J-8II của Trung Quốc chặn đường gây chiến buộc phải hạ cánh xuống phi trường quân sự Linh Thuỷ ở Hải Nam.

Mỹ sau đó điều quân đến đóng tại căn cứ gần với Đài Loan hơn để dễ dàng hành động khi bị tấn công.

Tháng 10/2005, Mỹ đã thỏa thuận với Nhật Bản xây dựng căn cứ không quân mới trên đảo Okinawa gần với Đài Loan.

Năm 2007-08, Trung Quốc làm áp lực buộc hai công ty Mỹ Chevron và ExxonMobil ngừng dự án với Việt Nam.

Đến tháng 3/2009, Trung Quốc ngăn cản tàu khảo sát hải quân và tàu USNS Impeccable trong phạm vi 75 hải lý tính từ đảo Hải Nam khiến Mỹ lo ngại về tự do hàng hải.

Tháng 10/2011, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton tuyên bố chiến lược xoay trục Châu Á - Thái Bình Dương nhằm duy trì vai trò lãnh đạo thế giới của nước Mỹ.

Mỹ gia tăng quân số tại các căn cứ trong vùng, thương lượng với Thái Lan và Philippines để mở lại các căn cứ U Tapao, Subic và căn cứ không quân Clark, sẵn sàng đối phó hải quân Trung Quốc tại Biển Đông.

Tháng 11/2013, Trung Quốc tuyên bố thiết lập vùng nhận diện phòng không (ADIZ) trên vùng biển Hoa Đông.

Ngày 03/12/2014, Hạ viện Mỹ đã thông qua Nghị quyết H. Res-714 nhằm kiềm chế Trung Quốc thiết lập vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) trên Biển Hoa Đông và trên Biển Đông.

Chiến lược đối đầu Trung Quốc…

Tại Tokyo Nhật Bản ngày 04/02/2017 Ngoại trưởng Mỹ Rex Tillerson Tillerson cho biết Mỹ không để Trung Quốc kiểm soát Biển Đông, Mỹ sẽ buộc Trung Quốc dừng quân sự hóa Biển Đông, dừng các hoạt động xây dựng trên đảo nhân tạo, đồng thời chặn đường không cho Trung Quốc tiếp cận các đảo nhân tạo.

Ngày 31/12/2018, Tổng Thống Donald Trump ban hành Đạo Luật Sáng kiến Tái Bảo Đảm Châu Á (ARIA), đã được cả lưỡng đảng và lưỡng viện Quốc Hội Mỹ thông qua.

Lần đầu tiên một Đạo luật vạch ra một chiến lược toàn diện cho Ấn Độ - Thái Bình Dương.

Đạo luật ARIA bao gồm chiến lược ngoại giao, kinh tế, quân sự và chính trị đối với các quốc gia trong vùng.

Đạo luật nhấn mạnh đến Đối Tác An Ninh gồm Ba Quốc Gia Mỹ-Nhật-Hàn và Đối Thoại An Ninh gồm Bốn Quốc Gia Mỹ-Úc-Nhật-Ấn.

Với Đài Loan, đạo luật đòi hỏi chính phủ phải thực hiện các cam kết chuyển giao phương tiện quốc phòng và tăng cường quan hệ.

Đạo Luật nêu rõ các thách thức do Trung cộng gây ra tại Biển Đông, mối đe dọa vũ khí hạt nhân và hỏa tiễn của Bắc Hàn và các tổ chức khủng bố quốc tế.

Đạo Luật nhấn mạnh các giá trị về tự do dân chủ, tự do báo chí, quyền con người, nhà nước thượng tôn pháp luật… và đặc biệt nêu rõ lo ngại về vi phạm quyền tự do tại Trung Quốc, Cam Bốt, Bắc Triều tiên, Miến Điện, Lào và Việt Nam.

Biển Đông nổi sóng…

Ngày 2/1/2019 Tập Cận Bình gửi thư cho “đồng bào” Đài Loan, nhắc nhở việc thống nhất ôn hòa trên cơ sở một quốc gia hai thể chế, đồng thời cho biết: “Trung Quốc có quyền sử dụng vũ lực để thống nhất”.

Ngày 4/1/2019, tại Hội nghị quân sự ở Bắc Kinh, Tập Cận Bình tuyên bố Trung Quốc phải sẵn sàng đối phó với hành động gây chiến của Mỹ ở Biển Đông.

Ngày 7/1/2019, Phát ngôn viên của Hạm đội Thái Bình Dương Rachel McMarr cho biết tàu khu trục USS McCampbell đã tiến hành tuần tra tự do hàng hải, đi vào khu vực 12 hải lý quanh đảo Phú Lâm, đảo Cù Mộc và đảo Lincoln.

Cô Rachel McMarr cho biết sứ mệnh tuần tra nhằm thách thức yêu sách chủ quyền sai trái của Trung Quốc trên Biển Đông, đồng thời bảo đảm khả năng tiếp cận với các tuyến đường biển theo luật pháp quốc tế.

Ngày 31/12/2018, Bộ trưởng Quốc phòng Anh Gavin Williamson loan báo kế hoạch xây một căn cứ quân sự ở Đông Nam Á và một ở vùng biển Caribbe.

Ngay 16/1/2019, hải quân Mỹ và Anh thông báo vừa tập trận chung chống lại việc Trung Quốc bồi đắp các đảo và tiến hành xây dựng các căn cứ quân sự tại Biển Đông.

Tháng 12/2018, Bộ trưởng Quốc phòng Pháp Florence Parly tuyên bố Pháp sẽ gửi hàng không mẫu hạm Charles de Gaulle đến Biển Đông với lực lượng mạnh chưa từng có vào tháng 01/2019.

Đài Loan ngày 17/1/2019 tiến hành cuộc tập trận bắn đạn thật, mô phỏng một cuộc xâm lược của các lực lượng vũ trang Trung Quốc.

Kết luận

Vì quyền lợi nước Mỹ, lập trường của Mỹ thay đổi một cách rõ ràng từ không dính líu, không can thiệp, rút khỏi Hoàng Sa, Trường Sa, rồi Biển Đông 45 năm về trước.

Đến năm 1995, Mỹ xác định quyền tự do hàng hải qua lại Biển Đông và lợi ích của Mỹ trong việc duy trì hòa bình và ổn định tại Biển Đông.

Nay bằng Đạo Luật ARIA 2018 Mỹ bắt đầu triển khai chiến lược đối đầu với chủ nghĩa bành trướng của nhà cầm quyền cộng sản Bắc Kinh.

Mới đầu năm 2019, các tàu chiến Mỹ, Anh, Pháp, Úc công khai thách thức quyền kiểm soát Biển Đông và hứa hẹn một năm 2019 đầy bão tố.

Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh hôm 15/1/2019, cho biết “Việt Nam là nước sẽ chịu ảnh hưởng lớn nhất nếu xảy ra xung đột trên Biển Đông” và “Không chỉ Việt Nam, mà nhiều nước khác sẽ phải xem xét làm thế nào để điều hướng tình hình”.

Tại hội nghị thượng đỉnh thường niên ASEAN ngày 15/11/2018, Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long cho biết các nước Đông Nam Á buộc phải lựa chọn giữa Mỹ và Trung Quốc vì khó có thể dung hòa tầm nhìn của hai đối thủ.

Đứng về phía Mỹ thì phải chọn những giá trị chung tự do bầu cử, tự do báo chí, nhà nước thượng tôn pháp luật, phải thay đổi thể chế, phải tôn trọng quyền dân.

Còn chọn Trung Quốc là tự dâng biển, dâng đất ông cha để lại cho ngoại bang.

Quá khứ tranh giành quyền lực đã đưa đất nước vào chiến tranh, để Trung Quốc lấn biển, lấn đất là bài học vô cùng đắt giá Việt Nam phải trả.

Chủ động thích ứng với hoàn cảnh mới là cách hành xử sáng suốt đặt quyền lợi của đất nước của dân tộc lên trên.


Nguyễn Quang Duy
Melbourne, Úc Đại Lợi
18/1/2019

Hoàng Sa: Hết đỏ lại xanh!


Thứ bảy này - 19 tháng 1 năm 2019 - là tròn 45 năm Trung Quốc cưỡng đoạt toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam (19 tháng 1 năm 1974).

Một cuộc biểu tình năm 2016 tại Hà Nội tưởng niệm những người lính hy sinh tại Hoàng Sa.

Nhiều năm gần đây, cứ vào dịp này, những người Việt sử dụng mạng xã hội lại nhắc lẫn nhau đừng quên một phần lãnh thổ đang nằm trong tay ngoại bang và năm nay, tất nhiên cũng thế. Chỉ có một điều khác với thông lệ là hệ thống chính trị, hệ thống công quyền và hệ thống truyền thông chính thức của Việt Nam cũng… nhắc.

Ở Đà Nẵng, một “Đoàn công tác” của UBND huyện Hoàng Sa (cơ quan hành chính mà trên danh nghĩa đang quản lý - điều hành quần đảo Hoàng Sa) đã đến thăm các cá nhân từng sống, làm việc tại quần đảo Hoàng Sa trước khi toàn bộ quần đảo này bị Trung uốc cưỡng chiếm (1).

Năm nay còn có hai cơ quan trực thuộc Thành Đoàn TP.HCM (Báo Tuổi Trẻ, Nhà Văn hóa Thanh Niên) và một doanh nghiệp của Thành ủy TP.HCM ra Quảng Nam và Đà Nẵng tổ chức ngày hội có tên là “Mùa xuân biển đảo” như một cách nhắc nhở, khơi gợi ý thức trách nhiệm đối với chủ quyền quốc gia ở biển Đông (2).

Chưa kể, một số cơ quan truyền thông chính thức như Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Pháp Luật TP.HCM,… còn đăng hàng loạt tin, bài vừa nhằm khẳng định chủ quyền của Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa, vừa lên án hành động xâm lăng của Trung Quốc nhằm độc chiếm biển Đông.

Dẫu có ít nhất ba bài liên quan đến sự kiện 19 tháng 1, dẫu dẫn ý kiến của một số cá nhân từng sống và làm việc tại quần đảo Hoàng Sa như những nhân chứng cho sự thật: Hoàng Sa là của Việt Nam (!), dẫu đưa ý kiến của ông Võ Ngọc Đồng, nhân vật đang giữ vai trò Chủ tịch huyện Hoàng Sa làm tựa cho bài tường thuật về hoạt động của “Đoàn công tác” vào dịp tròn 45 năm Trung Quốc cưỡng đoạt toàn bộ quần đảo Hoàng Sa cùa Việt Nam (Người Việt Nam vẫn luôn khắc cốt ghi tâm về ngày 19 tháng 1) nhưng tờ Tuổi Trẻ đóng chặt diễn đàn của cả ba bài để độc giả không thể nói ra, nói vào.

Khác với Tuổi Trẻ, Thanh Niên mở diễn đàn cho bài “45 năm Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa của Việt Nam: Mưu đồ độc chiếm Biển Đông” và tính đến 10 giờ 30 tối 18 tháng 1 năm 2019, có 42 độc giả bình luận về bài viết này. Cả 42 bình luận ấy chỉ xoay quanh vài ý: Khen tờ báo dũng cảm! Cảm ơn vì công khai đề cập tới sự thật. Bất ngờ vì đã lâu lắm không thấy báo chí chính thức, trong đó có cả Thanh Niên nhắc đến Hoàng Sa và vạch trần dã tâm của Trung Quốc. Khẳng định sẽ ủng hộ tờ báo và hy vọng Thanh Niên sẽ còn tiếp tục nói nữa (3)!

Chắc chắn khi mở diễn đàn cho độc giả gửi bình luận, tờ Thanh Niên đã tổ chức canh gác diễn đàn rất chặt chẽ, kiểm soát các bình luận rất kỹ để ấn phẩm online không bị đình bản ba tháng như tờ Tuổi Trẻ, song các bình luận dù chỉ khen vẫn tạo cho thiên hạ cảm giác nghi ngại: Chẳng lẽ Hoàng Sa của Trung Quốc? Chẳng lẽ Việt Nam đã bị thống thuộc nên không dũng cảm, không dám đề cập? Chỉ cần khẳng định sự thật, Hoàng Sa là của Việt Nam, nhắc nhở người Việt rằng Trung Quốc đã chiếm đóng lãnh thổ của họ suốt 45 năm và dã tâm của Trung Quốc không chỉ có vậy... đã đủ khiến họ cảm động, tri ân?

Tại sao lại kỳ quái như vậy?

***

Hoàng Sa tất nhiên là một phần lãnh thổ không thể tách rời của Việt Nam và rõ ràng Trung Quốc đã cưỡng đoạt toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam là sự thật nhưng được đề cập đến những điều đó hay không lại là chuyện khác. Thực tế cho thấy, hệ thống chính trị, hệ thống công quyền ở Việt Nam đã thiết lập hệ thống đèn tín hiệu riêng cho việc đề cập đến Hoàng Sa nói riêng cũng như biển Đông nói chung.

Lúc này, hệ thống đèn tín hiệu ấy đang xanh, song nó đã từng đỏ nhiều lần, thậm chí sắc đỏ của hệ thống đèn còn đỏ hơn vì máu của những cá nhân dám kháng cự lệnh không được bày tỏ. Lê Đức Dục, tác giả bài “Tình yêu biển đảo và lời nhắc nhớ” mà tờ Tuổi Trẻ mới đăng hôm 17 tháng 1, vừa ôn lại trên facebook chuyện xảy ra cách nay năm năm, cũng vào dịp người Việt muốn nhắc nhau nhớ về quần đảo Hoàng Sa.



Vào trung tuần tháng 1 năm 2014, UBND huyện Hoàng Sa và báo Tuổi Trẻ đã đột ngột hủy “Lễ Thắp nến tri ân – Hướng về Hoàng Sa”, nhằm tưởng niệm 74 người Việt từng hiến mạng để giữ gìn chủ quyền của Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa. Tuy Ban Tổ chức hoạt động tri ân - tưởng niệm có cả Trưởng ban Tổ chức của Thành ủy Đà Nẵng, lẫn Giám đốc Sở Nội vụ của UBND thành phố Đà Nẵng nhưng họ không cưỡng được lệnh phải hủy buổi tri ân – tưởng niệm đến vào giờ chót. Lê Đức Dục may mắn hơn nhiều người trong Ban Tổ chức vì ít ra cũng có thể ngậm ngùi “Xin tưởng niệm một chương trình tưởng niệm” trên facebook (4).

Đó cũng là lý do dù hệ thống đèn tín hiệu ấy đang xanh nhưng Thuan Van Bui vẫn nửa đùa, nửa thật: Nếu có chiếc xe hơi nào đó liên tục đậu - chắn lối ra vào nhà, đừng nhắc, đừng cãi, cũng đừng đập phá vì tất cả đều là “hạ sách”. Hãy dùng “thượng sách” là lấy một tờ giấy, dùng bút dạ, viết một trong các câu: Hoàng Sa - Trường Sa là của Việt Nam. Đả đảo Trung Quốc xâm lược. Phản đối lệ thuộc toàn bộ vào Trung Quốc... rồi dán vào đầu xe, đuôi xe, bảo đảm không đầy năm phút, công an sẽ bu đen, bu đỏ để lôi cái xe đó đi… Và có cho thêm tiền cũng không ai dám đậu xe trước cửa nhà mình nữa! Đập phá những xe đậu ngang ngược vừa mất tiền đền, vừa làm cho những thằng đậu xe vô ý thức nhơn nhơn tự đắc (5).

***

Sau dịp phải tưởng niệm 45 năm ngày người Việt bị tước đoạt quần đảo Hoàng Sa, tháng tới, sẽ tròn 40 năm ngày Trung Quốc xua quân tràn qua biên giới để “dạy Việt Nam một bài học”, có facebooker như Chanh Tam đòi bạch hóa ai đã cấm đề cập về cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc, ai ra lệnh đục bỏ các bia ghi chiến tích chống quân xâm lược Trung Quốc, ai để các nghĩa trang liệt sĩ trong cuộc chiến ấy hoang tàn, lạnh lẽo. Cựu Tổng Biên tập Sài Gòn Tiếp Thị - tờ báo đã bị giải thể - kể rằng, khi bị kiểm điểm vì “100 bài viết có vấn đề”, Phó ban Tuyên giáo của Thành ủy TP.HCM đã chì chiết về Ký sự “Biên giới tháng Hai” (mô tả sự bạc bẽo đối với những người đã bỏ mạng khi chống quân xâm lược Trung Quốc) rằng: Chuyện người ta muốn quên thì các đồng chí moi lại! Để làm gì? Có phải chuyện của các đồng chí không?.. Nay, Chanh Tam thắc mắc: Người ta là ai? Ai có quyền buộc nhớ hay quên lịch sử?

Chanh Tam kể thêm rằng một nhà nghiên cứu mà facebooker này biết chắc chắn được tiếp cận “Thoả thuận cấp cao của hai đảng về bình thường hoá quan hệ hai nước Việt Nam - Trung Quốc” đã từng thì thào rằng một trong những thỏa thuận giữa các cấp cao hai bên là phải chỉ đạo không nhắc lại quá khứ không tốt đẹp... Báo chí chính thức có thể phải chấp nhận kỉ luật tuyên truyền của đảng nhưng không thể đồng tình lấy một thỏa thuận của hai đảng thành luật pháp của đất nước. Thỏa thuận của lãnh đạo cấp cao có thể là một biện pháp chính trị cần thiết nhưng chỉ đạo biến nó thành điều cấm kỵ, gieo rắc sợ hãi và hèn yếu như vừa qua là trách nhiệm của Ban Tuyên giáo. Không ai, không thế lực nào có thể đứng trên lịch sử. Đã đến lúc đảng phải minh bạch trách nhiệm này trước nhân dân. Chúng ta đã làm một lũ vô ơn, bội bạc như vậy đủ rồi (6).


Trân Văn
Blog VOA

Kế hoạch giảm biên chế năm 2019: Chỉ là trò mị dân?


Tinh giản biên chế là cụm từ được truyền thông trong nước nói đến nhiều từ năm 2011, khi Chính phủ ban hành Nghị quyết về chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước đến năm 2020. Chương trình này được chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn 1 từ năm 2011 đến năm 2015 và giai đoạn 2 từ năm 2016 đến năm 2020.

Một thành viên của phái đoàn Việt Nam ngủ gật tại Phiên họp cấp cao Đại hội đồng LHQ khóa 73 tại trụ sở LHQ ở New York ngày 25 tháng 9 năm 2018.


Nhấp vào nút play (►) dưới đây để nghe
Trọng tâm của chương trình là cải cách thể chế; xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, chú trọng cải cách chính sách tiền lương nhằm tạo động lực thực sự để cán bộ, công chức, viên chức thực thi công vụ có chất lượng và hiệu quả cao; nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính và chất lượng dịch vụ công.

Tại Hội nghị toàn quốc triển khai nhiệm vụ của ngành Nội vụ năm 2019 vào sáng 15/1/2019, Bộ Nội vụ dự kiến năm 2019 sẽ giảm 44.000 biên chế hưởng lương.

Tiến sĩ kinh tế Phạm Chí Dũng ở Sài Gòn nhận định con số 44.000 thực ra rất khiêm tốn so với con số mà Nhà nước dự định giảm cho đến năm 2020, và còn nhỏ hơn nữa so với con số biên chế hiện nay ở Việt Nam. Ông cho rằng việc giảm biên chế là đúng vì nhân sự quá nhiều, quá tốn ngân sách Nhà nước mà làm việc không hiệu quả

Lý do để giảm biên chế, thứ nhất là số lượng công chức viên chức đã phình ra kinh khủng, chiếm đến gần 3 triệu người và cực kỳ mất cân đối so với nhu cầu hành chính và quản lý dân số xã hội.

- TS. Phạm Chí Dũng
“Lý do để giảm biên chế, thứ nhất là số lượng công chức viên chức đã phình ra kinh khủng, chiếm đến gần 3 triệu người và cực kỳ mất cân đối so với nhu cầu hành chính và quản lý dân số xã hội. Hiện tượng bộ máy công chức ngồi chơi xơi nước chiếm một tỷ lệ rất cao. Đã có những con số ước đoán ngay trong nội bộ đưa ra ước đoán khoảng 1/3 số công chức sáng cắp ô đi tối cắp ô về và vẫn lãnh lương.

Lý do thứ hai là tỷ lệ chi lương cho bộ phận công chức viên chức là quá cao, hiện chiếm tới khoảng 74% tổng chi ngân sách, trong khi ở các nước con số này chỉ khoảng 50%. Như vậy đây là tỷ lệ rất cao và gây ra phản ứng phẫn nộ của người dân với việc người dân phải nai lưng ra đóng thuế để nuôi một đội ngũ ăn không ngồi rồi và chẳng được tích sự gì cả.”


Giáo sư Tương Lai, Cựu Viện trưởng Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, từng là thành viên nhóm cố vấn cho các cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt và Phan Văn Khải, cũng có cùng nhận định:

“Vấn đề nó quá rõ rồi, bởi vì một cái ngân sách như thế và phải nuôi số lượng người trong biên chế gồm viên chức nhà nước, quân đội, công an và tất cả các đoàn thể… thì không có một ngân sách nào có thể chịu được.”

Liệu có khả thi?

Mục đích của mọi cuộc tinh giản biên chế từ bao nhiêu năm nay được cho là nhằm tạo ra được bộ máy công quyền hoạt động hiệu quả với số lượng nhân sự phù hợp, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân trong điều kiện ngân sách nhà nước còn hạn hẹp.



Ngay khi đưa ra chương trình tinh giản biên chế 8 năm trước, Chính phủ cũng xác định đến năm 2020, tiền lương của cán bộ, công chức, viên chức sẽ bảo đảm được cuộc sống và gia đình ở mức trung bình khá trong xã hội.

Nhiều người tỏ ra nghi ngờ mục tiêu này của Chính phủ. Ông Lê Văn Cuông, nguyên Phó trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa nêu lên ý kiến của mình với RFA rằng, việc này không dễ dàng thực hiện vì sẽ thừa ra rất nhiều lãnh đạo:

“Thu gọn lại thì ảnh hưởng đến chức vụ. Thí dụ trước đây có ba, bốn cấp trưởng, năm, sáu cấp phó. Bây giờ chỉ còn một cấp trưởng, hai cấp phó thì không dễ dàng thực hiện được… Lâu nay trên Diễn đàn Quốc hội và trong dư luận cũng ca thán là bộ máy cồng kềnh, thuế lại nuôi bộ máy đó, ảnh hưởng đến ngân sách nhà nước. Thứ hai, bộ máy cồng kềnh làm cho hiệu quả phục vụ nhân dân giảm sút.”

Không có gì cải thiện

Tại hội nghị triển khai kế hoạch của Chính phủ về tinh giản biên chế đầu năm 2016, ông Thái Quang Toản, Vụ trưởng Tổ chức biên chế thuộc Bộ Nội vụ cho hay, trong năm 2015 và số đăng ký 6 tháng đầu năm 2016, có trên 9.000 công chức, viên chức bị tinh giản biên chế. Phần lớn số người tinh giản được hưởng chính sách về hưu trước tuyển, một số cho thôi việc ngay.

Với kế hoạch giảm 44.000 biên chế trong năm 2019 được Nhà nước đưa ra, Tiến sĩ Phạm Chí Dũng tỏ ra không tin việc này sẽ thành hiện thực. Ông lấy “thành tích” đạt được trong giai đoạn giảm biên chế từ 2011 đến 2015 để dẫn chứng:

Tất cả những điều đó chỉ là trò mị dân để xoa dịu sự phẫn nộ của dân chúng, là những người nai lưng ra đóng thuế để nuôi một bộ máy hành là chính.

- TS. Phạm Chí Dũng
“Năm 2016 khoe khoang thành tích giảm ba ngàn công chức trong tổng số ba triệu công chức. Nhưng thực tế giảm được ba ngàn công chức thì lại tăng 123 ngàn viên chức, cũng là biên chế nhà nước.

Công chức thì thuộc khối quản lý nhà nước và viên chức thì thuộc khối sự nghiệp có thu, tức là những đơn vị thuộc các bộ ngành trung ương mà có hoạt động công ích hoặc hoạt động kinh doanh nhưng không phải là đơn vị doanh nghiệp độc lập. Nhìn vào thành tích như vậy để thấy là không có gì cải thiện. Đó là giai đoạn từ 2011 đến 2016.”


Ông cho rằng ở Việt Nam, chuyện ‘nước chảy chỗ trũng’ hay ‘đánh bùn sang ao’ là cực kỳ phổ biến, và mối quan hệ chằng chịt giữa các quan chức với nhau và người nhà quan chức đã sinh ra tình trạng chạy ghế quan chức, và khi giảm biên chế thì xin chạy từ chỗ này sang chỗ khác. Cuối cùng là chẳng giảm được ai cả.

Báo cáo tổng kết công tác năm 2016 của Ban Tổ chức Trung ương khẳng định vẫn chưa khắc phục được tình trạng cồng kềnh, chồng chéo, hoạt động kém hiệu lực, hiệu quả của tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị. Theo ban này, sau hơn một năm thực hiện Nghị quyết 39 của Bộ Chính trị ban hành ngày 17/4/2015, tổng biên chế cả nước đã tăng thêm hơn 11.000 người. Điều này có nghĩa là chủ trương tinh giản không hiệu quả.

Tiến sĩ Phạm Chí Dũng đưa ra kết luận về việc Nhà nước tiếp tục đưa ra kế hoạch tinh giản biên chế cho năm 2019:

“Tất cả những điều đó chỉ là trò mị dân để xoa dịu sự phẫn nộ của dân chúng, là những người nai lưng ra đóng thuế để nuôi một bộ máy hành là chính”.


Diễm Thi
RFA

Phát triển năng lượng tại Việt Nam: Ô nhiễm môi trường nhưng vẫn phụ thuộc vào năng lượng than


Chủ tịch danh dự Quỹ hòa bình quốc tế Carnegie, cựu Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry vừa lên tiếng kêu gọi Việt Nam không cần thiết phải là “tù nhân” lệ thuộc vào năng lương than mà có đủ điều kiện tham gia vào năng lượng sạch.

Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 2, một trong bốn nhà máy điện than của Trung tâm nhiệt điện Vĩnh Tân tại Bình Thuận.


Nhấp vào nút play (►) dưới đây để nghe
Đài RFA ghi nhận tình trạng tiến thoái lưỡng nan của Việt Nam trong vấn đề ô nhiễm môi trường nhưng vẫn phụ thuộc vào năng lượng than hiện nay.
Lệ thuộc vào năng lượng than

Phát biểu tại Hội thảo chuyên đề về “Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu và củng cố an ninh năng lượng, đảm bảo phát triển bền vững” và Triển lãm “Công nghệ năng lượng mới”, được tổ chức vào sáng ngày 17 tháng 1 năm 2019 ở Hà Nội, Chủ tịch danh dự Quỹ hòa bình quốc tế Carnegie, cựu Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry nhấn mạnh đến nhu cầu tiêu thụ than của Châu Á-Thái Bình Dương là nhiều nhất trên thế giới, trong đó khu vực Đông Nam Á tăng cao nhất với mức tăng 5% so với toàn cầu. Đồng thời, ông John Kerry cũng lên tiếng cảnh báo Việt Nam không cần thiết phải là “tù nhân”, lệ thuộc vào năng lượng than.

Trước đó, tại "Diễn đàn năng lượng Việt Nam: Những thách thức trong đảm bảo an ninh năng lượng gắn với phát triển bền vững", diễn ra hôm 09/09/18 Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), ông Ngô Sơn Hải cho biết tốc độ tiêu thụ điện tại Việt Nam gia tăng bình quân khoảng hơn 12%/năm từ 2003 đến 2018 và dự kiến tốc độ này sẽ tăng trưởng ở mức cao, gần 300 tỷ kWh vào năm 2020 và gần 650 tỷ kWh vào năm 2030. Ông Ngô Sơn Hải cho biết thêm với tốc độ tăng trưởng như thế thì tình trạng thiếu điện ở Việt Nam, cụ thể là khu vực phía Nam có thể tăng cao và kéo dài đến năm 2030.

Phó Tổng giám đốc Tập đoàn EVN nói rằng để đáp ứng nhu cầu thiếu hụt về điện, Việt Nam lên kế hoạch xây dựng thêm các nhà máy điện than. Hiện có 7 nhà máy điện than với công suất 7,860 MW đang xây dựng. Dự kiến các nhà máy điện than cung cấp khoảng 18,000 MW đến 26,000 MW sẽ đi vào hoạt động trong vòng 5 năm nữa.


Cơ bản việc thực thi pháp luật ở Việt Nam còn yếu kém, cơ quan quản lý môi trường yếu kém về năng lực cũng như chưa làm tròn trách nhiệm nên trong thực tế nhiều nhà máy gây ra ô nhiễm, gây ảnh hưởng sức khỏe cũng như suy thoái môi trường chung quanh nhà máy điện-


Giáo sư Phạm Ngọc Đăng
Hồi hạ tuần tháng 7 năm 2017, Trung tâm nghiên cứu Stimson ở Washington DC, Hoa Kỳ công bố báo cáo nghiên cứu về việc phát triển năng lượng tái tạo tại khu vực tiểu vùng Mekong, trích nguồn từ Chính phủ Việt Nam đưa ra số liệu đến năm 2030, điện than tại Việt Nam sẽ chiếm 42,7% và đang có kế hoạch phát triển thêm 41 nhà máy nhiệt điện than đến năm 2030.

Vào cuối tháng 11 năm 2018, Ngân hàng Thế giới-World Bank tại Việt Nam thông báo Việt Nam cần số tiền rất lớn, lên đến 150 tỷ đô la Mỹ (USD) để đầu tư sản xuất năng lượng và các nhà máy điện chạy bằng than vẫn sẽ được xây dựng, mặc dù gây ô nhiễm nhưng có giá thành rẻ.

Giáo sư Phạm Ngọc Đăng, Giám đốc Trung tâm Kinh tế Môi trường, Đầu tư và Khu công nghiệp, thuộc Đại học Xây Dựng, lên tiếng với RFA về các quy định đối với việc vận hành của nhà máy điện than tại Việt Nam:

“Nhiệt điện ở Việt Nam sử dụng nguyên liệu truyền thống là than. Đây là loại nguyên liệu tương đối rẻ tiền và sẵn có của Việt Nam. Việc đốt than gây ô nhiễm ra môi trường xung quanh là đương nhiên do việc đốt than sinh ra bụi, SO2, NOX, CO2… Về khí thải có qui định mức tối đa cho phép đối với bụi, SO2, NOX, CO. Đây là 4 yếu tố quan trọng nhất gây ra ô nhiễm môi trường. Đồng thời cũng qui định nước thải không được vượt quá nhiệt độ thải ra môi trường gây hại cho các hệ sinh thái. Đối với chất thải rắn cũng có qui định phải xử lý triệt để.”

Giáo sư Phạm Ngọc Đăng cho rằng “Nếu thực hiện đúng qui chuẩn kỹ thuật môi trường thì tôi chắc cũng không có vấn đề gì nghiêm trọng. Nếu thực thi đúng những qui định về quản lý và kỷ thuật thì bảo vệ môi trường được thôi.” Tuy nhiên, Giáo sư Phạm Ngọc Đăng nhấn mạnh về tình trạng thực tế của các nhà máy điện than:

“Cơ bản việc thực thi pháp luật ở Việt Nam còn yếu kém, cơ quan quản lý môi trường yếu kém về năng lực cũng như chưa làm tròn trách nhiệm nên trong thực tế nhiều nhà máy gây ra ô nhiễm, gây ảnh hưởng sức khỏe cũng như suy thoái môi trường chung quanh nhà máy điện.”


Nhà máy điện gió đầu tiên của Việt Nam, đặt tại tỉnh Bạc Liêu. Hình chụp ngày 02/05/14. AFP
Hậu quả song hành

Phát biểu khai mạc Hội thảo chuyên đề về “Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu và củng cố an ninh năng lượng, đảm bảo phát triển bền vững” và Triển lãm “Công nghệ năng lượng mới”, Trưởng ban Kinh tế Trung ương, ông Nguyễn Văn Bình cho biết Việt Nam là một trong năm quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu, gây tác động làm chậm quá trình phát triển kinh tế-xã hội.



Ông Nguyễn Văn Bình nhấn mạnh rằng biến đổi khí hậu làm gia tăng hơn nữa mức độ phụ thuộc năng lượng, và song song đó việc phát triển các nguồn năng lượng truyền thống lại là nguyên nhân chủ yếu làm gia tăng hiệu ứng nhà kính, là tác nhân trực tiếp gây ra biến đổi khí hậu.

Trong khi đó, cũng tại Hội thảo, cựu Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry khẳng định rằng nhu cầu sử dụng than của Việt Nam tăng 75% là không được, đồng thời lên tiếng cảnh báo tình trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam là nghiêm trọng kể từ năm 2008. Ông John Kerry so sánh có thời điểm mức độ ô nhiễm tại Hà Nội cao hơn Bắc Kinh, Trung Quốc và New Deli, Ấn Độ và đó là nguyên nhân dẫn tới sự bùng nổ các loại bệnh về hô hấp, gây tử vong cao.

Theo Số liệu của Tổ chức phi chính phủ GreenID đưa ra tại Hội thảo “Chất lượng không khí ở Hà Nội – Tình trạng và các biện pháp khoa học và công nghệ” tổ chức tại Hà Nội hồi đầu tháng 6 năm 2017 cho thấy lượng bụi PM2.5 của Hà Nội được xác định cao gấp đôi quy chuẩn quốc gia và gấp 5 lần so với khuyến nghị của Tổ chức Y tế thế giới (WHO). Trong một báo cáo của Tổ chức GreenID được phổ biến vào đầu năm 2018, còn cho thấy năm 2017, người dân Hà Nội chỉ có 38 ngày được hít thở không khí trong lành và có đến 91% số ngày trong năm ở Hà Nội mà không khí ô nhiễm vượt mức cho phép, dựa theo số liệu do trạm quan trắc không khí của Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội ghi nhận và quan sát liên tục từ năm 2016.

GreenID xác định nguyên nhân gây nên tình trạng này là do các nhà máy nhiệt điện than, khí thải giao thông, thải công nghiệp, đun nấu gia đình và ô nhiễm xuyên biên giới gây nên. Hồi năm 2015, GreenID đưa ra số liệu hàng năm khoảng 4.300 người Việt Nam chết yểu vì những chứng bệnh liên quan đến nhiệt điện than. GreenID còn cảnh báo con số này có thể tăng thành 25.000 khi tất cả các dự án nhiệt điện than theo qui hoạch đi vào hoạt động.

Để xử lý môi trường phải sử dụng các hệ thống lọc bụi tĩnh điện, lọc bụi tay áo và các hệ thống xử lý SO2, NO2…là rất tốn tiền. Ngoài ra là vấn đề đổ thải của nhà máy nhiệt điện than. Một năm, một nhà máy nhiệt điện chạy than 600 MW, người ta phải dùng đến hơn một triệu tấn than, trong đó 70% là đốt hết, còn 30% là chất xỉ. Chất xỉ này phải đổ mà đổ thì gây ô nhiễm môi trường, mà không có chỗ nào để đổ nữa. Muốn đổ phải đưa ra ngoài biển, ngoài khơi thì tốn kém-

Tiến sĩ Lê Trình
Một Báo cáo của nhóm nghiên cứu Đại học Harvard về gánh nặng bệnh tật do nhiệt điện than công bố vào năm 2015, cũng đã ước tính số ca tử vong sớm ở Việt Nam do ô nhiễm nhiệt điện than sẽ tăng từ 4.300 ca vào năm 2011 lên 15.700 ca vào năm 2030. Nhóm này cũng tính toán nếu cả thảy 41 nhà máy nhiệt điện mà Việt Nam dự tính đều được hoàn tất vào năm 2030 thì số người tử vong sớm có thể tăng lên đến 25.000 người mỗi năm, chưa kể kèm theo đó là chi phí y tế khổng lồ do sự suy giảm sức khoẻ của người dân.

Chuyên gia môi trường Nguyễn Văn Khải từng khẳng định với RFA về tác hại của bụi xỉ than lên sức khỏe con người:

“Quanh đi quẩn lại tất cả các chất độc sẽ làm hại đất, nhưng dễ nhất là nó làm người ta thở không được, làm viêm phổi,viêm hoặc ung thư vòm họng. Bụi than xỉ than làm người ta không thể mở cửa nhà, cửa sổ.”

Đài RFA ghi nhận trong những năm gần đây, cụm nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân ở Bình Thuận gây ra ô nhiễm không khí và nguồn nước, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống và sức khỏe của dân chúng, dẫn đến đã xảy ra nhiều cuộc biểu tình bạo động yêu cầu đóng cửa các nhà máy điện than ở đây.

Trong bối cảnh Việt Nam đối mặt với nguy cơ thiếu hụt năng lượng trong những năm tới, mặc dù Chính phủ Hà Nội nỗ lực thúc đẩy việc phát triển năng lượng sạch như điện gió, điện mặt trời, điện sóng…nhưng vẫn phải tiếp tục phụ thuộc vào năng lượng than với tuyên bố của Bộ Công Thương rằng Việt Nam đang cố gắng tìm kiếm các giải pháp tốt để khắc phục được vấn đề ô nhiễm của điện than. Thế nhưng, Phó Giáo sư-Tiến sĩ Lê Trình, Viện trưởng Viện Môi trường và Phát triển bền vững khẳng định chi phí xử lý môi trường cho loại năng lượng than là rất tốn kém. Tiến sĩ Lê Trình phân tích:

“Để xử lý môi trường phải sử dụng các hệ thống lọc bụi tĩnh điện, lọc bụi tay áo và các hệ thống xử lý SO2, NO2…là rất tốn tiền. Ngoài ra là vấn đề đổ thải của nhà máy nhiệt điện than. Một năm, một nhà máy nhiệt điện chạy than 600 MW, người ta phải dùng đến hơn một triệu tấn than, trong đó 70% là đốt hết, còn 30% là chất xỉ. Chất xỉ này phải đổ mà đổ thì gây ô nhiễm môi trường, mà không có chỗ nào để đổ nữa. Muốn đổ phải đưa ra ngoài biển, ngoài khơi thì tốn kém.”

Tại Hội thảo diễn ra trong ngày 17 tháng 1 ở Hà Nội, Cựu Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry nhấn mạnh rằng thế giới đang đối diện với hệ quả của nhiệt điện than là tác động phát thải hiệu ứng nhà kính, kể cả áp dụng công nghệ mới thì vẫn là công nghệ bẩn nhất, phát thải lớn nhất. Chủ tịch danh dự Quỹ hòa bình quốc tế Carnegie, ông John Kerry kêu gọi Việt Nam cần giảm sự phụ thuộc vào năng lượng than và tăng năng lượng tái tạo, năng lượng sạch vì Việt Nam có điều kiện thuận lợi. Ông John Kerry nói rằng đây mới là giải pháp để Việt Nam tiếp tục tăng trưởng nhanh và bền vững.

Trong cuộc phỏng vấn với Reuters bên lề Hội nghị Thượng đỉnh G7, hồi tháng 6 năm 2018 tại Canada, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho biết Việt Nam có kế hoạch tăng gấp 3 lần năng lượng điện sản xuất từ các nguồn tái tạo đến năm 2030 và có thể sử dụng khoảng 20 triệu tấn dự trữ đất hiếm, mà ông nói là lớn nhất thế giới, trong việc xây dựng công nghệ năng lượng mới.

Mặc dù vậy, giới chuyên gia môi trường mà Đài Á Châu Tự Do có dịp trao đổi cho rằng Việt Nam đang bế tắc trong chiến lược năng lượng và để đạt được mục tiêu năng lượng xanh thì con đường đó còn rất dài đối với Việt Nam.


Hòa Ái
RFA

Bảo vệ người tố giác tham nhũng: Con đường từ cơ chế đến thực tế còn gập ghềnh


Bộ Chính trị vừa ban hành chỉ thị về tăng cường công tác bảo vệ người phát hiện, tố giác tham nhũng… Chỉ thị này cũng như Luật tố cáo 2018 vừa có hiệu lực có dễ dàng thực thi?

Sách luật khiếu nại và luật tố cáo. (Ảnh minh họa)

“Việc thực thi pháp luật còn lơ là, yếu kém”


Nhấp vào nút play (►) dưới đây để nghe
Ngày 16 tháng 1 năm 2019, thường trực Ban bí thư Trần Quốc Vượng vừa ký ban hành Chỉ thị số 27 về tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng trong công tác bảo vệ người phát hiện, tố giác tham nhũng…

Ông Vượng cho rằng, chỉ thị này nhằm góp phần tạo động lực, khuyến khích người tố cáo, người đấu tranh chống tham nhũng, chống lãng phí, chống tiêu cực, nhưng không làm ảnh hưởng đến sự an toàn của người tố cáo.

Giáo sư Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam nhận xét về chỉ thị 27:

Tôi xin nói thẳng, ở Việt Nam hay có tình trạng, pháp luật thì thông qua rồi, nhưng việc thực thi pháp luật còn lơ là, yếu kém.

-GS Đặng Hùng Võ
“Tôi cho rằng chỉ thị 27 là một điểm nhấn trong chính sách bảo vệ người tố cáo nói chung, trong đó chiếm đa số là tố cáo tham nhũng. Tôi xin nói thẳng, ở Việt Nam hay có tình trạng, pháp luật thì thông qua rồi, nhưng việc thực thi pháp luật còn lơ là, yếu kém. Chính vì vậy, bên đảng ra thêm một chỉ thị nữa, đó là thực thi pháp luật tố cáo trong đó có một nội dung mới được sửa đổi quốc hội thông qua, là những cơ chế bảo vệ người tố cáo cần được tiến hành tốt hơn về mặt pháp luật. Tôi cho rằng điều này tốt cho việc chống tham nhũng ở Việt Nam.”

Theo Chỉ thị 27, một trong những nguyên nhân hạn chế về việc bảo vệ người tố cáo, là do cấp ủy đảng, tổ chức đảng ở một số địa phương chưa quan tâm đến công tác này.

Trao đổi với Đài Á Châu Tự Do hôm 17/1/2019, Luật sư Trần Quốc Thuận, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội đưa ra nhận xét về chỉ thị này:

“Thường những chỉ thị trong đảng người ta nói trong nội bộ đảng là chính, còn Luật tố cáo thì người ta nói trên phạm vi toàn xã hội, tất cả mọi người dân. Còn những biên bản của đảng thì nó có giá trị trong nội bộ đảng là chính.”

Theo luật sư Trần Quốc Thuận, ở Việt Nam chuyện gì cũng có luật cả. Chuyện khuyến khích nhân dân tố cáo tiêu cực, tham nhũng không chỉ có văn bản quy định mà ngay cả những người lãnh đạo đảng, nhà nước cũng hô hào. Theo ông, luật cũng quy định người tố cáo được bảo vệ, nhưng vấn đề là cơ chế để bảo vệ như thế nào thì chưa được cụ thể lắm.

Phát biểu lúc giới thiệu chỉ thị 27 tại Hà Nội, ông Trần Quốc Vượng cho rằng, mặc dù thời gian qua chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương, quy định trong việc bảo vệ người tố cáo tham nhũng. Tuy nhiên, theo ông Vượng vẫn còn nhiều hạn chế như tình trạng lộ thông tin của người tố cáo, nhiều trường hợp người tố cáo không được bảo vệ, bị trả thù, trù dập...



Ngày 16 tháng 1 năm 2019, thường trực Ban bí thư Trần Quốc Vượng vừa ký ban hành Chỉ thị số 27 về tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng trong công tác bảo vệ người phát hiện, tố giác tham nhũng… Courtesy chinhphu.vn
Bà Lê Hiền Đức, một cụ bà được nhiều người tại Việt Nam biết đến vì từng giúp nhiều người khác đấu tranh chống tham nhũng. Bà cũng từng được Tổ chức Minh bạch Quốc tế trao giải thưởng Liêm chính năm 2007. Khi nói chuyện với chúng tôi hôm 17/1, bà kể lại chuyện bà bị hăm dọa trả thù khi tố cáo tham nhũng trước đây:

“Từ nhiều năm nay, đối với tôi thì phải hơn chục năm rồi, khi mà tôi tố cáo bọn tham nhũng rất nhiều chuyện, phanh phui rất nhiều sai phạm của bọn tham nhũng, tôi không sợ gì hết. Tôi còn nhớ khi tôi tố cáo một cán bộ bên tập đoàn VNPT và tố cáo một hiệu trưởng ăn bớt tiền ăn của học trò cấp một trong hai năm liền, khi đó không biết ai trong số những người tôi tố cáo còn thuê người đem đến trước cửa nhà tôi, chặn một vòng hoa tang cao hơn đầu người tôi, với dòng chữ ‘Kính Viếng Hương Hồn Cụ’. Đấy là một điều chúng nó khủng bố tôi, nhưng tôi đã tố cáo và tôi chống tham nhũng thì tôi không sợ một cái gì cả. Chứ còn người tố cáo có được bảo vệ hay không? Khi ông Trần Quốc Vượng đưa chỉ thị đó ra, tôi hoan nghênh, nhưng quan trọng nhất là có làm được đúng như chỉ thị đó hay không?”

Chỉ thị số 27 của Bộ Chính trị được ban hành ngay thời điểm Luật Tố cáo 2018 vừa có hiệu lực nhằm thay thế cho Luật Tố cáo 2011, được cho rằng nhằm nhắc nhở việc thực thi pháp luật tố cáo.

Còn nhiều quan ngại

Tuy nhiên trong những điểm mới Luật Tố cáo 2018, cũng có một số điểm gây quan ngại. Như theo khoản 3 Điều 24, tố cáo không thuộc thẩm quyền giải quyết thì không xử lý. Điều khoản này này làm dấy lên quan ngại sẽ gây khó khăn cho người tố cáo. Bà Lê Hiền Đức kể lại kinh nghiệm của mình liên quan vấn đề này:

“Rất nhiều cán bộ bị tôi tố cáo nhưng nó bao che cho nhau, nó đùn đẩy chỗ nọ chỗ kia. Thanh tra bộ thì đẩy xuống tỉnh, tỉnh lại không giải quyết, lại trả lời tôi là tố cáo của tôi không có căn cứ. Nghĩa là trên thì đẩy xuống, dưới đẩy lên, và chúng nó bao che cho nhau, chúng nó không xử lý.”

Với tin thần của luật tố cáo, thì người tố cáo phải tố cáo đúng sự việc và đúng địa chỉ, chứ bây giờ giữa tố cáo và nói xấu này kia thì nó mênh mông lắm.

-LS. Trần Quốc Thuận
Giáo sư Đặng Hùng Võ cũng nhìn nhận hạn chế này, ông đưa ra khuyến nghị:

“Không đúng thẩm quyền thì không giải quyết cũng là một nguyên tắc pháp luật đúng. Nhưng trong hướng dẫn thực thi phải có thêm cái điều là người nhận tố cáo dù ở vị trí nào nếu không giải quyết thì vẫn phải chuyển về đúng nơi có thẩm quyền giải quyết. Tôi cho rằng đấy cũng là một điểm rất quan trọng.”

Chỉ thị 27 của Bộ chính trị cũng nhìn nhận tình trạng để lộ thông tin của người tố cáo, không ít trường hợp bị trả thù… Tuy nhiên, theo khoản 1 điều 25 của Luật Tố cáo 2018 quy định, khi nhận được thông tin có nội dung tố cáo nhưng không rõ họ tên, địa chỉ của người tố cáo hoặc dùng họ tên của người khác để tố cáo thì cơ quan có thẩm quyền không xử lý.

Liên quan vấn đề này, Luật sư Trần Quốc Thuận nhận định:

“Với tin thần của luật tố cáo, thì người tố cáo phải tố cáo đúng sự việc và đúng địa chỉ, chứ bây giờ giữa tố cáo và nói xấu này kia thì nó mênh mông lắm. Mà gởi không có địa chỉ thì cũng không có ai mà bám theo lời nói đó. Thường trên mạng xã hội nó nhiều ý kiến lắm, nhưng mà không phải cứ cái gì trên mạng xã hội là chuyển thành tố cáo phải giải quyết, cái đó thì không ổn vì nó không có chứng cứ gì cả?”

Luật sư Thuận cho rằng, việc này nhằm đề phòng việc lợi dụng để nói chuyện này kia không chúng cứ. Nhưng theo ông, luật tố cáo cũng nêu rõ, nếu mà có chứng cứng cụ thể thì cũng phải xem xét, chứ không phải là bác bỏ.

Theo Giáo sư Đặng Hùng Võ, công khai danh tính để người tố cáo phải có trách nhiệm với việc mình tố cáo. Bởi vì đã có trường hợp nhiều người cũng đã từng lợi dụng việc tố cáo để hại người khác. Ông cho rằng việc công khai nhân thân người tố cáo là việc cần thiết để tăng hiệu quả việc tố cáo.

Luật sư Trần Quốc Thuận cũng cho biết, Luật tố cáo 2018 vừa có hiệu lực và Chỉ thị 27 của Ban bí thư không có gì mâu thuẫn nhau. Chỉ thị này khuyến khích người dân tố cáo và không loại bỏ người tố cáo dù là ở cương vị xã hội nào vẫn được bảo vệ. Ông cho đó là một biểu hiện tích cực, tuy nhiên ông bày tỏ mong muốn việc này sẽ được diễn ra trong thực tế chứ không phải chỉ trong văn bản.


Trung Khang
RFA

Lần đầu tiên Việt Nam nói rõ sự khác biệt với Trung Quốc trong tranh chấp Biển Đông?


Trong buổi họp báo ngày 16/1/2017 tại Hà Nội, Ngoại trưởng Việt Nam, ông Phạm Bình Minh nói rằng việc tiến hành soạn thảo Bộ qui tắc ứng xử trên Biển Đông (COC) là chậm trễ, và nhiều điểm từ trong Tuyên bố về bộ qui tắc ứng xử (DOC) không được các bên tham gia nghiêm túc coi trọng.

Chiến hạm USS McCampbell của Mỹ hoạt động tại Thái Bình Dương, năm 2005. Chiến hạm này đã hành quân vào Hoàng Sa đầu tháng 1/2019.

Ngoài ra trong buổi họp báo ông Phạm Bình Minh còn đưa ra những bình luận khác về quan hệ với các cường quốc trên Biển Đông, về những nghi ngờ tiết lộ nội dung việc thương lượng giữa các bên.

Nội dung của cuộc họp báo này được trang tiếng Anh Vietnam News của nhà nước Việt Nam đăng tải, trong khi đó tất cả các tờ báo lớn bằng tiếng Việt lại không có.

Đánh giá về những phát biểu của ông Phạm Bình Minh, Tiến sĩ Hà Hoàng Hợp, một nhà quan sát độc lập làm việc tại Singapore nói với RFA:

“Điều ông ấy nói rất là mới, từ trước giờ chưa có ai Bộ trưởng Ngoại giao nói thẳng như thế cả. Mà nói thẳng ra lúc này là tốt, vì cái khác biệt giữa Việt Nam và Trung Quốc từ trước đến nay ai cũng rõ nhưng chưa ai nói rõ cả, nói rõ như vậy là rất tốt, nhất là với quốc tế.”

DOC được đưa ra từ năm 2002, đến 2012 thì COC bắt đầu được soạn thảo với mong muốn điều tiết được những xung đột trên Biển Đông giữa các quốc gia Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Malaysia, và Brunei là những nước đang có những tranh chấp về lãnh hải trên biển.

Điều ông ấy (Phạm Bình Minh) nói rất là mới, từ trước giờ chưa có ai Bộ trưởng Ngoại giao nói thẳng như thế cả.

-Tiến sĩ Hà Hoàng Hợp.
Ông Phạm Bình Minh có nói đến việc COC phải là một văn bản có sự ràng buộc về pháp lý. Ông không đề cập đến Trung Quốc, nhưng nhiều nhà quan sát cho rằng chính Bắc Kinh là quốc gia không muốn có một sự ràng buộc về pháp lý, để có thể dễ dàng thao túng khi tranh chấp với các quốc gia Đông Nam Á nhỏ và yếu hơn.

Tiến sĩ Hà Hoàng Hợp nói tiếp;

“COC là phải có tính pháp lý, không chỉ Việt Nam mà những nước khác nữa, chỉ có Trung Quốc thì quan niệm rằng biển đảo là của họ, các nước khác phải khai thác chung với họ, nói như thế ai mà chịu được.”

Trích dẫn những phát biểu của ông Phạm Bình Minh, tác giả Keegan Elmer của tờ Bưu điện Hoa Nam tại Hong Kong cho rằng Việt Nam đang mệt mỏi và mất kiên nhẫn với tiến trình đàm phán trên Biển Đông.

Ông Hà Hoàng Hợp cho rằng tựa đề đó trên tờ Bưu Điện Hoa Nam là không đúng, vì ông Phạm Bình Minh chỉ nói rõ ra quan điểm của Việt Nam xưa nay mà thôi. Ngoài ra ông Hà Hoàng Hợp còn nói rằng ông Phạm Bình Minh cũng muốn ám chỉ là Trung Quốc đang câu giờ để họ có thể từ từ chiếm đóng các đảo, xây đảo nhân tạo, lập nên một hiện trạng và bắt các quốc gia khác phải công nhận.

Liên quan đến sự hiện diện của các cường quốc như Mỹ, Anh, Nhật Bản trong khu vực Biển Đông, ông Phạm Bình Minh nói rằng việc các cường quốc tìm kiếm đồng minh là một lẽ tự nhiên, và Việt Nam cũng như các quốc gia nhỏ khác cũng phải tìm cách sống còn trong sự cạnh tranh đó.

Ông nhấn mạnh rằng Việt Nam luôn duy trì một đường lối đối ngoại độc lập.

Cuộc họp báo của ông Phạm Bình Minh diễn ra vài ngày sau việc chiến hạm Mỹ USS McCampell đi sát các đảo do Trung Quốc chiếm giữ tại quần đảo Hoàng Sa.



Đây là diễn biến mới nhất của cái gọi là chiến dịch tự do hàng hải do Mỹ chủ xướng cùng các đồng minh Anh, Úc, Pháp kéo dài trong ba năm qua nhằm thách thức tất cả những đòi hỏi chủ quyền biển xung quanh những đảo đá nhỏ trên Biển Đông.

Bộ ngoại giao Việt Nam lên tiếng khẳng định chủ quyền của mình tại Hoàng Sa.

Cũng tác giá Keegan Elmer, dựa theo tuyên bố của Bộ Ngoại giao Việt Nam viết trên tờ Bưu điện Hoa Nam cho rằng Việt Nam đang lợi dụng việc Mỹ và đồng minh phương Tây tiến hành chiến dịch tự do hàng hải để tái khẳng định chủ quyền của mình, hơn nữa theo tác giả này Việt Nam muốn thể hiện sự ủng hộ của mình với các “đồng minh” phương Tây, và điều này có thể làm Trung Quốc giận dữ.

Theo ông Hà Hoàng Hợp, tác giả này nhìn sai những động thái của Việt Nam, vì thực ra quan điểm và hành động của Việt Nam đối với các cuộc tuần tra tự do hàng hải từ trước đến nay không có gì thay đổi.

Ông Hà Hoàng Hợp nói về quan hệ của Việt Nam với các cường quốc bên ngoài khi các nước này can dự vào Biển Đông:

“Khi Trung Quốc bắt nạt một nước nhỏ, mà có một nước khác chống lại việc đó thì không chỉ Việt Nam có lợi mà bất cứ nước nhỏ nào rơi vào hoàn cảnh đó cũng đều có lợi.”

Một tác giả trong nước là nhà nghiên cứu Biển Đông, Thạc sĩ Hoàng Việt cũng có ý kiến tương tự như ông Hà Hoàng Hợp, ông nói với hãng BBC rằng:

Nếu nhận định rằng Việt Nam nhân cơ hội McCampbell để tái khẳng định chủ quyền trên Biển Đông thì tôi cho rằng có thể họ đã không theo sát các phát biểu của Việt Nam. Cá nhân tôi cho rằng trong các vấn đề liên quan đến Biển Đông, đặc biệt khi có tầu tuần tra tới khu vực này, Việt Nam luôn lên tiếng khẳng định chủ quyền của mình

Liên quan đến nhận định rằng Việt Nam lần đầu tiên trở nên cứng rắn hơn với Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông, ông Hoàng Việt nhận định:

“Không phải là bây giờ Việt Nam mới cứng rắn hơn. Một mặt Việt Nam vẫn muốn duy trì quan hệ với Trung Quốc, thúc đẩy quan hệ với Hoa Kỳ, và Việt Nam cần phải bảo vệ những lợi ích của Việt Nam ở Biển Đông mà những lợi ích này hoàn toàn được quốc tế công nhận. Nên Việt Nam phải cương quyết điều đó vì nếu Việt Nam không giữ được thì Việt Nam sẽ mất hết. Quan điểm của Việt Nam từ trước là thống nhất như vậy.”

Thông tin Việt Nam trở nên cứng rắn với Bắc Kinh được hãng Reuters loan báo trước đây ít lâu, nói rằng đã xem được bản nháp của văn bản COC tại cuộc họp giữa ASEAN và Trung Quốc tại Vientiane, Lào.

Tại cuộc họp báo ngày 16/1/2019, trả lời câu hỏi về những thông tin rò rỉ rằng ASEAN và Trung Quốc có những bất đồng không thể dàn xếp được, ông Phạm Bình Minh nói rằng việc thương thảo ASEAN Trung Quốc diễn ra trong những cuộc họp kín, còn ngoài ra là những lời đồn đoán.

Không phải là bây giờ Việt Nam mới cứng rắn hơn.

-Nhà nghiên cứu Biển Đông Hoàng Việt.
Ông Hà Hoàng Hợp nhận định với đài RFA:

“Tôi không đồn đoán nhưng nói thẳng vào sự việc thì Trung Quốc cho rằng những vùng nằm trong đường chín đoạn là của họ. Trong khi những quốc gia khác cũng có tranh chấp, thì như vậy là khác nhau về mặc nguyên tắc rồi.”

Ông Hà Hoàng Hợp nói thêm về những điểm bất đồng mà Trung Quốc khó chấp nhận khi Việt Nam đưa vào COC, ví dụ như không tuyên bố vùng nhận diện phòng không trên Biển Đông, không quân sự hóa Biển Đông,…

Việc đàm phán COC trở nên nhanh hơn trong hai năm gần đây khi Trung Quốc có vẻ tích cực hơn trong việc đàm phán cũng các đối tác ASEAN. Theo ông Hoàng Việt mặc dù việc hình thành COC còn xa nhưng cũng có hy vọng là Trung Quốc sẽ bị sức ép của cộng đồng quốc tế sẽ phải nhường bước, và trong sức ép đó có sự nao núng của Trung Quốc trong cuộc chiến tranh thương mại với Mỹ diễn ra trong năm 2018.

Tiến sĩ Hà Hoàng Hợp có nhận định khác, ông cho rằng cuộc chiến thương mại Mỹ Trung hiện nay nằm ở tầm mức khác, là cuộc cạnh tranh giữa một siêu cường lâu đời và một cường quốc đang lên, Việt Nam chưa chắc có lợi gì trong cuộc cạnh tranh này.


Kính Hòa
RFA
 

Top ↑ Copyright © 2016. Tiến Bộ - All Rights Reserved
Back To Top ↑