Tin Tức Cập Nhật 24/7

Hai tàu khu trục Việt Nam đi vào bãi Tư Chính: ‘Nguy cơ hải chiến đã tăng’


Hình ảnh cho thấy hai tàu khu trục Việt Nam có mặt ở bãi Tư Chính. (Hình: Ryan Martinson)

Tàu khu trục mang tên Hoàng Đế Quang Trung và Lý Thái Tổ của Hải Quân Việt Nam được cho là đã xuất hiện ở bãi Tư Chính. Tin và hình ảnh được loan trên trang Twitter của ông Ryan Martinson, nhà nghiên cứu về Hải Quân Trung Quốc và là giảng viên tại Trường Hải Chiến Hoa Kỳ, hôm Thứ Bảy, 17 Tháng Tám.

Ông Ryan đưa lên Twitter hình ảnh vệ tinh cho thấy hai tàu có tên Vpns Quangtrung và Truong Sa 401012 đang đi vào khu vực bãi Tư Chính. Xung quanh vẫn là những tàu hải cảnh Trung Quốc Haijing 37111 và Zhongguohaijing 33111.

Cũng theo ông Ryan, chiến hạm Quang Trung đã rời cảng Cam Ranh từ ngày 15 Tháng Tám.

Vài giờ đồng hồ sau đó, cũng chính ông Ryan ghi nhận trên Twitter: “Nếu điều này là đúng và tàu khu trục Việt Nam đang làm điều này, thì nguy cơ xảy ra đụng độ vũ trang với Trung Quốc đã tăng lên đáng kể.”

Hiện chưa có thông tin chi tiết hai tàu khu trục Vpns Quangtrung và Truong Sa 401012 thuộc loại nào. Nhưng nếu đó là tàu 016 – Quang Trung, thì đó là tàu hộ vệ hỏa tiễn thứ tư thuộc lớp Gepard 3.9 được biên chế Lữ Đoàn 162 (đơn vị tàu chiến đấu mặt nước tối tân nhất của Quân Chủng Hải Quân Việt Nam).

Hình ảnh cho thấy tàu khu trục Quang Trung rời cảng Cam Ranh hôm 15 Tháng Tám. (Hình: Ryan Martinson)

Dữ liệu của trang Sputnik cho biết tàu 016 – Quang Trung có chiều dài 102.4 mét, rộng 14.7 mét, mớm nước 5.6 mét, lượng giãn nước toàn tải 2,200 tấn, tốc độ tối đa 29 hải lý/giờ (53 km/giờ), phạm vi hoạt động 7,000 km, thời gian hoạt động liên tục trên biển 20 ngày. Đây là loại tàu chiến có khả năng tàng hình, săn tàu ngầm, chống hạm, chống ngầm, chống các loại tàu chiến mặt nước, được trang bị các loại vũ khí tiên tiến nhất của Nga hiện nay. Trong đó, có tổ hợp pháo – hỏa tiễn phòng không đa năng Palma, tổ hợp hỏa tiễn Ural và trực thăng săn ngầm Ka-28. Chiến hạm có khả năng tiến công đa năng ba trong một (trên mặt nước, dưới nước và trên không), đặc biệt là khả năng chống ngầm.

Truyền thông Việt Nam và cả phía Trung Quốc chưa lên tiếng điều này.

Hôm Thứ Sáu, 16 Tháng Tám, ba ngày sau khi tàu khảo sát địa chất Hải Dương 8 (Haiyang Dizhi 8) của Trung Quốc quay lại bãi Tư Chính, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng cho biết Việt Nam đã giao thiệp với Trung Quốc, phản đối việc Trung Quốc tái diễn vi phạm nghiêm trọng, yêu cầu Trung Quốc rút toàn bộ nhóm tàu nói trên ra khỏi vùng biển của Việt Nam, tôn trọng quyền chủ quyền, quyền tài phán, các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Việt Nam theo Công Ước Quốc Tế về Luật Biển (UNCLOS) và luật pháp quốc tế.



Người Việt

Bài học Hương Cảng cho Bắc Kinh


Hôm Thứ Sáu, 16 Tháng Tám, 2019, người dân Hồng Kông tiếp tục xuống đường biểu tình ủng hộ dân chủ, bất chấp sự răn đe của Bắc Kinh. (Hình: Manan Vatsyayana/AFP/Getty Images)

Gần hai tháng biểu tình ở Hồng Kông khiến đảng Cộng Sản Trung Hoa bối rối. Không những họ chịu bó tay không can thiệp, họ còn thực sự không hiểu chuyện gì đang xảy ra, cho nên Bắc Kinh chưa biết phải đối phó cách nào.

Trong khi dân Hồng Kông đi biểu tình ở tòa nhà nghị viện, ở trụ sở cảnh sát và ở phi trường, thì Trung Cộng cho chiếu hình lính tráng kéo về túc trực, với những xe nhà binh xếp hàng chờ ở Thẩm Quyến, bên kia biên giới. Dương oai diễu võ đe dọa.

Nhưng cùng trong thời gian đó, Trung Cộng cũng đưa hàng ngàn “nhà nghiên cứu” vô Hồng Kông tìm gặp những người dân địa phương thuộc đủ các thành phần. Họ gặp các giáo sư đại học, các thương gia xưa nay không bao giờ bày tỏ ý kiến chính trị, các sinh viên, nhà báo, vân vân, để hỏi những câu giản dị, như: Dân Hồng Kông muốn cái gì? Tại sao người ta lại nổi giận dữ vậy?

Trung Cộng cũng đã làm giống như vậy lần trước. Năm 2003, sau khi nửa triệu người biểu tình chống một dự luật an ninh với mục đích thắt chặt ách kiểm soát đời sống dân cư, làm nghị viện phải hủy bỏ không bàn nữa, Bắc Kinh đã từng đưa hàng ngàn “nhà nghiên cứu” qua Hồng Kông để tìm hiểu. Chắc chắn những điều tra viên này đã làm báo cáo đầy đủ và trung thực những gì họ được nghe.

Nhưng năm nay, Bắc Kinh vẫn lâm tình trạng bất ngờ. Vì chính những người vẫn báo cáo tin tức cho Trung Ương Đảng và Bộ Công An cũng không nhìn thấy tâm trạng thật của người dân cựu thuộc địa.

Bốn tháng trước, cả Bắc Kinh không ai nghĩ trước rằng một dự luật về dẫn độ tội phạm qua Đài Loan, nhân vụ một thanh niên Hồng Kông giết cô bạn gái trong khi du lịch ở Đài Bắc, lại đưa tới các biến cố lạ lùng như thế này!

Một tháng trước ngày dân bắt đầu biểu tình, Phó Thủ Tướng Trung Cộng Hàn Chính (Han Zheng, 韩正) mới tiếp các đại biểu Quốc Hội từ Hồng Kông tới họp, ông nói rất tự tin: “Tình hình Hương Cảng đang tốt đẹp hơn… Hồng Kông đang phát triển đúng đường lối.”

Vì niềm tin tưởng sai lầm đó, cho nên khi hàng chục ngàn dân chúng bắt đầu biểu tình phản đối dự luật dẫn độ, ông Hàn Chính còn khuyến khích dân Hồng Kông hãy ủng hộ dự luật này và tác giả là bà Lâm Quách Nguyệt Nga (Carrie Lam), vị hành chánh trưởng quan do Bắc Kinh chỉ định.

Hàn Chính không hiểu gì về dân Hồng Kông. Khi số người biểu tình lên tới 130,000, ngày 28 Tháng Tư, Bắc Kinh vẫn coi đó là chuyện nhỏ. Ngay trong lục địa, mỗi năm vẫn có hàng trăm ngàn cuộc biểu tình chống chính quyền các địa phương, có sao đâu?

Ngày 9 Tháng Sáu, nhìn cảnh một triệu người xuống đường, đủ các thành phần và mọi lớp tuổi, họ mới ngạc nhiên. Một tuần sau, sau khi bà Nguyệt Nga đã phải lên ti vi chính thức rút bản dự luật vô thời hạn, vẫn có hai triệu người tập họp bầy tỏ ý kiến tưng bừng như ngày hội lớn!

Giới lãnh đạo ở Bắc Kinh không hiểu nổi. Dân Hồng Kông không chỉ phản đối một bản dự luật. Họ muốn chống tất cả hệ thống lãnh đạo lãnh thổ này, chống những người cai trị bưng tai bịt mắt trước các nguyện vọng sâu xa của người dân. Nguyện vọng rất giản dị: Chúng tôi không muốn bị cai trị như cảnh người dân Trung Quốc đang phải chịu đựng.

Bắc Kinh đã cho quân đội biểu diễn thị uy, nhưng vô hiệu, dân vẫn tiếp tục biểu tình. Khi cảnh sát Hương Cảng mới thử dùng bạo lực, dân càng phản đối mạnh hơn. Họ kéo đến làm phi trường tắc nghẽn hai ngày liền. Họ không hề sợ hãi!

Nhưng sau cùng, những người dân phản kháng hăng hái nhất lại ngoan ngoãn giải tán. Chỉ vì ban giám đốc đưa chuyện này ra tòa và một vị chánh án đã phán quyết bắt phải ngưng (court injunction) các cuộc biểu tình ngăn cản hoạt động của phi trường.

Bây giờ giới lãnh đạo Trung Cộng có thể hiểu thêm một điều về dân Hương Cảng: Họ đã có thói quen sống trong luật pháp.

Ngay hôm sau, Tân Hoa Xã ở Bắc Kinh đã viết một bài, tựa đề: Cách duy nhất giải quyết vụ Hương Cảng là “Bảo vệ tinh thần pháp trị” (dịch tiếng Anh: Upholding rule of law). Bài báo nêu danh các chuyên gia, như ông Hàn Đại Nguyên (Han Dayuan,韓大元), khoa trưởng Luật Khoa Đại Học Nhân Dân, Bắc Kinh.

Trong một cuộc họp báo do nhà nước tổ chức, Giáo Sư Hàn Đại Nguyên nói rằng trước mối lo ngại bạo động, chỉ có một cách giải quyết vấn đề Hồng Kông là quay trở lại với khuôn khổ cai trị bằng luật pháp (rule of law). Hệ thống cai trị dựa trên pháp luật của Hồng Kông sẽ bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh, và phát triển; giúp Hồng Kông giữ được trật tự và phồn thịnh; bảo vệ các quyền và tự do của người dân Hồng Kông ghi trong bản “Luật căn bản,” là hiến pháp tạm thời của mảnh đất này.

Không cần sử dụng bạo lực, chỉ cần dùng luật pháp. Đó là bài học quan trọng nhất giới lãnh đạo cộng sản Bắc Kinh mới học được từ dân Hồng Kông.

Nhưng một điều mà ông Hàn Đại Nguyên không nói rõ, và Bắc Kinh cũng không muốn nhấn mạnh, là Hồng Kông theo một hệ thống tư pháp khác hẳn trong lục địa. Thượng tôn pháp luật, theo lối Trung Cộng là thẳng tay đàn áp những người không đồng ý với đảng và nhà nước. Quan tòa ở trong lục địa do đảng Cộng Sản chỉ định và sai khiến. Dân Hồng Kông đã sống và nghĩ theo truyền thống tư pháp của Anh quốc, khác hẳn. Luật pháp rõ ràng, quan tòa độc lập.

Ngay từ khi người Anh cai trị thuộc địa này, các quyền tự do căn bản của dân chúng vẫn được tôn trọng. Tự do phát biểu ý kiến, giúp cho báo, đài đủ mọi khuynh hướngmở mang. Tự do hội họp để bày tỏ ý kiến tập thể, cho nên hai triệu người có thể biểu tình trong trật tự. Tự do suy nghĩ, tự do tôn giáo, tự do kinh doanh, tự do cư trú nhờ không bị trói buộc bằng hộ khẩu, vân vân.

Bản Luật Căn Bản, do Anh và Trung Cộng ký kết bảo đảm thi hành trong 50 năm, vẫn tiếp tục cho dân hưởng các quyền tự do đó. Dưới chế độ của đế quốc Anh, dân Hồng Kông không có dân chủ nhưng được tự do.

Nhưng thế giới đã thay đổi. Người dân bắt đầu đứng lên đòi thêm các quyền dân chủ. Các tổ chức sinh viên, các hội đoàn nghề nghiệp đang vận động đòi quyền trưc tiếp bàu cửa người hành chánh trưởng quan, đứng đầu guồng máy cai trị. Họ cũng đòi số đại biểu do dân trực tiếp bàu phải tăng lên trong nghị viện, thay vì đa số vẫn là những người do triều định Bắc Kinh chọn và chỉ định.

Hai đại biểu đòi dân chủ trong nghị viện, Lương Quốc Hùng (Leung Kwok-hung,梁國雄), và Chu Khải Hồi (Eddie Chu Hoi-dick朱凱廸), 63 tuổi và 32 tuổi, cuối tuần này sẽ bắt đầu những cuộc biểu tình đòi cho người dân Hồng Kông được bỏ phiếu trực tiếp bầu những người cai trị mình.

Điều mà Cộng Sản Trung Quốc lo sợ nhất là dân chúng trong lục địa sẽ nhìn tấm gương của dân Hồng Kông và tự hỏi: Tại sao mình không được tự do như họ?

Đây sẽ là thử thách lớn đối đối với Trung Cộng trong những năm sắp tới.


Ngô Nhân Dụng
Người Việt

Tại sao Hồng Kông không thành Thiên An Môn?


Du khách vật vạ tại phi trường Hồng Kông hôm Thứ Hai, 12 Tháng Tám. (Hình: AP Photo/Kin Cheung)

Dân Hồng Kông mới gửi một thông điệp hình ảnh cho dân chúng Trung Hoa lục địa: Vô Úy! Không có gì phải sợ hãi.

Sau hơn hai tháng biểu tình và xung đột với lực lượng cảnh sát dùng dùi cui và hơi cay, dân biểu tình đã khiến phi trường phải đóng cửa suốt ngày Thứ Hai. Đây là lần đầu tiên một phi trường thuộc lãnh thổ Trung Quốc phải đóng cửa, vì dân Hồng Kông tỏ thái độ phản đối hành động của cảnh sát tại sân ga xe lửa ngày Chủ Nhật. Họ tiếp tục chống cự cảnh sát trong ngày Thứ Ba với những chai nước bằng plastic.

Nhiều người đã lo lắng chính quyền Cộng Sản Trung Quốc sẽ mạnh tay. Quân đội Trung Cộng đồn trú còn bất động nhưng đã thị uy, tuyên bố có thể can thiệp ngay sau ngày 21 Tháng Bảy khi dân biểu tình ném bùn vào huy hiệu nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa ở trụ sở. Họ còn cho chiếu video cảnh lính tráng đàn áp một đám người đóng trò biểu tình.

Ngày Thứ Hai khi phi trường tê liệt, quân lính Trung Cộng kéo đến sát biên giới giữa Hồng Kông và Thẩm Quyến. Thế Giới Thời Báo, thuộc đảng Cộng Sản, ở Bắc Kinh đã gọi những người Hồng Kông biểu tình là bọn “tạo loạn” và nói rằng họ đang “tự hủy” vì “chơi với lửa,” đe dọa sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Một phóng viên tạp chí này bị nhận diện khi dân biểu tình hỏi giấy tờ; rồi trói anh ta lại với hành lý bằng băng nhựa, ngăn cản không cho ai đánh anh ta, khoác vào anh chiếc áo T-shirt với hàng chữ “Tôi yêu cảnh sát Hồng Kông;” cho đến khi anh được cảnh sát giải cứu.

Cuối cùng chỉ có hai cảnh sát viên bị thương và năm người biểu tình bị bắt. Các chuyến bay đã bắt đầu trở lại sáng ngày Thứ Tư.

Bài học cho dân chúng trong lục địa là: Không cần sợ hãi. Hồng Kông không thể biến thành một Thiên An Môn!

Lý do, không phải vì vai trò kinh tế của lãnh thổ với dân số chỉ bằng một nửa thủ đô Trung Quốc. Trước năm 1997, kinh tế Trung Quốc lệ thuộc vào cảng Hồng Kông hơn. Khi người Anh trao trả lãnh thổ cho Trung Cộng, Hồng Kông lớn hơn 15% kinh tế Trung Hoa lục địa. Sau hơn 20 năm, bây giờ GDP Hương Cảng chỉ bằng 3% của lục địa. Số thùng hàng (container) từ lục địa đi qua Hồng Kông ra nước ngoài cũng giảm, từ gần 150,000 mỗi năm xuống chỉ còn vài chục ngàn, vì các hải cảng của Trung Cộng đã phát triển.

Chỉ trong trong hai lãnh vực Trung Cộng vẫn chưa thể thay thế Hồng Kông: Giao thương tiếp liệu chiếm 22% và tài chánh chiếm 19% so với cả nước Trung Hoa.

Tại sao Trung Cộng không thể đánh phủ đầu, đưa “quân giải phóng” vào trấn áp dân Hồng Kông như họ đã hành động ở Thiên An Môn, ngăn không cho phi trường bị đóng cửa?

Thứ nhất, bởi vì dân chúng ở Hồng Kông đồng tâm nhất trí phản kháng. Khi các cuộc biểu tình chống dự luật dẫn độ bắt đầu, đã có hơn hai triệu người dân Hồng Kông xuống đường. Khi phát động đình công, bãi khóa ngày 5 Tháng Tám làm tê liệt cả hệ thống xe lửa, xe hàng và phi trường, hơn 350,000 người đã hưởng ứng. Chủ nhân các xí nghiệp và cửa hàng không ngăn cản mà còn khuyến khích công nhân tham dự đình công. Hàng chục ngàn công chức cũng đình công mặc dù bị cảnh cáo; nói rằng họ là đầy tớ của nhân dân chứ không làm tay sai cho chính quyền. Năm 1989 dân Bắc Kinh chưa “giác ngộ” đến mức đó.

Hơn nữa, ở Bắc Kinh và khắp nước Tàu, Trung Cộng đã thiết lập được một hệ thống kiểm soát người dân rất chặt chẽ trong hơn 70 năm qua, với chế độ hộ khẩu, với công an khu vực gài khắp nơi, và các tiểu tổ đảng viên Cộng Sản nằm trong tất cả các xí nghiệp, các trường học, không chừa một chỗ nào. Guồng máy công an Cộng Sản có thể điểm mặt từng người dân chỉ rõ lý lịch đầy đủ, suốt đời. Với guồng máy đó dân trong lục địa chỉ cần sợ cũng tự khiến họ bất động, tê liệt. Sau khi Đặng Tiểu Bình ra lệnh giết hàng ngàn sinh viên và công nhân, dân Bắc Kinh không dám cục cựa. Dân Hồng Kông may mắn chưa bị kiểm soát kỹ như vậy.

Nhưng yếu tố quan trọng nhất khiến Trung Cộng không thể ban lệnh “giới nghiêm” để ra tay tàn sát người dân Hồng Kông như ở Thiên An Môn năm 1989 là vì họ lo sợ hậu quả trên chính nền kinh tế đang trên đà trì trệ.

Hồng Kông vẫn còn đóng vai then chốt làm cửa ngõ cho đồng đô la từ nước ngoài đi vào nước Tàu. Đây là nơi các xí nghiệp trong lục địa tới để gây vốn, bằng đô la Mỹ. Nếu máu chảy, đồng đô la sẽ ngưng chảy.

Trong hai chục năm qua, kể từ khi trở về với “nước tổ” dưới quy chế “nhất quốc lưỡng chế,” số tiền các công ty Trung Quốc vay nợ nước ngoài qua ngả Hồng Kông đã tăng lên hơn gấp đôi. Thị trường chứng khoán Hồng Kông đứng hàng thứ tư trên thế giới, còn thua Tokyo nhưng đã qua mặt London. Hơn 70% số vốn gây được qua thị trường này cung cấp cho các công ty trong lục địa; trong đó có những xí nghiệp khổng lồ như Tencent, Xiaomi, Meituan. Các công ty này đã chọn ghi tên trên thị trường “Hằng Thịnh” mà không chọn các thị trường trong nước Trung Hoa.

Thêm một yếu tố khác: Các công ty nước ngoài đầu tư vào lục địa cũng lựa chọn, 60% tiền vốn đi qua ngả Hồng Kông trong nhiều năm qua. Nhiều công ty đa quốc (multinational) chọn Hồng Kông đặt trụ sở điều động các hoạt động trong vùng Á Đông. Từ năm 1997 đến nay số trụ sở tăng thêm hai phần ba, lên tới 1,500 công ty.

Tại sao đồng đô la lại chọn Hồng Kông làm xa lộ đi vào Trung Quốc?

Rất giản dị, vì ở đó còn một hệ thống pháp luật đáng tin cậy. Các quan tòa độc lập với chính quyền, ngay cả cảnh sát cũng làm việc theo luật lệ, các công chức không coi dân như tôi tớ trong nhà! Biến Hồng Kông thành Thiên An Môn, cả nền tảng lòng tin đó sẽ tan biến.

Hiện nay Hồng Kông đã đang bị đe dọa sẽ bị Singapore “cướp khách.” Những công ty lớn như Google, Amazon, Facebook chọn đặt trụ sở vùng ở Singapore, một phần vì mối lo “tin tặc” có thể xuất phát từ trong lục địa. Nếu máu đổ, nhiều công ty quốc tế khác cũng sẽ chạy qua Singapore. Thế giới sẽ nhìn Hồng Kông không khác gì Trung Hoa lục địa. Cả nước Tàu sẽ bị thiệt hại.

Cuối cùng, sức mạnh của dân Hồng Kông khiến Trung Cộng không dám ra tay, như ở Thiên An Môn năm 1989, gồm hai thứ vô hình vô ảnh.

Thứ nhất, người dân ý thức rằng các quyền tự do họ đang được hưởng là căn bản cho đời sống kinh tế thịnh vượng. Vì thế, họ quyết tâm bảo vệ tự do. Thứ hai, xã hội Hồng Kông đã được đặt trên nền tảng pháp trị từ hàng thế kỷ, nó bảo đảm cho kinh tế phát triển. Nếu để mất hai thứ “sức mạnh mềm” đó thì Hồng Kông sẽ tự hủy diệt, chứ không phải vì dân đi biểu tình mà họ tự hủy diệt, như Bắc Kinh đe dọa.


Ngô Nhân Dụng
Người Việt

Trường Quốc tế có ý nghĩa gì trong xu hướng thương mại hóa giáo dục


Đã đến lúc phải đánh giá lại quá trình xã hội hóa giáo dục mang màu sắc thương mại có thể gây ra những hệ lụy nhức nhối như thế nào?

Trường tiểu học Gateway.

Câu chuyện em L.H. L mới bước chân vào lớp 1 đã phải mất mạng vì sự tắc trách của người lớn, nhắc lại càng thêm đau thương. Cơ quan công an đã khởi tố vụ án, sai phạm sẽ được phán định cụ thể. Còn những ai vẫn tin tưởng vào lương tri, thì phải nghiêm túc suy nghĩ thấu đáo hơn về xu hướng kinh doanh mô hình giáo dục quốc tế. Câu hỏi không dễ trả lời: Có bao nhiêu cơ sở đào tạo tại Việt Nam hiện nay đạt tiêu chuẩn quốc tế?

Trước đây, khi Việt Nam bắt đầu mở cửa hội nhập, rất nhiều tổ chức giáo dục uy tín đã đầu tư mở trường tại Hà Nội và TPHCM. Tuy nhiên, khi tầng lớp giàu có ở Việt Nam đông đảo lên, thì sân chơi ấy lại bị chi phối bởi những đại gia lắm bạc vàng và nhiều quan hệ. Dù cấp giấy phép theo đúng quy trình, nhưng ngành giáo dục cũng không thể giám sát một cách chính xác chất lượng của trường quốc tế.

Vì sao trường quốc tế nở rộ? Đừng ngụy biện bằng những lý lẽ quanh co. Hãy thẳng thắn với nhau rằng, đại bộ phận người dân đã quá chán ngán sự dạy và học ngày càng xuống dốc ở các trường công lập. Phụ huynh không mặn mà với phong trào chạy đua thành tích của ban giám hiệu, phụ huynh sợ hãi những kiểu dạy thêm học thêm hết môn chính đến môn phụ, và phụ huynh càng hoảng hốt trước các kỳ thi đầy áp lực cho con em họ. Mặt khác, phụ huynh cũng không che giấu được thất vọng về môi trường đại học hiện nay. Nếu không quá túng thiếu, ai cũng muốn con em được du học nước ngoài khi hoàn thành xong bậc phổ thông. Vì vậy, trường quốc tế là một chọn lựa không kém khôn ngoan.

Có cung ắt có cầu. Trường quốc tế đua nhau ra đời. Trường quốc tế mở rộng biên độ phục vụ. Mầm non cũng quốc tế, tiểu học cũng quốc tế, trung học cũng quốc tế. Theo học trường quốc tế, vừa hứa hẹn cho triển vọng của con em, vừa nở mặt nở mày cho phụ huynh. Người nào đủ điều kiện tài chính để con được học trường quốc tế, thì ánh mắt cũng kiêu hãnh hơn, khuôn mặt cũng ngạo nghễ hơn. Thế nhưng, chẳng ai biết được chất lượng trường quốc tế ra sao. Họ treo biển tiêu chuẩn Mỹ, họ treo biển tiêu chuẩn Anh, họ treo biểu tiêu chuẩn Úc, học treo biển tiêu chuẩn Canada… thì phụ huynh cũng đành tạm hiểu như vậy, chứ phụ huynh có được học theo những tiêu chuẩn ấy ngày nào đâu mà định lượng hay dở, đúng sai.

Để chiêu dụ phụ huynh và để phô trương năng lực, cách duy nhất các trường quốc tế tại Việt Nam có thể làm là xây dựng cơ sở vật chất rất hoành tráng và đưa ra mức học phí rất đắt đỏ. Thật ngây ngô và thật đáng thương, khi nhiều phụ huynh vẫn dùng tư duy thị trường “tiền nào của nấy” để mặc định rằng học phí 300 triệu đồng/năm chắc chắn chất lượng sẽ cao hơn 200 triệu đồng/ năm. Chính cái tâm lý đó đã giúp những đại gia nhanh chóng mường tượng được mô hình trường quốc tế chính là con gà đẻ trứng vàng.

Bao nhiêu ông chủ hoặc bà chủ trong hệ thống trường quốc tế hiện nay có nghiệp vụ sư phạm? Vô cùng hiếm hoi. Bởi lẽ, nhà giáo chân chính không bao giờ dư dả để có cổ phần trong trường quốc tế. Phũ phàng thay, trường quốc tế bỗng dưng trở thành lãnh địa của những đại gia. Và trường quốc tế được vận động giống như một cơ sở kinh tế, chứ không phải hoàn toàn giống như một cơ sở giáo dục. Đại gia mở trường quốc tế thì dùng mối quan hệ làm ăn để lôi kéo đại gia khác gửi con em vào học. Thỉnh thoảng có cán bộ, viên chức thắt lưng buộc bụng cũng gửi con vào trường quốc tế, với rất nhiều phập phồng và rất nhiểu hồi hộp. Rồi sau mỗi buổi tổng kết hoành tráng, không có học sinh trường quốc tế nào ở Việt Nam có thể chuyển tiếp vào trường đại học ở Mỹ, ở Anh, ở Úc, ở Canada theo đúng như… quảng cáo.

Có học sinh nào ở trường quốc tế có thành tích xuất sắc mà gần đây cả xã hội phải ghi nhận chưa? Chưa, bởi vì trường quốc tế được nằm dưới sự kiểm soát của những doanh nghiệp, chứ không phải của tổ chức giáo dục có nền tảng triết lý khai sáng riêng. Trường quốc tế chỉ là sản phẩm của những cái gọi là Công ty cổ phần giáo dục quốc tế hoặc Tập đoàn giáo dục quốc tế.

Khái niệm “quốc tế” ở đây cực kỳ mơ hồ nhưng cũng cực kỳ quyến rũ. Trường quốc tế mà không có giáo sư quốc tế, thì quốc tế kiểu gì? Trường quốc tế mà không có giáo trình quốc tế, thì quốc tế kiểu gì? Trường quốc tế mà không có liên kết đào tạo quốc tế, thì quốc tế kiểu gì? Trường quốc tế chủ yếu có số giờ học tiếng nước ngoài nhiều hơn giờ học tiếng Việt, thì tiêu chuẩn quốc tế mới thật sự rẻ rúng và kệch cỡm làm sao.

Điểm sáng nhất của hệ thống trường quốc tế hiện nay, hầu như chỉ nằm ở… vật chất bề ngoài, từ trang thiết bị phòng ốc cho đến đồng phục giáo viên và học sinh. Trường quốc tế nào cũng đánh bóng bằng dòng chữ “The International School” và đưa ra những ngôn từ choang choang như “theo đuổi tầm nhìn trở thành giải pháp hiệu quả cho mối quan hệ của phụ huynh và học sinh; là môi trường phát triển vững chắc cho học sinh cả về học vấn, năng khiếu và tính cách, phẩm chất” hoặc “kết hợp hài hòa Chương trình Giáo dục Quốc gia với Chương trình Giáo dục Quốc tế, với phương pháp giáo dục cá thể hóa giúp các em sẵn sàng đương đầu với thử thách của cuộc sống cũng như thành công ở những bậc học cao hơn, đồng thời vẫn gìn giữ những giá trị văn hóa, truyền thống của dân tộc".

Ai thẩm định những cam kết ấy? Chẳng có ai cả. Vì vậy, khi xảy ra sự cố bẽ bàng ở trường Gateway, thì ngay lập tức nhiều trường quốc tế khuếch trương sự ưu việt như "nhà trường đã tiên phong sử dụng công nghệ quét dấu vân tay của học sinh khi đến lớp an toàn, đồng thời ngay lập tức phụ huynh sẽ nhận được tin nhắn thông báo để giúp phụ huynh luôn yên tâm con em đã an toàn đến trường".

Thậm chí, có trường quốc tế còn diễn giải sự khác biệt của mình rất tưng bừng: “Khi đưa đón học sinh, trên xe luôn có người chịu trách nhiệm quản lý, kiểm tra danh sách học sinh, duy trì trật tự, vệ sinh và hướng dẫn, nhắc nhở học sinh thực hiện các quy định và kỹ năng an toàn khi ngồi trên xe và khi lên, xuống xe. Ngoài việc phải rà soát và giám sát chất lượng được thực hiện đúng quy trình ở mọi khâu như: lựa chọn đơn vị cung cấp dịch vụ có uy tín, xe đảm bảo chất lượng, yêu cầu kỹ thuật để vận hành an toàn, lái xe phải có ý thức tốt, giao tiếp, ứng xử với học sinh có văn hóa và nghiêm túc thực hiện các quy định của pháp luật về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông cũng nằm trong sự kiểm tra nghiêm ngặt của nhà trường”.

Giáo dục Việt Nam đang báo động về nhiều mặt. Để cải thiện thực trạng ê chề, phải đề cao năng lực sư phạm và đạo đức sư phạm ở mỗi cơ sở dạy và học. Những ai không chấp nhận sứ mệnh sư phạm, thì đừng mở trường học để tìm kiếm lợi ích theo toan tính riêng tư.


Lê Thiếu Nhơn
(Kiến thức gia đình số 33)

Những tinh hoa Úc khiến Bắc Kinh nhức đầu


Hiện nay có một số nhân vật tại Úc làm cho Bắc Kinh nhức đầu và căm phẫn. Ngoài giới tình báo Úc mà phần lớn người dân thường không biết đến, có năm nhân vật mà tư tưởng và hành động của họ đã tác động đáng kể lên dư luận Úc trong thời gian qua, gây khá nhiều chú ý và tranh cãi trong giới tinh hoa, và qua đó dịch chuyển quan điểm đối với Bắc Kinh.


Người phải nhắc đến đầu tiên là giáo sư John Fitzgerald. Ông là một trong những chuyên gia hàng đầu tại Úc về Trung Quốc, không chỉ về học thuật, lý thuyết, mà còn những kinh nghiệm thực tiễn khi từng làm việc cho Bộ Ngoại giao và Thương mại Úc (DFAT) tại Trung Quốc. Ông viết về nhiều đề tài khác nhau về Trung Quốc, và là một trong những người lên tiếng cảnh báo Úc sớm nhất về hiểm họa Trung Quốc. Ông cẩn trọng trong từng lời nói, luôn đưa ra bằng chứng dữ kiện thích đáng khi trình bày quan điểm của mình, và sâu sắc trong các nhận định hay kết luận. Trong bài viết “Nhân phẩm và kẻ thù của nó” một tháng sau khi ông Lưu Hiểu Ba mất, giáo sư Fitzgerald trình bày nhiều chi tiết về chính sách giáo dục yêu nước của Bắc Kinh, trong đó cấm mọi giáo viên dạy học, nghiên cứu hay xuất bản bảy đề tài bao gồm: dân chủ hiến định, xã hội dân sự, cấp tiến hóa kinh tế, tự do báo chí, phê bình lịch sử của Đảng Cộng sản, thách thức chủ nghĩa xã hội với đặc điểm Trung Quốc, và các giá trị phổ quát (như quyền con người và tự do, bao gồm tự do học thuật). Nghiên cứu và lý luận của Fitzgerald ảnh hưởng sâu sắc lên Clive Hamilton, John Garnaut và Andrew Hastie.

Người kế tiếp là giáo sư Clive Hamilton, tác giả cuốn “Cuộc xâm lược âm thầm: Ảnh hưởng của Trung Quốc tại Úc”. Sau khi phát hành cuốn sách gây khá nhiều tranh cãi này, ông Hamilton được mời sang quốc hội Hoa Kỳ điều trần, và cũng kể từ đó ông tiếp tục viết nhiều bài để vạch trần các hoạt động tình báo gây phá hoại không chỉ cho cộng đồng người Hoa tự do tại Úc, mà còn liên tục cảnh báo những mưu mô, trí trá và đe dọa của Bắc Kinh đối với nền dân chủ của Úc. Tác phẩm “Cuộc xâm lược âm thầm” của ông được dịch sang tiếng Hoa trước tưởng niệm 30 năm biến cố Thiên An Môn vào tháng Sáu vừa qua, để độc giả người Hoa đọc. Nó làm cho Bắc Kinh căm phẫn và gọi ông cố tình “phỉ báng và bôi nhọ” họ. Độc giả của tác phẩm này, ngoài cộng đồng người Hoa trên khắp thế giới, còn là người Hoa tại Hồng Kông và Đài Loan, mặc dầu các tiệm sách tại Hồng Kông khó thể nào công khai bày bán nó.

Hugh White, một giáo sư khác, cũng chuyên về Trung Quốc, từng làm việc cho Bộ Quốc phòng Úc, và là một trong các tác giả chính của Bạch thư Quốc phòng Úc năm 2000. Ông cũng là người viết nhiều sách, luận văn và bài viết trên các cơ quan nghiên cứu cũng như truyền thông lớn nhất tại Úc. Tác phẩm mới nhất “Làm sao để phòng thủ Úc” vào đầu tháng Bảy vừa qua đã gây khá nhiều tranh cãi trong giới tinh hoa Úc. Giáo sư White cho biết ông đã nghĩ về viết về tác phẩm này cách đây 35 năm khi bắt đầu tiếp cận đến các vấn đề quốc phòng của Úc. Có thể nói giáo sư White là một trong những người nhận diện ra được sớm nhất những thách thức đến từ sự trổi dậy của Trung Quốc đối với cho Á châu Thái Bình Dương, đặc biệt cho nước Úc, ngay cả trước khi Tập Cận Bình lên nắm quyền.

Trong phần trao đổi với ký giả John Garnaut thuộc nhật báo Sydney Morning Herald vào năm 2016, khi được hỏi những gì ông viết trước đây có sai lầm gì không khi nhìn lại, thì giáo sư White cho biết vài điều thú vị. Một, nền kinh tế của Trung Quốc, theo đà phát triển hiện nay, có thể qua mặt Hoa Kỳ, nhưng ông không ngờ (vào năm 2016) là nó phát triển nhanh hơn ông dự tính, có thể lớn hơn nền kinh tế Hoa Kỳ đến 30 phần trăm vào năm 2030 tính theo thước đo PPP (Purchasing Power Parity). Hai, sức mạnh hàng hải (hải quân) của Trung Quốc đã phát triển nhanh và mạnh trong thời gian ngắn hơn ông dự đoán, làm cho những chọn lựa của Hoa Kỳ trở nên bị giới hạn. Ba, khác với dự đoán của ông, Hoa Kỳ khá chậm trong việc nhìn ra Trung Quốc là thử thách lớn đối với họ, do đó chậm chập trong việc đề ra các chính sách thích hợp.

Năm 2013, giáo sư White có viết bài “Sự lựa chọn của Úc” trên tạp chí Foreign Affairs. Quan tâm của giáo sư White bao lâu nay là giữa một nước Trung Hoa góp phần quan trọng cho nền kinh tế Úc nhưng sẽ thách thức sự thống trị của Hoa Kỳ, và một Hoa Kỳ góp phần quan trọng cho nền an ninh Úc nhưng chủ trương duy trì nguyên trạng và có thể dùng chiến lược ngăn chặn để kiềm chế Trung Quốc, thì sự chọn lựa của Úc là gì? Theo giáo sư White thì giới lãnh đạo chính trị Úc cần nói thẳng cho Washington suy nghĩ của mình và tìm cách thuyết phục Hoa Kỳ chia sẻ quyền lực với Trung Quốc tại châu Á. Mấy hôm sau đó, giáo sư White viết thêm một bài khác “Abbot sẽ chọn Trung Quốc?” với mong muốn tân Thủ tướng Tony Abbot vừa đắc cử lúc đó mạnh dạn trình bày vấn đề này với Washington.

Úc, tuy có lẽ là đồng minh thân cận và trung thành nhất đối với Hoa Kỳ từ sau Thế Chiến II, nhưng Úc chưa phải là cường quốc, trong khi sự trổi dậy của Trung Quốc trong thời gian qua gây quá nhiều thiệt hại về kinh tế và nhiều lo lắng cho Hoa Kỳ về an ninh. Cho nên đề nghị của giáo sư White dường như hơi lý tưởng.

Đầu năm nay, hai giáo sư Hamilton và White được mời đến trường đại học La Trobe để tranh luận về đề tài liên quan đến quan hệ của Úc với Trung Quốc. Tuy có nhiều điểm giống nhau, cách nhìn và giải quyết vấn đề giữa hai ông cũng lắm khác nhau. White tuy xem Trung Quốc như con chó sói, ông vẫn tin rằng có thể sống chung với nó được, không cần phải hoảng hốt, mà phải chọn cách đấu tranh một cách khôn khéo, bởi vì White không tin rằng Hoa Kỳ sẽ lãnh đạo thành công trong vấn đề này (tuy không nói thẳng ra nhưng White hàm ý cung cách của ông Trump). Trong khi đó, giáo sư Hamilton thì cho rằng mặc dầu thuyền trưởng Hoa Kỳ hiện nay là điên rồ, nhưng con thuyền không dễ dàng gì quay ngược. Hamilton cũng biện luận rằng White không hiểu chiến tranh chính trị và bản chất của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, và theo Hamilton thì nhìn cách hành xử của Trung Quốc cho chúng ta thấy rằng sống trong vòng ảnh hưởng của họ thì rất là khó chịu.

Ký giả John Garnaut cũng tham dự cuộc tranh luận quan trọng này và cũng đặt câu hỏi với hai ông. Chính Garnaut cũng là một chuyên gia thâm sâu về Trung Quốc, làm việc trực tiếp tại Bắc Kinh từ năm 2007, biên tập viên cho Fairfax Media về châu Á Thái Bình Dương. Garnaut viết nhiều bài giá trị về các vấn đề ngoại giao. Đặc biệt sau bài viết có tính cách cố vấn cho Thủ tướng Malcolm Turnbull trên báo Sydney Morning Herald, Garnaut được mời làm cố vấn cao cấp cho ông Turnbull từ năm 2015 đến 2016, và làm Cố vấn Chánh cho Bộ Thủ tướng và Nội các từ năm 2016 đến 2017.

Sau khi rời khỏi hai trách nhiệm trên, Garnaut có viết một bài trên tạp chí Foreign Affairs với tựa đề “Trung Quốc can thiệp vào Úc như thế nào” vào tháng Ba năm 2018. Garnaut trình bày chi tiết các hoạt động âm thầm gây ảnh hưởng của ĐCSTQ lên cộng đồng người Hoa tự do tại đây, ảnh hưởng lên chính trường Úc, và phương thức đối phó của chính quyền Úc dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Turnbull. Garnaut có nhắc đến tác phẩm của Hamilton đã bị ba nhà xuất bản ký hợp đồng nhưng sau đó e ngại Bắc Kinh trả đũa nên rút lại quyết định.

Có nhiều người Tây phương, từ trí thức, học giả, chuyên gia cho đến chính trị gia, đã sai lầm trong nhận định về Trung Quốc. Là điều không khó hiểu. Nhưng John Garnaut được xem là người không hiểu sai về Tập Cận Bình (và ĐCSTQ) bấy lâu nay.

Người sau cùng mà tôi muốn nói đến là dân biểu Andrew Hastie. Thứ Năm 8 tháng Tám vừa qua, ông Hastie đã gửi bài viết đăng trên báo Sydney Morning Herald với tựa đề “Chúng ta phải nhìn thấy Trung Quốc – Cơ hội và đe dọa – với con mắt sáng suốt”. Bài viết này đã gây xôn xao dư luận trong những ngày qua, gây tranh cãi gây gắt trong nội bộ Đảng Cấp tiến cũng như trong chính trường Úc. Ông Hastie đã ví sự thất bại của người Pháp vì không nhìn ra được sự thay đổi trong chiến tranh di động của Phát xít Đức, và người Úc cũng thế, đã thất bại trong việc nhìn ra người láng giềng độc đoán của mình đã trở nên di động như thế nào. Bắc Kinh tức giận với toàn nội dung bài này, nhưng giận nhất là vì bị Hastie ví họ như Đức dưới thời Hitler. Trung Quốc lập tức phản ứng cho rằng ông Hastie vẫn còn “tư duy Chiến tranh Lạnh và sự thiên vị ý thức hệ”. Phía đối lập Đảng Lao động nhận xét rằng suy nghĩ này là “cực đoan, quá lố và không hoan nghênh”.


Bài viết của Hastie có sự liên hệ mật thiết với các nhân vật nói trên, đặc biệt với ký giả Garnaut và giáo sư Fitzgerald. Các vấn đề và mối liên hệ này sẽ được mổ xẻ trong bài tới.


Phạm Phú Khải
Blog VOA

Số phận các ‘đặc khu’ giờ ra sao?


Một góc đảo Phú Quốc (screen shot of Vietravel website)

‘Nạn nhân’ đầu tiên và đông đảo hơn cả của cơn ác mộng tan vỡ đặc khu là những nhóm và cá nhân đơn lẻ đầu cơ bất động sản.

Hết thời điên loạn

Tháng 8 năm 2019, ngay sau khi chính quyền xứ Kiên Giang, với bí thư tỉnh này là Nguyễn Thanh Nghị - con trai của cựu thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng - thình lình có văn bản chính thức đề nghị Chính phủ ngừng quy hoạch Phú Quốc làm đặc khu để chuyển sang hình thức khu kinh tế đơn thuần, toàn bộ con sóng đầu cơ đất nền ở Phú Quốc đã thêm một lần nữa, sau vài lần tạm thời lắng xuống, đóng băng chính thức.

Niềm hy vọng của giới đầu cơ bất động sản đến sau, những kẻ rơi vào tình thế ‘trâu chậm uống nước đục’ sau khi phải mua lại những miếng đất nền có sổ đỏ và cả đất nông nghiệp phi sổ đỏ với giá đã được những nhóm đầu cơ cá mập đẩy lên hàng vài chục lần trước đó, đã tan thành bong bóng trong nỗi tuyệt vọng chôn vốn mà chẳng biết khi nào mới ‘thoát hàng’ được.

Cơn sốt đất nền của ‘đảo ngọc’ Phú Quốc khởi sự từ năm 2015 và đã diễn tiến thành ít nhất 3 sóng tăng giá vào giai đoạn năm 2015, 2017 và 2018. Từ tình trạng một vùng đất dù có khung cảnh biển khơi thơ mộng nhưng không khí mua bán đất đai lặng như tờ và giá thấp lè tè, bất chợt được những ‘ông lớn’ như Tập đoàn Vingroup đầu tư những dự án khổng lồ để sau đó đất nền được ăn theo. Từ năm 2015 đến nay, mặt bằng giá đất nền chỉ tăng không giảm và đã vọt đến vài chục lần trong một cơn sốt mà chỉ có thể dùng từ ‘điên loạn’.

Cho tới lúc mà Kiên Giang phải chính thức hủy bỏ giấc mộng về đặc khu kinh tế Phú Quốc - động thái rất có thể đã chính thức chấm dứt thời kỳ đầu cơ bất động sản ở Phú Quốc…

Như vậy Kiên Giang đã trở thành địa chỉ thứ hai, sau Quảng Ninh, phải hủy bỏ kế hoạch làm đặc khu.

Vào tháng 6 năm 2019, Quảng Ninh đã phải xin Chính phủ cho Vân Đồn làm khu kinh tế theo cơ chế ‘đặc thù’, thay cho giấc mơ ‘lên đặc khu’ trước đó. Sóng đầu cơ bất động sản ở khu vực này cũng bởi thế chìm lắng từ đó đến nay.

Còn nạn nhân’ thứ hai của vụ hủy bỏ giấc mộng ‘đặc khu Phú Quốc’ và ‘đặc khu Vân Đồn’, nhưng đặc biệt hơn rất nhiều so với các nhà đầu cơ đất đai, chính là tác giả của dự luật Đặc khu một thời đình đám và đầy tai tiếng chính trị.

Ai?

Đó là giàn dáo giới quan chức đã từng vỗ tay nhiệt liệt khích lệ ‘luật bán nước’ (một tục danh mà dân gian đặc chỉ về dự luật Đặc khu).

Trước khi dự luật Đặc khu được khởi sự ‘lobby’ Bộ Chính trị đảng vào ngay sau tết nguyên đán năm 2018 và được chính thức tung ra Quốc hội vào giữa năm 2018 mà trước đó không thèm hỏi ý kiến dân chúng, quan chức Thường trực Ban bí thư Đinh Thế Huynh (vào lúc còn chưa ‘mất tích dài hạn’) đã ký một thông báo thay mặt Bộ Chính trị kết luận về chủ trương ‘làm’ các đặc khu Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc, chính thức mở đường cho một khung pháp lý mà sau này bị dư luận xã hội phản ứng quyết liệt vì cho đó là ‘luật bán nước’.

Đáng chú ý, bản thông báo do Đinh Thế Huynh ký được dựa trên đề xuất của bí thư tỉnh Quảng Ninh - một địa phương giáp biên giới với Trung Quốc - vào thời đó là Phạm Minh Chính. Khi đó, sau những cuộc làm việc đầy ‘tình hữu nghị’ với Đào Nhất Đào - trợ lý của Tập Cận Bình về đặc khu, thậm chí Phạm Minh Chính còn nêu ra đề xuất cho thuê đất đặc khu đến 120 năm, chứ không chỉ là 99 năm!

Sau ‘thành tích’ đề xuất ý tưởng và cả kế hoạch về xây dựng đặc khu Vân Đồn dành nhiều ưu ái cho nhà đầu tư cùng giới tài phiệt Trung Quốc và lại khá tương thích với ý đồ lấn dần lãnh thổ Việt Nam của Bắc Kinh, không hiểu sao Phạm Minh Chính đã lọt vào Bộ Chính trị kiêm Trưởng ban Tổ chức trung ương tại đại hội 12 của đảng cầm quyền vào đầu năm 2016.

Dù đã được âm thầm chuẩn bị từ lâu, nhưng chỉ đến sát kỳ họp quốc hội tháng 5 - 6 năm 2018, ‘luật bán nước’ mới được công bố một cách chính thức như sự đã rồi. Trước đó, đã không có bất kỳ một động tác nào, dù là nhỏ nhất hoặc chỉ mang tính mị dân, nhắm đến việc thông báo cho dân hoặc lấy ý kiến của dân về dự luật đặc khu.

Nhưng ngay sau khi dự luật Đặc khu được công bố, rất nhiều người dân và trí thức đã dậy lên một làn sóng phản kháng phẫn nộ, so sánh Dự luật về đặc khu kinh tế với hình thức nhượng địa mà chỉ đất nước nào nghèo đói lạc hậu mới cần đến, mặt khác họ cảnh báo nó có thể bị ‘đồng chí tốt’ Trung Quốc lợi dụng để di dân. Một cuộc biểu tình khổng lồ lên tới hàng trăm ngàn người phản đối ‘luật bán nước’ đã nổ ra ở Sài Gòn và lan ra đến một nửa trong tổng số 63 tỉnh thành ở Việt Nam.

Cùng lúc, người dân đã phát hiện ra nguồn cơn vì sao Chủ tịch quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân lại nhấn mạnh theo lối áp đặt ‘Bộ Chính trị đã quyết định về luật đặc khu rồi…’: vào thời gian hội thảo về chủ trương đặc khu Vân Đồn ở Quảng Ninh, Nguyễn Thị Kim Ngân nằm trong số quan chức VIP tham dự hội thảo này và đã ‘nhiệt tình vỗ tay’ dành cho ‘luật bán nước’.

Rốt cuộc, ‘luật bán nước’ đã bị hoãn thông qua Quốc hội vào tháng 6 năm 2018 và hoãn trình ra Quốc hội tại hai kỳ họp cuối năm 2018 và giữa năm 2019, với lý do là luật này chưa ‘chín’ và “chính phủ đang tiếp tục hoàn chỉnh để báo cáo và đưa vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh”.

Hội chứng ‘Hải Dương 8’

Trong khoảng thời gian ‘luật bán nước’ bị hoãn trình, một tin tức đã lan tràn trong giới cách mạng lão thành ở Hà Nội: Nguyễn Phú Trọng - khi đó còn là tổng bí thư mà chưa ngồi hẳn vào ghế chủ tịch nước của kẻ quá cố là Trần Đại Quang - đã có một cuộc gặp riêng kéo dài đến hai giờ đồng hồ với vài cựu quan chức thân tín để nghe báo cáo về thực chất mất chủ quyền an ninh và bị các nhóm lợi ích lợi dụng đẩy giá bất động sản trong dự luật Đặc khu. Cuối cuộc gặp này, ông Trọng đã thốt lên ‘Nó lừa mình!’.

Dù chưa biết rõ ‘nó’ là ai hoặc những ai, chỉ biết rằng từ giữa năm 2018 đến nay Trưởng ban Tổ chức trung ương Phạm Minh Chính đã ‘chém vè’ mà không một lần nào xuất hiện cổ vũ cho dự luật này như ông ta đã ồn ào khuếch trương trước đây.

Cũng từ đó đến nay, người ta không còn thấy Nguyễn Thị Kim Ngân hiện ra để PR cho luật Đặc khu.

Một sự trùng hợp nhưng không hẳn là ngẫu nhiên là vào thời tháng 5 năm 2019 - khi chính phủ phải hoãn trình ‘luật bán nước’ ra Quốc hội và sau đó tỉnh Quảng Ninh không còn lao theo dự án ‘đặc khu Vân Đồn’ nữa, phía Trung Quốc đã bắt đầu khởi động chiến dịch mà có thể đặt tên là ‘Hải Dương 8’.

Tàu thăm dò địa chất Hải Dương 8 được điều từ nơi khác về đã tiến vào khu vực Bãi Tư Chính thuộc chủ quyền Việt Nam và lì lợm ở đó từ đó đến nay, gây ra một trận ‘vờn tàu’ và gấu ó ở mức độ vừa phải giữa ‘đảng anh’ và ‘đảng em’ khiến cộng đồng quốc tế phải chú ý.

Cái thây ma ‘luật bán nước’, dù vẫn có tin cho biết đang trường kỳ mai phục để chờ dịp hồi sinh, lại rơi đúng vào bối cảnh ‘chiến tranh dầu khí Việt - Trung’ ở Bãi Tư Chính. Hẳn đó là nguồn cơn chính trị rất trực tiếp mà đã khiến ‘đảng em’ tìm cách phản pháo đối với ‘đảng anh’ bằng cách cho đóng sổ giấc mơ ‘lên đặc khu’ của Phú Quốc và Vân Đồn, khiến giới đầu cơ bất động sản và những quan chức đã ôm đất giá rẻ nhưng chưa kịp ‘thoát hàng’ giá trên trời đành ôm nỗi hận thiên thu.


Phạm Chí Dũng
Blog VOA

Người Việt ‘không lười’ mà sao… tệ thế?


Đầu tháng này có thông tin không mới nhưng được hâm nóng lại bởi hội nghị "Cải thiện năng suất lao động quốc gia" hôm 7/8 tại Hà Nội. Đó là chuyện năng suất lao động của người Việt kém hầu hết người của các quốc gia trong khu vực, kể cả Lào.

Hình minh họa.

Ngay từ đầu năm nay báo chí đã dẫn nguồn cơ quan thống kê của Việt Nam mà theo đó nếu điểm năng suất của người Lào là 100% thì người Việt chỉ được gần 88% mà thôi. Còn nếu đem so với người lao động Singapore thì người Việt chỉ còn bằng một góc nhỏ, chưa tới 10%.

Trang tin VnExpress giật tít “Phó thủ tướng: ‘Năng suất lao động thấp không phải do người Việt lười’”. Nhưng báo cũng không trích dẫn ông Phó thủ tướng Vũ Đức Đam nói rõ thêm tại sao ông nghĩ như vậy. Có thể ông suy bụng ta ra bụng người? Ông Đam có vẻ là người khá chuyên cần. Khi tôi gặp ông từ những năm cuối thập niên 1990, lúc ông còn chuyên về khối ASEAN ở Văn phòng chính phủ, ông nói đã có nhà cho thuê để yên tâm về tài chính mà làm trong chính trường. Nhưng khó có thể nói khơi khơi người Việt không lười.

Cách đây vài tháng tôi thấy trên Facebook một tấm áp phích có hình quốc kỳ Việt Nam kèm theo hai chữ “Trộm cắp” ngay bên dưới cùng với chữ tiếng Anh ‘STOP’, rồi tới một dòng chữ tiếng Nhật và kết thúc là “LAO ĐỘNG LÀ VINH QUANG”. Đó là lời nhắn nhủ cho các công dân Việt lười biếng ở Nhật Bản. Các công dân đó tai tiếng tới mức các cửa hiệu viết luôn những cảnh báo bằng tiếng Việt để họ hiểu giá trị của lao động.

Tại Anh nơi tôi đang sống, người Việt nổi tiếng với việc trồng cần sa trong nhà. Ngoài ra một số nơi ở Việt Nam có truyền thống cho trẻ em đi chui sang Anh vì các em vị thành niên sẽ không bị bắt hồi hương. Cũng có thể có em đã trên 18, nhưng nếu vất hộ chiếu đi và khai có 15 thì cảnh sát cũng không biết đường nào mà lần.

Người Việt cũng không chỉ nổi tiếng vì trồng cần sa ở Anh. Australia, Canada, Hoa Kỳ và một số nước khác cũng từng phát hiện nhiều vụ người Việt trồng loại cây gây nghiện này.

Thể diện của người Việt ở nước ngoài kém tới mức hồi năm 2018 chỉ có 51 quốc gia và vùng lãnh thổ cho người Việt tới thăm mà không cần visa. Con số cho người Lào là 52 và người Cam Pu Chia là 54. Người Việt cũng bị soi rất kỹ khi xin visa vào các nước phát triển và không ít trường hợp bị từ chối nhập cảnh.

Sau khi thông tin về năng suất lao động thấp của người Việt được xới lại, một số cây viết trên Facebook đưa ra các góc nhìn khác nhau. Cây viết Nguyễn Thành Nam kể lại trải nghiệm ở Giang Tô, Trung Quốc trong quá trình đi tìm hiểu tại sao đồ sứ của họ đẹp mà giá lại rẻ hơn nhiều so với đồ sứ Việt Nam:

“Tôi đã bỏ công đứng hàng tiếng đồng hồ để xem hai người thợ vuốt một cái bình lớn. Công việc vừa đòi hỏi sức lực vì cái bình chắc nặng cũng đến 50 cân, vừa đòi hỏi cực kỳ khéo léo mới có thể biến được khối đất sét nhão nhoét thành cái bình tròn vành vạnh.

“Người thợ cả tạo hình, tay thợ phụ trợ lực. 4 phút họ vuốt xong một cái bình. Vuốt xong khênh lên xe để đưa đi phơi, lại làm tiếp, không ngừng dù một phút, không hút thuốc, uống nước, cũng không thèm ngước mắt nhìn chúng tôi đang vây quanh. Cả buổi chẳng thèm đi đái.”

Ông Nam cũng viết tiếp: “Thấy mấy đại ca trong nghề đi cùng, bảo loại thợ như thế này ở Việt nam gần như đã tuyệt chủng.

“Bí quyết năng suất cao, suy cho cùng là chăm chỉ. Hồi mới làm cho Nhật, đưa ra các phương án tăng năng suất, các bác ấy toàn bảo: Nam, tao lạy mày, không cần cải tiến gì cả, chỉ làm đủ 8 tiếng không đi đái cho tao!”

Chuyện năng suất lao động của người Việt thấp cũng khó tính chi tiết bao nhiêu phần trăm do người lao động và bao nhiêu phần trăm do các chính sách và cách vận hành của chính quyền. Nhưng có thể khẳng định khi người Việt vẫn còn bỏ phiếu bằng chân tới các nước như Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan hay xa hơn nữa như châu Âu, Australia hay Hoa Kỳ, chính quyền Việt Nam chưa tạo một môi trường đáng sống cho nhiều người Việt. Họ cũng chưa đưa Việt Nam vào hàng các nước cáng đáng được những công đoạn sản suất có giá trị gia tăng cao để người Việt có thể dễ dàng tăng đáng kể năng suất lao động.

Nhà theo dõi Việt Nam Trương Nhân Tuấn cách đây vài tháng nhận định rằng nếu đất nước cứ theo mô hình xã hội chủ nghĩa mà người ta đọc chệch đi là “xuống hố cả nút” thì “cán bộ tiếp tục lạm dụng quyền lực để làm giàu và người dân “sẽ sa vào vòng nô lệ, làm công cho tài phiệt nước ngoài”.

Còn để theo kịp mức sống của người dân Trung Quốc hiện nay, theo ông Tuấn, Việt Nam cũng sẽ phải mất từ 60-80 năm nữa. Nhưng nếu Việt Nam theo mô hình Nhật Bản, Hà Nội có thể sẽ ngang bằng với Đài Bắc và Seoul hiện nay sau tối đa 20 năm nữa. Các chỉ dấu hiện nay cho thấy Việt Nam vẫn đang đi theo mô hình Trung Quốc và bởi vậy tôi đã từng viết về chuyện người Việt chưa kịp giàu thì đã già mất rồi.


Nguyễn Hùng
Blog VOA

Các nhà lập pháp lưỡng đảng Mỹ ủng hộ bán 8 tỉ đôla F-16 cho Đài Loan


Máy bay chiến đấu F-16 của Đài Loan tham gia cuộc diễn tập quân sự Hán Quang tại căn cứ quân sự ở Tân Trúc, bắc Đài Loan, ngày 4 tháng 7, 2015. Tư liệu 

Quốc hội nên nhanh chóng chuẩn thuận việc bán máy bay chiến đấu F-16 trị giá 8 tỉ đôla cho Đài Loan trong khi hòn đảo tự trị này phải đối mặt với áp lực từ việc Trung Quốc tăng cường hiện diện quân sự trong khu vực, các nhà lập pháp Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa hàng đầu của Mỹ nói hôm thứ Sáu.

Trung Quốc lên án thương vụ đã được hoạch định này, một trong những thương vụ lớn nhất của Mỹ với Đài Loan, mà Bắc Kinh coi là một tỉnh li khai. Trung Quốc cũng cảnh báo về những “biện pháp phản kích” nhưng không nói rõ là gì.

Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Jim Risch, một nghị sĩ Cộng hòa, hoan nghênh đề xuất bán máy bay F-16V của công ty Lockheed Martin. “Những máy bay chiến đấu này rất quan trọng để cải thiện khả năng của Đài Loan bảo vệ không phận có chủ quyền của mình, vốn đang chịu áp lực ngày càng tăng từ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa,” ông nói trong một phát biểu.

Chủ tịch ủy ban Vũ trang Thượng viện Jim Inhofe và Thượng nghị sĩ Cộng hòa John Cornyn nói Đài Loan “vẫn là một trụ cột quan trọng về an ninh và ổn định” trong khu vực. Việc bán các máy bay phản lực sẽ “răn đe hành vi gây hấn trong bối cảnh Bắc Kinh ngày càng quyết đoán và đang tăng cường binh lực,” họ nói trong một tuyên bố chung.

Tương tự, Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Hạ viện, nghị sĩ Dân chủ Eliot Engel, cùng thành viên cao cấp Cộng hòa, Michael McCaul, nói trong một tuyên bố chung rằng thỏa thuận này “gửi một thông điệp mạnh mẽ” về cam kết của Mỹ đối với an ninh và dân chủ trong khu vực.

Washington không có quan hệ chính thức với Đài Loan tự trị và dân chủ nhưng bị ràng buộc theo luật phải giúp cung cấp cho hòn đảo này phương tiện để tự vệ. Mỹ là nước cung cấp vũ khí chính cho Đài Loan và có sự ủng hộ rộng rãi cho việc này trong Quốc hội Mỹ.

Trung Quốc chưa bao giờ từ bỏ sử dụng vũ lực để thu phục Đài Loan và đã nhiều lần lên án những lần Mỹ bán vũ khí của mình cho hòn đảo này.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh nói Bắc Kinh đã đệ trình kháng nghị nghiêm khắc với Mỹ về thương vụ vũ khí đã được lên kế hoạch.

Hãng thông tấn Tân Hoa Xã của nhà nước Trung Quốc dẫn lời bà Hoa nói rằng đó là sự vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc “một Trung Quốc,” theo đó Washington công nhận Bắc Kinh chứ không phải Đài Bắc, và làm suy yếu chủ quyền và những lợi ích an ninh của Trung Quốc.

Bà Hoa kêu gọi Mỹ ngừng bán vũ khí và liên lạc quân sự với Đài Loan, nếu không, phía Trung Quốc chắc chắn sẽ có “biện pháp phản kích,” Tân Hoa Xã nói.


VOA
 

Top ↑ Copyright © 2016. Tiến Bộ - All Rights Reserved
Back To Top ↑