Tin Tức Cập Nhật 24/7

Ngày Tổng Khởi Nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc Dân Đảng 10-2-1930


Trích trong “Lịch sử Việt Nam Quốc Dân Đảng” của Hoàng Văn Đào

Lời nói đầu: Cách đây đúng 88 năm, một cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp đã được Việt Quốc Dân Đảng thực hiện vào ngày 10-2-1930.

Xin mời quý vị theo dõi diễn biến cuộc khởi nghĩa này qua tác phẩm Việt Nam Quốc Dân Đảng của tác giả Hoàng Văn Đáo , xuất bản năm 1970 tại Sài Gòn.

TẤN CÔNG YÊN BÁI
I


Từ sau hội nghị lịch sử tại Võng La và Mỹ Xá, những vụ xét nhà bắt người tình nghi diễn như cơm bữa, sự giao thông liên lạc trở nên chậm trễ khó khăn giữa ba lãnh tụ: Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu và Phó Đức Chính ở một ngôi chùa trên núi Yên Tử. Sau cuộc thảo luận sôi nổi, ba yếu nhân ấy đồng ý quyết định “TỔNG KHỞI NGHĨA” vào đêm mồng 10 rạng ngày 11 tháng 2 năm 1930. Nguyễn Khắc Nhu lập tức trở lên núi Phú Thọ, Yên Bái truyền mệnh lệnh này.

Đảng trưởng Nguyễn Thái Học, người lảnh đạo cuộc khởi nghĩa Yên Bái.

Cũng vì vấn đề liên lạc hết sức khó khăn, mệnh lệnh chuyển đến các Đ.C phụ trách miền Hải Dương, Hải Phòng, Kiến An bị chậm trễ, sự tập họp Đảng viên các địa phương không thể kịp định kỳ. Họ lập tức cử đại biểu tìm gặp Nguyễn Thái Học viện đủ lý do, khẩn khoản yêu cầu rời cuộc TỔNG KHỞI NGHĨA đến ngày 15 tháng 2 năm 1930.

Từ giã Yến Tử, Phó Đức Chính về Sơn Tây, ở nhà Đ.C Quản Trạng làng An Nam thuộc huyện Tùng Thiện, tiếp được lệnh hoãn ngày TỔNG KHỞI NGHĨA của Nguyễn Thái Học, liền phái liên lạc là lý Sự (La Hào) sang ngay xã Sơn Dương thông báo với Nguyễn Khắc Nhu. (hình bên)

Trong giờ phút nghiêm trọng ấy, cán bộ ĐDCSĐ (*) rải truyền đơn khắp nơi, tố cáo VNQDĐ sắp tấn công Bắc Kỳ. Cô Giang cầm tờ truyền đơn trao cho Nguyễn Thai Học xem, Nguyễn Thái Học đập bàn thét to:
“Tôi không tin! Vì có thể nào anh em cộng sản lại có thể hành động như thế được!”
2
Từ mờ sáng ngày mồng 10 tháng 2 năm 1930, tức ngày 12 tháng giêng năm Canh Ngọ, ngày đầu xuân, dân chúng: trai thanh gái lịch, rộn rịp du xuân và chẩy hội Đền Chùa.

Lợi dụng cơ hội thuận tiện ấy, dưới làn mưa phùn gió nhẹ, ấm áp hơi xuân, Chi bộ phụ nữ VNQDĐ gồm 15 người, do Nguyễn Thị Bắc tổ chức, phụ trách chuyển vận số võ khí từ Phú Thọ lên Yên bái bằng đường Hỏa xa: chuyến sớm hoặc chuyến chiều. Các cô trá hình người buôn bán gạo, cám, rau, hoa quả v.v. gồng gánh những vật kềnh càng như kiếm trường, mã tấu.. Còn nam Đảng viên hơn 300 người từ khắp các làng quê tỉnh Phú Thọ, phân tán thành từng nhóm trong tấm áo bông dài, họ giấu súng lục, lựu đạn, dao găm.. cũng giả làm khách đi lễ chùa, nhân ngày Hội Đền Nga Quán, cách thành phố Yên Bái độ 3 ngàn cây số. Nhóm xuống ga xe lửa Yên Bái, nhóm xuống ga Văn Phú. Tất cả đều bình an vô sự. Từng nhóm được hướng dẫn di tản vào khu rừng sơn.

Tại sân ga Yên Bái, Nguyễn Thị Giang đã đứng đợi sẵn để đón tiếp những Đ/C phụ trách từ Phú Thọ lên. Cô Giang rỉ tai Thanh Giang:

“Hình như đại sự của Đảng ta đã bị tiết lộ. Thiếu tá Le Tacon đã ra lệnh bố trí canh phòng nghiêm ngặt”.

Thanh Giang nóng lòng hỏi gặng:

“Thế Hà Văn Cấp (1) ra sao?

(1) Hà Văn Cấp làm bồi cho Thiếu Tá Le Tacon, được Đảng ra lệnh phải hạ sát Le Tacon, khi nghe tiếng súng báo hiệu.

Không ngờ đến ngày sắp Tổng khởi nghĩa, thì Quản Cần bị đau tim nặng, phải về nhà điều trị tại bệnh viện Lanessan. Khi hay tin cuộc Tổng khởi nghĩa bị thất bại. Quản Cần đã hộc máu ra mà chết.

“Cấp bị tình nghi, Le Tacon ra lệnh giam lỏng, chúng ta mất liên lạc đã từ 2 ngày rồi!” Cô Giang đáp.

Tiếp cô Giang hướng dẫn các Đ/C của cô đến khu rừng Sơn, rồi đi thông báo với các Đ/C lãnh đạo binh đoàn.

Bóng chiều đã xế, núi rừng thâm u, các Đ/C lãnh đạo cấp Dân sự đến nơi hẹn gặp các Đ/C lãnh đạo Binh đoàn, do sự giới thiệu của cô Bắc, Cai Nguyên bắt đầu vào đề:

“Tôi muốn nói anh em có muốn hoãn lại lệnh tấn công Yên Bái? Vì anh Quản Cần (2) vắng mặt không?

(2) Bộ Tham mưu địa phương Yên bái gồm 5 quân nhân: Quản Cần, Cai Thịnh, Cai Nguyên, Cai Thuyết và Cai Hoằng.

Cai Hoằng đứng phắt dậy, rút thanh kiếm dài đeo bên mình ra, đáp:

“Lệnh Đảng đã ban, ai muốn cản trở hãy coi cây sơn này!” Dứt lời Cai Hoằng liền vung kiếm chém một nhát mạnh vào thân cây sơn trước mặt, đứt làm đôi. Mọi người im lặng, không khí ngột ngạt khó thở.

Cuộc họp bắt đầu, mọi người đều đồng thanh tiến cử Cai Hoằng thay thế Quản Cần ngồi ghế chủ tọa. Cai Hoằng nhìn thẳng vào mặt các Đ/C của anh, rồi nói:

“Hiện tình lúc này, chúng ta chỉ có tiến, mà không có thoái anh em nghĩ có phải thế không?

Mọi người đồng thanh đáp: “PHẢI”.

Cai Hoằng tiếp lời:

“Súng của chúng ta hiện không có trong cơ binh dự trữ, vậy việc đầu tiên để anh em dân sự có súng đầy đủ, và để địch không thể kháng cự lâu dài, la chúng ta phải đánh chiếm ngay kho vũ khí, để phân phối cho dân quân cách mạng.

Cai Hoằng hăng hái lên tiếng:

“Tôi tình nguyện sẽ giết cho bằng được Quan Ba Jourdai. Nếu không lấy được đầu nó, tôi sẽ thay đầu tôi cho anh em. Còn anh Thuyết và anh Tính phải lấy cho kỳ được đầu tên Quan Hai Pháp”. Tiếp Ngô Hải Hoằng tức Cai Hoằng phân công:

“Anh em quân nhân chúng ta, cứ mỗi người có bổn phận dẫn theo 2 Đ/C dân sự. Phá kho súng xong, phải đến ngay khu Hạ Sĩ quan Phát và Da Đen, để trợ lực cho toàn thể Đ/C ở đấy, để giết cho bằng hết bọn chúng. Như vậy ta có thể xem như việc đánh Trại dưới xong, rồi tiến lên đồn Cao”.

Trại dưới là trại nằm dưới ngọn đồi trong thành phố, còn traị trên, nằm trên ngọn đồi xa thành phố, gọi là Đồn Cao do Thiếu tá Le Tacon chỉ huy.

Tiếp tục cuộc họp, Cai Hoằng trịnh trọng rút trong túi ra một mảnh giấy gồm 7 điều thuộc Quân luật, do anh soạn thảo, nghiêm giọng đọc:

Gặp giặm mà lùi CHÉM
Cướp đoạt của dân ”
Hãm hiếp phụ nữ ”
Ngầm ý giúp giặc ”
Liên lạc với giặc ”
Tiết lộ bí mật Đảng ”
Bất tuân luật chỉ huy ”

Cuộc họp đến đây giải tán. Mọi người im lặng chờ giờ khởi sự sắp tới.
3

Quang cảnh thành phố Yên Bái vào buổi chiều ngày mồng 10 tháng 2 năm 1903, có một điều mà người ta lấy làm lạ! Là rạp Chiếu bóng (Cinéma) mỗi buổi chiều thường đông đảo và bị quấy phá, nhưng buổi chiều ngày hôm đó lại vắng vẻ im lặng. Ngoài đường phố thì lại đông người qua lại. Một sĩ quan Pháp hỏi? Viên thông ngôn trả lời:

“Tại nhân dịp đầu xuân, nên có nhiều người đi lễ Chùa Than”.

Đến hồi 20 giờ, đại úy Gainza từ ngoài phố trở về trại, đã thấy Đội Vinh chờ sẵn, Vinh nói:

Xin Đại Úy đừng ăn cơm.

Tại sao?

Có thuốc độc

Đội Vinh vừa nói vừa run! Tối nay những người Pháp ở trong trại sẽ bị giết chết, kho đạn sẽ bị cướp phá, cờ cách mạng quân sẽ được kéo lên nóc thành.

Mày say mèm rồi nói láo chứ gì!

Tôi qủa không say.

Giữa lúc đó Trung úy Espiau tới, hai người bàn nhau: họ quyết định bỏ bữa cơm, rồi cùng dẫn Đội Vinh vào trình Thiếu tá Le Tacon
Đội Vinh khai:

Tôi trông thấy nhiều người tụ họp với nhau ở Rừng Sơn dưới chân đồi, mà mỗi người lính của chúng ta đều nhận được chỉ thị của bọn cách mạng.

Le Tacon hỏi:

Chính mắt mày có nhìn thấy đám đông tụ họp ấy không?

Tôi không trông thấy, nhưng có Binh Tài là người anh em họ với tôi trông thấy và biết rõ tất cả.

Le Tacon cho Đội Vinh rút lui, rồi giải thích cho hai sĩ quan biết rằng:

Chính Binh Tài nó đã đến nó với tôi việc ấy rồi, nhưng tôi tin rằng không có sự thực, chẳng qua Binh Tài nó muốn quan trọng hóa nó đây thôi!

Tuy nhiên cả ba người cùng đi xuống chân đồi tới Rừng Sơn để xem xét tình hình, nhưng chẳng thấy gì hết! Le Tacon nói:

Thôi chúng ta về ngủ đi thôi, chẳng có gì đâu! (1)
4

Giờ tác chiến sắp đến, các chiến sĩ chia từng nhóm rời Rừng Sơn theo hướng dẫn viên tiến tới địa điểm tập trung. Các Đ/C quân nhân đi trước, dân quân Cách mạng theo sau.

Tin từ trong trại đưa ra cho biết tình hình yên tĩnh, không có hành động phòng bị cả! Cai Hoằng ra lệnh tiến lên!

Các chiến sĩ tới bao vây các trại đã được phân công từ trước đợi lệnh.

(1) Theo tài liệu của Ký giả Louis Roubaud trong cuốn “Vietnam tragédia Indochinoise”

Tiếng chuông nhà thờ điểm đúng 1 giờ sáng, tiếng súng lệnh bắt đầu nổ: “ĐOÀNG”, phá tan bầu không khí yên lặng, sương mù giầy đặc bao phủ bầu trời thành Yên Bái, báo hiệu cuộc TỔNG KHỞI NGHĨA bắt đầu.

Giết! Giết hết tụi giặc Pháp!

Tiếng hô to vang dậy của các chiến sĩ cách mạng như sấm sét động trời!

Kho quân nhu bị phá cửa, lấy súng đạn phân phát đầy đủ cho dân quân cách mạng.

Một lát sau, Trung úy Robert, Thượng sĩ Cunéo, Trung sĩ Chevalier, Damour, Bonhier đều bị giết chết.

Đại úy Jourdain ở phía sâu yếu điểm, hô lệnh tập trung quân, lập tức bị Ngô Hải Hoằng bắn một viên đạn nổ chết ngay. Đại úy Gianza bị thương ở sườn. Ngoài ra còn có hàng chục sĩ quan, hạ sĩ quan và binh lính bị thương.

Tiếng reo hò từ các trại vẫn vang lên lẫn tiếng súng “Đoàng, Đoàng!

Báo cáo từ các doanh trại về ban Chỉ Huy cho biết: cách mạng quân hoàn toàn chiến thắng, làm chủ tình hình đồn dưới. Lúc ấy vào hồi 4 giờ sáng ngày 11 tháng 2 năm 1930.

Đường giây thép, điện thoại cũng bị cách mạng quân cắt đứt, trừ đường Yên Bái Lao Kai.

Các nơi hiểm yếu, Cai Hoằng, Cai Nguyên cắt đặt bố trí canh phòng cẩn mật, sửa soạn tiến đánh đồn Cao.

Lá cờ VNQDĐ tung bay phất phới khắp mọi nơi trong trại và ngoài thành phố.

Một cuộc khẩn cấp được triệu tập ngay tại văn phòng viên chỉ huy Jourdain để thảo kế hoạch tấn công Đồn Cao.

Thừa thắng một số chiến sĩ đề nghị nên tấn công ngay Đồn Cao; một số cho rằng, dầu sao thì Đồn Cao cũng đã được Le Tacon chuẩn bị đề phòng rồi, nên đợi khi trời sáng rõ hãy tấn công. Cấp Chỉ Huy chấp thuận đề nghị này.

6 giờ, trời táng sáng, Ngô Hải Hoằng ra lệnh tập họp, truyền mọi người trở lại đơn vị chuẩn bị tiến đánh Đồn Cao.

Đường phố còn ướt đậm sương đêm, nghe tiếng reo hò, dân chúng đổ xô ra, mọi người reo mừng hô vang:

“Việt Nam Quốc Dân Đảng muôn năm”
“Hoan Hô Việt Nam Cách mạng quân”

Cách mạng quân tiến đến gần Đồn Cao, thì phi cơ địch từ Hà Nội cũng bay tới, lượn vòng quanh thành phố rồi xả súng bắn xuống đầu mọi người như trận mưa bão trúng cả bộ Chỉ Huy.

Một số đề nghị: nên tập họp cách mạng quân bao vây quanh đồn, chờ viện binh Nguyễn Thế Nghiệp, một số khác đề nghị nên tạm rút vào rừng. Trước tình cảnh rối loạn, Cai Thuyết, Cai Hoằng đành thúc thủ, không còn cách nào khôi phục lại trật tự. Đành chấp nhận đề nghị tạm rút vào rừng.

Sau khi rút lui vào rừng, kiểm điểm lại chỉ còn phân nữa Cách mạng quân.

Nóng lòng trả thù cho bọn Sĩ quan bị giết, ngay buổi chiều ngày 11-2-1930, thực dân đưa 2 chiến sĩ: Cai Nguyên, Cai Tính ra bắn chết, không cần đợi ngay đưa ra Tòa xử.

TẤN CÔNG HƯNG HÓA, L M THAO

Mặc dầu Hưng Hóa chỉ là một đồn binh Khố Xanh thuộc tỉnh Phú Thọ, nhưng lại là một yếu điểm quân sự rất quan trọng. Nên từ đầu năm 1929, đảng đã đặc phái một số cán bộ Đảng đến tuyên truyền, thành lập được Binh đoàn tại đấy, gồm toàn Cai, Đội và Quản, cấp chỉ huy.

Các võ trang đồng chí ấy nhất đán bị ông Trưởng Ban Binh Vụ “xơi” hết cả rồi! Đảng đã mất hẳn lực lượng trung kiên ấy.

Nhưng không vì thế mà bỏ dở chương trình “Tổng khởi nghĩa”. Nguyễn Khắc Nhu đã huy động toàn thể đảng viên địa phương: Lâm Thao (Phú Thọ), Bất Bạt (Sơn Tây) tập trung lực lượng tấn công địch; mặc dầu không có đại bác, liên thanh!

Đúng hồi 1 giờ đêm mồng 10 tháng 2, Nguyễn Khắc Nhu có phụ tá là Nguyễn Văn Toại tức Đồ Thúy ra lệnh bắc loa chĩa vào đồn kêu gọi binh sĩ hãy quay súng lại giết giặc, trở về vớ hàng ngũ cách mạng quân để phụng sự Tổ quốc.

Sự kêu gọi của Nguyễn Khắc Nhu được đồn trưởng ra lệnh trả lời bằng một loạt súng từ trong đồn bắn ra.

Nguyễn Khắc Nhu liền ra lệnh cho Cách mạng quân liệng bom vào công phá đồn và hô xung phong. Công phá luân mấy tiếng đồng hồ, tuy trong đồn bị thiệt hại nặng nề, nhưng cách mạng quân cũng không nào tiến được! Mà số bom, đạn, bình phụt lửa cũng gần cạn. Nguyễn Khắc Nhu ra lệnh tạm lui quân về bờ sông, chờ số võ khí sắp tiếp viện tới.

Khoảnh khắc sau, số võ khí từ các làng lân cận đã chuyển vận tới. Nguyễn Khắc Nhu nhận thấy tấn công đồn binh Hưng Hóa không có lợi, ông ra lệnh cho cách mạng quân tiến về phía phủ lỵ Lâm Thao, lúc ấy vào hồi 3 giờ sáng.

Tới phủ lỵ Lâm Thao, dân chúng địa phương nổi lên hưởng ứng reo hò như sấm động: “Hãy bắt cho bằng được tên quan sâu mọt Đỗ Kim Ngọc! Giết ngay nó đi! để trừ hại cho nhân dân.” “Hoan hô VNQDĐ muôn năm!” Nhưng thừa khi nhốn nháo ấy, lại nhân trời còn tối, Tri phủ Đỗ Kim Ngọc cùng lính tráng trong phủ thừa cơ hội trốn thoát hết.

Nguyễn Khắc Nhu ra lệnh tịch thu súng đạn, thiêu hủy công văn thượng Đảng Kỳ lên nóc phủ đường, tập hợp dân chúng, rồi đăng bài diễn thuyết, hô hào toàn dân đoàn kết chống thực phong, hoàn thành sứ mạng cứu quốc, và ra lệnh đốt hết phủ đường.

Vừa dứt lời, thì truy binh từ Phú Thọ, Hưng Hóa kéo tới vây chặt bốn phía. Nguyễn Khắc Nhu ra lệnh dàn quân ra nghêng chiẾn đấu đến cùng. Nguyễn Khắc Nhu bị trọng thương ở nơi chân. Để tránh sự bị rơi vào tay địch, ông đã dùng lựu đạn tự sát, ruột phơi cả ra ngoài, mà vẫn không chết được. Địch quân bắt trói để lên trên một cái võng, phái lính giải về đồn binh Hưng Hóa. Thừa khi đi đến bờ sông, ông đã nhẩy xuống sông tự trầm, nhưng cũng không được.

Chauvet, phó công sứ tỉnh Phú Thọ ra lệnh tạm giam Nguyễn Khắc Nhu vào lô cốt đồn binh Hưng Hóa, rồi hỏi:

Tại sao ông lại làm loạn?

Tôi là người dân Việt Nam có bổn phận phải bảo vệ đất nước Việt Nam. Đó là việc hợp với lẽ phải và nhân đạo, sao lại bảo là làm loạn! Nguyễn Khắc Nhu trả lời.

Chờ cho Chauvet ra khỏi lô cốt, Nguyễn Khắc Nhu (1) liền đập đầu vào tường đá đến ba lần mới chết được. Cách mạng quân bị bắt hết. Địch bị chết và bị thương hơn 20 tên (2).

(1) Nguyễn Khắc Nhu biệt hiệu “Song Khê” thi đậu Đầu Xứ, nên người ta gọi là Xứ Nhu. Ông sinh năm Qúy Mùi (1883) tại Phủ Lạng Thương thuộc tỉnh Bắc Giang

Cảnh nhà nho thanh bạch, cũng như Tú Vương, nhờ được bà hiền phụ tần tảo buôn bán, nên ông được để cả thời giờ hoạt động cho cách mạng. Con trai ông là ký giả Nguyễn Khắc Trạch cũng là Đảng viên VNQDĐ bị HĐĐH kết án phát lưu chung thân. Năm 1915 bị tử thương trong trận đánh ác liệt với Việt Cộng ở tỉnh Sơn Tây

(2) Theo tài liệu của tạp chí “Phụ nữ Tân văn” Saigòn

SƠN T Y

Việc Yên Bái thất bại rồi! Cái hùng tâm của Phó Đức Chính chưa chịu chết! Anh cùng các đồng chí ở Yên Bái thoát vòng vây ra được, lập tức lại đi liên lạc anh em, thu thập lực lượng, định hạ thành Sơn Tây.

Thế nhưng “mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”. Ngày 12 bao nhiêu bom, đạn để ở Quảng Húc đều bị chính quyền thực dân khám phá được, rồi sáng ngày 13, Phó Đức Chính, Cai Tân cùng Thanh Giang, Nguyễn Văn Khôi đương bàn việc ở nhà một đồng chí là Quản Trạng xã Nam Man, tổng Cẩm Dương, huyện Tùng Thiện, bị một giáo viên trường Tiểu học xã Nam Man có tư thù với Quản Trạng, mật báo với chính quyền Pháp Sơn Tây bắt giải về Hà Nội.
Để hiểu rõ Phó Đức Chính một cách vô tư, chúng tôi xin trích dịch một đoạn dưới đây của Ký giả Louis Roubaud viết về Phó Đức Chính trong cuốn (Vietnam Tragédie Indochinoise) nguyên văn như sau:

“Là một thanh niên trẻ 23 tuổi, mà tù đầy làm ông hao mòn gầy guộc. Thể xác béo mập có sớm kia, thật là hiếm trong chủng tộc ông, nên trong ông có vẻ một người Tầu, nếu ông có khổ hình người bình thường của những người An Nam. Trên khuôn mặt ông biểu hiện sự lầm lì, nhưng lời nói cắt quãng, bỏ nữa lời, có vẻ lo âu huyền bí kia, làm chúng tôi phật lòng luôn luôn với hầu hết những người ở xứ này. Cái nhìn vẻ chân thực, thông minh với tôi, thì ông không có gì là trẻ con! Phó Đức Chính không phải là người nhà quê, ông theo ban Trung Học và đã làm hành chính cho Pháp với chức cán sự chuyên môn công chính, nhưng ông ta có tâm hồn một lãnh tụ, khi đảng phái quốc gia bị thiệt thòi một vài đảng viên đắc lực nhất, tiếp theo là vụ bắt bớ vào tháng 2 năm 1929, Phó Đức Chính bị HĐĐH bắt giam, và bị kết án 2 năm tù treo, ông là người phụ tá của ông Nguyễn Thái Học rất đắc lực.

Tuổi trẻ không mấy ưa kiên nhẫn của ông cũng không thể thừa nhận một phong trào cách mạng lâu dài, đi xa hơn, ông ước rất chính xác về vụ đổ máu đêm mồng 9 rạng ngày mồng 10 tháng 2 năm 1930 một khi chấm dứt đã đem lại hừng đông độc lập. Chính ông cũng sửa soạn kế hoạch chung.

Ông đã sống những tuần linh động nhất, tay cầm bút hoạch địch đường lối tiến quân của cách mạng An Nam trong việc xung quanh chiếm đồn Pháp. Cùng vẫn như thế, rồi ông định đánh chiến trận quan trọng nhất do chính ông chỉ huy xung phong tấn công Sơn Tây. Đại tướng đã trải qua một đêm bi thảm rồi chờ đợi quân từ Lao Kai, Yên Bái, Hưng Hóa tới.

Một mình ông đứng trước bức tường thành cổ kính lăng tẩm vua Minh Mạng mà cách đây 40 năm, ông vua ấy đã định tiến quân, song quân ít quá, và một người chỉ huy già dặn kinh nghiệm, đô đốc Courbet.

Trước ủy ban hình luật, Phó Đức Chính có một thái độ rất tư cách, tránh được sự khoe mình. Ông chỉ đòi hỏi những trách nhiệm của mình, ông là kẻ duy nhất trong số những người bị kết án, ông từ chối ký chống án trước Hội đồng Bảo hộ.

(1) Phó Đức Chính sinh năm 1897 tại làng Da Ngưu thuộc tỉnh Bắc Ninh. Tốt nghiệp trường Cao đẳng Công Chính, được bổ chức cán sự công chính tại tỉnh Savannakhet (Ai Lao) vào đầu năm 1928

Là sáng lập viên VNQDĐ sau ngày Bazin bị ám sát, Phó Đức Chính bị bắt từ Ai Lao đưa về Hà Nội, bị kết án 2 năm tù treo và bãi chức.

TRÊN CẦU LONG BIÊN

Sáng sớm ngày mồng 10 tháng 2 năm 1930, Lương Ngọc Tốn Trưởng Ban ám sát của VNQDĐ được tin Yên Bái, Hưng Hóa, Lâm Thao khởi nghĩa vào tối 10-2, vội vàng từ Bắc Ninh sang Hà Nội tìm Ký Con để hỏi thăm tin tức, rồi lại trở liền về Bắc Ninh để cấp báo với Nguyễn Thái Học.

Để tránh sự phí phạm thời giờ, từ Hà Nội, Lương Ngọc Tốn thuê riêng một chiếc xe hơi kiểu du lịch để trở về Bắc Ninh, xe chạy rất nhanh đến cầu Long Biên về phía gần ga Gia Lâm, lúc ấy vào hồi 12 giờ 15 phút, đội Cảnh Sát là Saint Denis đứng gác trên cầu, ra hiệu bắt xe ngừng lại cho y khám xét. Không một giây phút chần chờ, Lương Ngọc Tốn rút ngay khẩu súng lục bắn trúng cánh tay và đùi Saint Denis. Cảnh sát trên cầu nghe tiếng còi báo động, liền hô nhau đuổi theo. Lương Ngọc Tốn liền bỏ xe hơi cắm đầu chạy theo mé sông Hồng Hà. Dân chúng trong phố Ngọc Hà không hiểu chuyện gì, thấy cảnh sát đuổi cũng xô nhau đuổi theo. Tốn phải móc túi tung giấy bạc lại phía sau cho bọn này nhặt, mới khỏi bị đuổi nữa.

Được phi báo, Giám đốc Hành chính là Lacombe cũng đích thân đem một đội lính Khố Xanh đi truy nã.

Lương Ngọc Tốn chạy đến bến đò Thanh Trì, tên lái đò nhất định không chịu, Tốn phải rí súng vào mang tai tên lá đò, khi ấy y mới chịu chở. Qua được sông Nhĩ, Tốn lại gặp phải bọn công nhân trong Lò bắt Thanh Trì xô nhau ra đuổi. Vạn bất đắc dĩ, Lương Ngọc Tốn phải rút súng bắn 3 phát, giết 3 tên, rồi liệng súng xuống sông. Bọn công nhân bắt trói đem nộp cho Chính quyền Thực Dân để lĩnh tiền thưởng.

NÉM BOM HÀ NỘI

Hà Nội chẳng những là Thủ Phủ Bắc Việt, mà còn là Thủ phủ cả cõi Đông Dương. Vậy muốn cách mạng ở xứ này, trước hết phải nghĩ ngay đến cách đánh chiếm Hà Nội. Có thể nói rằng “Lấy được Hà Nội là lấy được tất cả!”. Cho nên ngay từ Tổng bộ đầu tiên, đã đặc biệt chú ý đến các địa điểm chiến lược và phải cố gắng tuyên truyền vào lớp các Hạ sĩ quan ở trong thành. Và có thể nói là hùng hậu gấp mấy chục lần ở mọi nơi. Nguyên chi bộ Không quân Bạch Mai có đến 22 đảng viên hầu hết là Cai đội do Đội Môn tức Trần Văn Môn làm Chi bộ trưởng. Còn ở hai trại thứ 4 và thứ 9 trong thành và trại binh Khố Xanh, Đồn Thủy, không kể các binh đoàn, chỉ kể nguyên số Cai, Đội, Quản, Đảng đã có đến hơn 200 người là đảng viên cán bộ.

Nhưng từ sau ngày mưu phản của Phạm Thành Dương tức Đội Dương, thì những đồng chí quân nhân ấy nếu không bị bắt khép án tù thì cũng bị bóc lon, giáng chức đưa đi các đồn lẻ ở Thượng du làm lính.

Còn các thường Đảng viên, như Thư ký, giáo học, thương kỹ nghệ gia và anh em thợ thuyền, nhưng nếu thiếu các anh em gươm, súng thì trong một cuộc cách mạng sắt máu, hỏi làm được việc gì!

Lực lượng chân chính của cách mạng kể từ sau ngày Nguyễn Thái Học bị bắt hụt ở Võng La, và sau ngày hàng ngàn bom ở Bạch Mai, ở Thái Hà bị khám phá. Ở Hà Nội, Đảng chỉ còn lại Đoàn Ám sát là đáng kể thế thôi!

Đoàn ấy tuy chỉ huy là Nguyễn Khắc Nhu, song lãnh đạo chính là Ký Con Đặng Trần Nghiệp.

Sau khi chia tay cùng Lương Ngọc Tốn, Ký Con triệu tập 5 đoàn viên trong đoàn cảm tử: Nguyễn Văn Liên, Mai Duy Xứng, Nguyễn Minh Luân, Nguyễn Bá Tâm và Nguyễn Quang Triểu (1) đều là học sinh trường Bách Nghệ Hà Nội.

(1) Nguyễn Quang Triểu là người chú đồng chí với Nguyễn Thái Học

Ký Con trao cho mỗi người một số bom, dặn đến đúng hồi 20 giờ phải ném:

20 trái ném vào nhà riêng Arnoux, chánh sở mật thám (1)

8 trái vào ngục thất Hỏa Lò
2 trái vào sở Sen Đầm
2 trái vào sở cảnh sát quận I
2 trái vào sở cảnh sát quân II

Và sau khi làm xong nhiệm vụ, tất cả sẽ về báo cáo công tác tại căn nhà số 24 phố Hàng Giấy.

Đồng hồ điểm đúng tiếng thứ 9, Ký Con và 5 đoàn viên khác phụ trách đi cắt giây thép, giây điện thoại trở về đầu tiên, rồi tiếp tục đến các chiến sĩ ném bom cũng về tới. Chủ nhân số 24 phố Hàng Giấy là ông Đào Tiến Tường mừng quýnh hô gia nhân dọn bàn bầy bánh kẹo khao thưởng các chiến sĩ. Khoảnh khắc sau mọi người đều sửng sốt, vì nhận ra còn vắng một đoàn viên, đồng chí Nguyễn Bá Tâm.

Ký Con lập tức phái một đồng chí mở cuộc điều tra, và dưới đây là lời tường thuật lại của Nguyễn Bá Tâm:

”…Chắc các anh cũng biết, đó chỉ là một chuyện nghi binh. Chúng tôi mong làm thế để cho dân chúng nôn nao, và may ra thực dân sợ Hà Nội có biến, không dám đem quân đi đánh các tỉnh.. Buổi chiều hôm mồng 10, tôi còn đi học. Hai quả bom gang, tôi vẫn bỏ chơi trong túi, 8 giờ tôi mới đến trước bóp hàng Đậu (Quận II) thấy một người gõ cửa, tôi ném luôn ngay vào chân nó. Bom nổ nhưng nó lại chạy thoát. Nó chạy mau quá, thành ra vấp vào tay tôi, làm cho bom nổ trong tay! bàn tay tôi băng đi mất! Tôi cố nhịn đau, chạy lên nằm ở trên cầu. Nghĩ thế nào cũng chết, tôi rút dao ra tự tử, nhưng dao cùn quá, đâm mãi cũng không thủng cổ! Bị đau quá! Bấy giờ tôi nằm không yên nữa, đành phải gọi xe kéo tôi vào nhà thương. Chúng nó cắt cụt tay tôi, chữa cho tôi lành. Lành, rồi chúng tra tấn cực kỳ dã man!

(1) Theo tài liệu của L. Marly giám đốc mật thám Đông Dương viết trong cuốn “Contribution à l’histoire des mouvements politique de l’Indochine Francaise”

“Nghĩ chối mãi, chúng đánh cũng chết, tôi đành nhận là thủ hạ của Ký Con. Chún hỏi Ký Con ở đâu? Tôi khai anh thường nằm ở các khách sạn, không chỗ ở nhất định. Chúng hỏi ban ám sát có những ai? Tôi khai trừ Ký Con ra, tôi chỉ biết Nguyễn Thái Học và Phó Đức Chính chứ chẳng biết ai, và cũng chẳng vào chi bộ nào cả..”

ĐÁP CẦU PHẢ LẠI

Sự thực thì về miền Đông Bắc, chỉ có hai địa điểm quân sự quan trọng là Đáp Cầu và Phả Lại. Cả hai nơi, Đảng đã tổ chức từ lâu. Cả hai nơi, các võ trang đồng chí khá đông, thế nhưng những võ trang đồng chí ấy đã vì sự phản bội của Phạm Thành Dương tức Đội Dương mà bị bắt hết cả rồi! Còn nguyên các thường đảng viên, Nguyễn Thái Học tính đem toàn lực mà đánh dồn cả vào một nơi “Phả Lại”, họa chăng có được! Một mặt Nguyễn Thái Học ước hẹn với các đồng chí ở vùng Lương Tài (Bắc Ninh), một mặt Nguyễn Thái Học ước hẹn với các đồng chí ở Gia Bình, Nam Sách (Hải Dương). Tất cả chia làm 5 đạo quân mà đánh vào. Hẹn đánh là ngày 12 tháng 2. Nhưng đến ngày giờ hẹn, nơi tập trung, thì các đồng chí chẳng thấy Nguyễn Thái Học đâu cả! Mọi người hết sức kinh ngạc, kéo nhau về. Mãi hôm sau mới hay tin:

Bởi mạn ngược đã không theo lệnh, mà đánh trước. Sự đánh sớm ấy gây nên hai kết quả tai hại:

Việc thất bại ở Yên Bái, Hưng Hoá, Lâm Thao gieo vào lòng người ngờ vực lực lượng cách mạng.

Nhà cầm quyền Pháp ở các địa phương biết việc khởi nghĩa chẳng phải là tin đồn hão, nên tích cực đề phòng.

Do sự đề phòng ấy mà ngày 11 tháng 2, Công sứ và Giám binh Tỉnh Hải Dương đem một đội lính Khố Xanh đến vây khám làng Mỹ Xá thuộc phủ Sách Nam. Cuộc vây khám ấy tuy không bắt được Nguyễn Thái Học và Trần Quang Diệu, nhưng chúng đã bắt được đồng chí Vương Khắc Hội, Trương Khắc Thông và một số võ khí.

Qua ngày 12, ngày Nguyễn Thái Học ước hẹn với các đồng chí tấn công Phả Lại; thì công sứ và Giám binh tỉnh Hải Dương lại đem lính Khố Xanh đến vây khám làng Hưng Thăng. Nguyễn Thái Học được dân làng bảo vệ, đưa lội qua bèo dầy đặc, ẩn tránh trong bụi rậm, rồi được đưa xuống thuyền bơi ra thoát khỏi vòng vây. Chỉ một chút nữa là bị bắt sống.

Cũng ngày hôm ấy, Công sứ và Giám Binh tỉnh Bắc Ninh đem lính Khố Xanh về triệt hạ nhà một cán bộ Đảng là Nguyễn Văn Tuyên tức Chánh Tuyên, và tưới săng đốt cả làng Trụ Khôn cùng chợ Kênh Vàng, nơi cách mạng quân từ các địa phương đã kéo về tập hợp, chờ lệnh Nguyễn Thái Học mà không trông thấy.

Trở về địa phương, các đồng chí tỉnh Bắc Ninh quyết định tấn công vào đồn Binh Đáp cầu vào đêm 18 tháng 2. Nhưng cũng bị chính quyền thực dân phát giác, nên không thành. Và sau đó một số lớn chất nổ còn được phát giác, nhất là ở vùng Bắc Giang, nơi quê hương của Nguyễn Khắc Nhu và Nguyễn Thị Giang.

Cũng đêm 18 tháng 2, một cuộc âm mưu tấn công một huyện trong tỉnh Bắc Giang do các Đảng viên địa phương chủ mưu, cũng bị phát giác không thành (1).

Louis Marty, Giám Đốc mật thám Đông Dương đã viết trong cuốn “Contribution à l’histoire des mouvements politiques de l’Indochine Francaise” rằng: VNQDĐ đã có đầy đủ về quân lực đóng ở Đông Dương. Các đảng viên ghi lực lượng của ta về nhân lực và võ khí. Người ta đã lập bản đồ nơi đóng quân, nơi chứa võ khí và nơi để đạn dược. Cuối cùng nhiều lính pháo thủ đồng lõa với Đảng như những biến cố cho thấy..”

ĐỒN BINH KIẾN AN

Tại miền xuôi, bộ Tham mưu VNQDĐ chủ trương đánh chiếm đồn binh tỉnh Kiến An, để rồi từ vị trí này sẽ phát động đi đánh chiếm các nơi khác.

Ngày 13 tháng 2, theo lệnh bộ Tư lệnh khu Hải Quảng, các Đảng viên VNQDĐ chuẩn bị đánh chiếm đồn binh Kiến An.

Các lực lượng võ trang được điều động để tấn công các trại binh Pháp gồm có:

Các Đảng viên thuộc Tỉnh Đảng bộ Kiến An, do cán bộ HỘI chỉ huy.

Các Đảng viên công nhân Khu Đảng bộ Hạ Lý (Hải Phòng), phần đông là thợ thuyền, phe phen nhà máy xi măng, do các cán bộ Trần Văn Nghìn và Nguyễn Văn Nuôi chỉ huy.

Đoàn cảm tử gồm các thanh niên, học sinh thuộc Thành Đảng bộ Hải Phòng, do cán bộ Nguyễn Huy Thọ chỉ huy.

Một số khác gồm 50 Đảng viên được điều động từ mỏ Mao Khê về, do hai cán bộ Nguyễn Văn Đài và Trần Hữu Quyết chỉ huy.

Ngoài ra trong các trại binh Pháp đều có các Đảng viên quân nhân, phần đông là hạ sĩ quan và binh sĩ, do các Cán bộ: Mai, San, Sửu chỉ huy, chịu trách nhiệm làm nội ứng.

Theo đúng quyết đề nghị, thời khởi sư đánh úp các đồn binh Pháp ở Kiến An vào đúng hồi 1 giờ đêm 13 tháng 2, trong đánh ra và ngoài đánh vào.

13 tháng 2 nhằm ngày 15 tháng giêng âm lịch, trong đêm khuya gió lạnh, các chiến sĩ Việt Quốc được võ trang gươm, dáo, bom, súng, lục, đánh tay đeo “Đảng hiệu” nửa đỏ nửa vàng, trên có hai giòng chữ đen: “THỀ CHẾT GIẾT GIẶC PHÁP” “BỎ MÌNH CỨU NƯỚC NAM”, và mang một băng hiệu dài có hàng chữ lớn: “VIỆT NAM CÁCH MẠNG QU N” bắt chéo trước ngực qua lưng. Mọi người được sắp thành hàng ngũ, tản mác đi tới địa điểm chờ lệnh công phá các đồn binh địch.

Đối với các đảng viên cư ngụ tại Kiến An, Hải Phòng thì có thể tới địa điểm tấn công một cách dễ dàng, nhưng riêng đối với các đảng viên từ Mao Khê về, thì thật là một vấn đề nan giải.

Các chiến sĩ được lệnh tập trung tại An Dương, một khu ngoại ô Hải Phòng. Đồng chí Đài được lệnh phải bố trí anh em quanh trại lính Khố Xanh tỉnh Kiến An trước hồi 1 giờ đêm. Khi thấy bên trại Khố Đỏ có tiếng súng nổ, là xung quanh công phá. Một đồng chí quân nhân Chánh quản trong trại binh ấy sẽ sẵn sàng mở cổng trại đón tiếp anh em.

Nhưng làm cách nào để qua được cầu Niệm? Cây cầu nối liền Hải Phòng Kiến An. Hai đầu cầu đều có quân đội và mật thám canh gác, đò ngang cũng bị tập trung tại chân cầu.

Đồng hồ tay chỉ 10 giờ 30 phút. Trời tối lại mưa phùn gió bấc thổi mạnh làm cho da thịt tê tái, lạnh buốt thấu xương. Anh em được lệnh cởi quần áo cùng võ khí cuốn lại, đội lên đầu buộc chặt xuống cằm, chờ lệnh sang sông.

Hầu hết các chiến sĩ đều biết bơi, và mực nước sông cầu Niệm vào mùa ấy cũng chỉ độ hơn hai thước tây.

Giữa dòng sông, bỗng một tiếng rú phát lên, ôi thôi! Một đồng chí chết đuối rồi! Một đồng chí, anh Đài liền lặn xuống mò hồi lâu không tìm thấy, mãi khi bơi vào gần tới bờ mới đụng phải, vội đưa lên bờ làm hô hấp cứu cấp, nhưng vô hiệu.

“Anh Trần Hữu Quyết đã bỏ dở nhiệm vụ của Đảng giao phó, Anh đã trở nên người thiên cổ rồi!”

Lúc bấy giờ là 12 giờ thiếu 10, còn gần 1 giờ nữa, để tới địa điểm tập trung. Anh em liền tập trung dùng gươm, đao đào ngay một cái huyện bên bờ sông làm lễ mặc niệm an táng đồng chí Quyết.

Bởi nhật kỳ sai biệt, Yên Bái và các nơi khác đã hành động trước rồi, Pháp quân đã thiết quân luật, bố trí đề phòng, cuộc nội ứng cũng như ngoại công không thành. Khu rút lui qua bến Cầu Niệm, địch quân đem binh truy kích, nhưng cách mạng quân đã đi xa.

PHỤ DỰC, VĨNH BẢO

1

Trở về địa phương, các chiến sĩ VNQDĐ chọn hai huyện Phụ Dực, Vĩnh Bảo, vì hai tên tri huyện này rất độc ác, tham tàn.

Hồi 20 giờ ngày 15 tháng 2, Hòa Quang Huy Đào Văn Thê tức Giáo Thê cùng Nguyễn Văn Hộ chỉ huy 40 võ trang đồng chí đến đánh úp huyện lỵ Phụ Dực thuộc tỉnh Thái Bình. Tri huyện là Trương Trọng Hiền trốn thoát, con gái hiền là Trương Thị Kim 18 tuổi, đem hết vàng bạc châu báu ra dâng lễ cách mạng quân, nhưng tất cả đều được trao trả lại. Trương Thị Kim cũng được tha, một thiếu nữ xét ra vô tội.

Tịch thu được 6 khẩu súng trường và một số đạn rồi bắc loa kêu gọi dân chúng đến tập hợp tại Huyện đường, giải thích lý do, kể tội thực phong và kêu gọi đoàn kết.

5 giờ sáng hôm sau, cho thiêu hủy hết hồ sơ công văn, cách mạng quân kéo sang bến đò Nghìn, để sẽ hợp quân lại tiến đánh đồn binh Ninh Giang theo chương trình đã được hoạch định. Nhưng đợi mãi không thấy tới, nên tự giải tán.

2

Cũng ngày 15 tháng 2, tại làng Cổ Am, Trần Quang Diệu tập hợp các đồng chí lại bàn rằng: “Nếu nay chúng ta kéo nhau đến đánh chiếm huyện lỵ Vĩnh Bảo, tất Tri huyện Hoàng Gia Mô sẽ thừa cơ lộn xộn chạy trốn mất. Vậy thiết tưởng nên dùng mưu điệu y ra khỏi Huyện lỵ mà bắt, thì hay hơn. Nhân tôi có quen với y, nên vẫn thường đi lại, vậy nay tôi xin lãnh xứ mạng đến báo tin cho y biết: Là tôi được tin có một số cách mạng quân nổi lên, định đánh chiếm huyện lỵ chúng ta vào chiều nay, thế tất y sẽ đi báo với đồn Ninh Giang. Thừa khi ấy chúng ta chiếm cứ luôn Huyện lỵ và phái một số cách mạng quân ra đón đường giết chết y”.


Được các đồng chí đồng ý, Trần Quang Diệu liền đến mật báo với Tri huyện Hoàng Gia Nô theo đúng kế hoạch dự liệu. Mô hốt hoảng vội kêu tài xế đánh xe hơi ra, có hai tên lính cơ đi hầu, lên đồn binh Khố Xanh Ninh Giang báo cáo xin quân tiếp viện.


Hoàng Gia Mô đi khỏi, cách mạng quân liền kéo tới chiếm cứ huyện lỵ không gặp một sức chống cự nào! Đảng kỳ liền được thượng lên kỳ đài. Cách mạng quân chia làm 3 toán: 10 người ở lại giữ huyện, 10 người ra phục kích ở đầu làng Nam Tạ đón Hoàng Gia Mô, còn 10 người lãnh nhiệm vụ ra ngoài huyện phố, tuyên truyền giải thích cho dân chúng hiểu rõ ý nghĩa của cuộc cách mạng.

Thể theo lời yêu cầu, trưởng đồn Ninh Giang cấp cho Hoàng Gia Nô 6 lính Khố Xanh, 6 súng trường và một số đạn. Họ Hoàng có ý nghi ngờ, cho hết lính lên xe hơi trở về huyện, còn họ Hoàng kêu xe tay kéo theo sau xe hơi. Về tới đầu làng Nam Tạ, cách huyện lỵ độ 50 mét, xe hơi chở lính bị ngừng lại, vì đường đã bị ngáng bằng cây tre chặn ngang. Cách mạng quân tràn ra, liệng vào xe hơi một trái tạc đạn, khiến xe hơi bị lật nhào xuống ruộng, nhưng nhân đêm trời tối, lính và tài xế thừa cơ chạy trốn. Hoàng Gia Mô khi về tới, thấy xe hơi bị lật nhào, đường bị ngáng. Biết ngay là có biến, liền xuống xe kéo, và được trưởng tuần phố huyện là tên Lợi hướng dẫn vào ngay làng Điềm Liêm, phía sau làng Nam Tạ, lấy quần áo vải nâu cho Hoàng Gia Mô thay, rồi đưa họ Hoàng vào ẩn náu trong một đống rơm sau nhà Ký Toản.

Được vợ Ký Toản mật báo, vào khoảng 6 giờ sáng hôm sau, cách mạng quân kéo tới, bắn một phát súng vào đống rơm, trúng phải đùi huyện Mô, Mô rẫy rụa nhưng không chịu ra, liền bị lôi ra trói lại, xỏ đòn tre vào giây lưng da của huyện Mô khiên về huyện đường xét xử. Trần Quang Diệu tuyên bố:

“Chúng tôi đến đây với mục đích là đánh đuổi thực dân Pháp và tất cả những ai đã cúi đầu theo giặc làm hại đồng bào.

“Tên tri huyện Hoàng Gia Mô là một trong những tên đã hà hiếp tàn nhẫn bóc lột đồng bào! Là một tay tôi tớ lợi hại của giặc. Chắc đồng bào còn nhớ vụ Hoàng Gia Mô đã mưu mô vớ bọn thực dân mưu toan chiếm 6.000 mẫu ruộng của đồng bào ở bãi Dương Am để làm tư kỷ. Bản thân nó đã có tội với quốc dân rồi! Đến cha ông nhà nó lại còn đắc tội hơn.”

Toàn thể đồng chí cũng như đồng bào có mặt tại đấy đồng thanh yêu cầu xử tử Hoàng Gia Mô.

Vợ Hoàng Gia Mô giốc hết vàng, bạc, châu báu trong tủ sắt ra làm lễ dâng cách mạng quân, xin tha tội chết cho chồng, nhưng bị cực lực từ khước. Còn Hoàng Gia Mô thì kêu van:

“Đó là tội của ông cha tôi làm, xin các ông tha chết cho tôi, tôi xin làm một công dân để phụng sự cách mạng, và xin dâng hết của cải cũng như ruộng đất cho cách mạng.”

Hoàng Gia Mô tức thời bị giết chết bằng một phát súng trường, vát xác xuống dòng sông Cầu Mục.

Người được thực dân đưa về thay thế Hoàng Gia Mô là Cung Đình Vận. Thừa cơ hội, Cung Đình Vận đã khủng bố lương dân một cách vô cùng dã man để vừa lòng quan thầy thực dân, mà vơ vét tiền bạc của nhân dân không biết bao nhiêu mà kể! Thế mà đến khi Cung Đình Vận vị Việt Minh giết chết hồi đảo chính 1945, VM lại rêu rao ầm ỷ rằng: “Cung Đình Vận là một cán bộ cao cấp của VNQDĐ” Ôi! thật là tuyên truyền xuyên tạc đến hết chỗ nói.
Tính từ ngày chính thức thành lập Việt Nam Quốc Dân Đảng cho đến ngày “TỔNG KHỞI NGHĨA”, vỏn vẹn mới được 2 năm và 1 tháng, tổng cộng là 776 ngày. Đương ở trong thời kỳ tổ chức, như vậy là đã đốt giai đoạn hàng chục năm. Hơn nữa, VNQDĐ tổ chức “TỔNG KHỞI NGHĨA” giữa thời thực dân toàn thịnh, bầy lũ chó săn đông đúc tựa như đàn dòi, cố Đảng trưởng Nguyễn Thái Học và cố Chủ tịch Ban Lập pháp Nguyễn Khắc Nhu, lại hoạt động cách mạng trong hoàn cảnh tại đào, bị thực dân kết án khuyết tịch 20 năm cấm cố. Thế mà tạo nổi lực lượng khả dĩ tiến hành được cuộc “TỔNG KHỞI NGHĨA”. Thực là một chuyện phi thường, một kỷ luật không tiền khoáng hậu trong lịch sử cách mạng thế giới.

Bởi bí quyết nào? Các vị tiên liệt tiền bối chúng ta đã làm nên được cuộc “TỔNG KHỞI NGHĨA” oai hùng vĩ đại ấy?

Các bí quyết ấy phải chăng là “hành động và đoàn kết”, hành động liên tục, đoàn kết chặt chẽ, quanh minh chính đại, vô vụ lợi, phát xuất do một ý tưởng cao cả, do những con người đảm lược, lúc nào cũng chỉ biết giữ cho lòng mình trong sạch, không bợn một chút nhơ: “DANH LỢI” , chỉ biết phụng sự cho lý tưởng cách mạng một cách sáng suốt, nhiệt thành, dũng cảm vô điều kiện.

Hành động quang minh, lại vô điều kiện, ánh hào quang chiếu rạng vào lòng người dân khiến họ bừng thức tỉnh, thấu đáo bổn phận người dân đối với đồng bào, với Tổ quốc mến yêu, khiến họ hy sinh tất cả cho cách mạng. Do đó mà lớn mạng, bất chấp mọi sự ngăn chặn phá hoại, khủng bố của bè lũ thực dân.

Yếu tố ấy lại được thúc đẩy bởi những sự bạo ngược, tham tàn thối nát, dã man, vô nhân đạo của thực dân và phong kiến: nên đã sớm gây thành “Trận bão lửa cách mạng”, lòa sáng trong đêm lịch sử mồng 9 rạng mồng 10 tháng 2 năm 1930, thiêu hủy khí thế hung hăng bạo tàn của bè lũ xâm lăng thống trị và làm choáng mắt bọn “cách mạng áo cơm, cơ hội chủ nghĩa”./.




Phạm Ngọc Thái Với Chùm Thơ Tình Thôn Nữ




NGƯỜI THÔN NỮ QUÊ HƯƠNG

Em thơm thảo tựa nàng tiên trong cổ tích
Dịu mềm như áng mây bay
Hồn anh trôi theo khúc thơ say
Dẫn em qua mùa thu hoang dại.

Cánh chim bằng anh, bốn phương gió xoáy
Về chân trời rộng mênh mông
Vẫn ghi lòng nhớ tới em thương
Cõi vô thường, tình trao anh trọn vẹn.

Bình dị chốn người, cao xa khát vọng
Trái tim anh không có vách ngăn
Tất cả cho đời... Tất cả cho em...
Như gió mây, không tôn vinh đảng phái.

Với quê hương, em là hoa trái
Bốn mùa thơm ngát hương thơ
Nếu sông núi này không có em ta
Mọi lẽ sống sẽ trở thành vô lý !

Anh từng qua cả cuộc chiến tranh thế kỷ
Vật lộn đời trần, đổ máu vì chủ nghĩa
Tìm đến nghiêng mình trước mộ phần
Hồ Xuân Hương, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Du
Nguyện sống suốt đời... lưu danh đến thiên thu...

Nếu maI sau...
Người lập cho tôi ngôi miếu, khói hương đưa
Xin cứ mặc rêu phong, gió mưa bao phủ
Chàng thi sỹ lang thang, yêu tận cùng xứ sở
Nay chẳng làm được gì. Tạ lỗi trước nhân gian.

Chỉ có mỗi trái tim này, dành để thương em.

9.6.2019

VẲNG NGHE LẠI TIẾNG EM YÊU

" Mình ở bên nhau mãi, anh nhé ! "
Giọng nói em nghe sao mà thương thế
Anh đã qua gần trọn kiếp người
Nước mắt còn rơi thẫm cả trời.

Ta gặp nhau một tối trăng ngời
Chỉ thấy em hiền, ngoan... Anh cảm mến
Rồi ngày tháng lòng càng xao xuyến
Muốn đưa em theo suốt cuộc đời.

Hỡi người thiếu phụ của lòng tôi !
Ngày hai buổi qua phà trên sông nước
Con sông quê hương mênh mông sóng biếc
Có thấy anh những chiều nhớ, đứng trông em.

Hà Nội mùa này nhiều hoa phượng... ve ran...
Nơi anh sống cách xa em nửa trời tổ quốc
Nhưng ta vẫn gần nhau gang tấc
Em đừng buồn. Anh không phút nguôi quên.

Lệ chảy cõi người... bom đạn vẫn triền miên...
" Trái đất ba phần tư nước mắt " (*)
Dù đã có chút hòa bình dân tộc
Nhưng quê mình còn nhiều đau thương lắm, em ơi !

Giặc bên ngoài dã tâm chẳng chịu rời
Nhà bao kẻ lại mún manh cắt bán dần đất mẹ
Dân đói khổ, bất công, oán hờn... kêu xứ sở
Vòng tang trắng trên đầu chưa thôi quấn kiếp dân đen.

Chính những ngày anh đến để yêu em
Tình ta, tình non sông... hòa quyện
Anh chỉ có vần thơ với một trái tim đau... đầy thương tổn
Dù cả đời trai từng theo trọn buổi chiến chinh.

Xin gửi lại quê hương chút tình khắc khoải của hồn anh
Để mai sau đời ca ngân "Tình yêu - Cuộc sống"
Có bóng anh, bóng em lồng nhau trong cõi mộng
Ngàn thu còn đó giữa nhân gian...

- Mình sẽ ở bên nhau mãi, nghe em !

6.6.2019
Phạm Ngọc Thái

(*) Hai câu thơ bất hủ của nhà thơ Xuân Diệu:

Trái đất ba phần tư nước mắt
Đi như giọt lệ giữa không trung

Đổi mới chính trị để hòa giải dân tộc.


Gần đây có hai sự kiện đáng để chúng ta suy ngẫm:

(1) Thủ tướng Lý Hiển Long tuyên bố Hà Nội “xâm lược” và “chiếm đóng” Campuchia; và

(2) Đại tá Hải quân Hoa Kỳ Nguyễn Từ Huấn được vinh thăng Phó Đề đốc, trở thành vị tướng thứ 4 của Quân lực Hoa Kỳ, cho biết gia đình ông gồm 7 người, nhỏ nhất chỉ 2 tuổi, bị cộng sản xử tử trong biến cố Mậu Thân 1968.

Hình minh họa (ảnh tư liêu)

Phép thử lòng tin chiến lược…

Ngày 15/11/2018, bế mạc Thượng đỉnh ASEAN thường niên tại Singapore, Thủ tướng Lý Hiển Long chia sẻ đã đến lúc ASEAN phải chọn giữa Mỹ-Trung.

ASEAN hình thành với 5 nước nhỏ vào năm 1967 nhằm chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản, Hà Nội chính là nỗi đe dọa của các nước này.

Chuyện tưởng chừng mọi người đều biết nhưng lời phát biểu của Thủ tướng Lý Hiển Long: Việt Nam “xâm lược” và “chiếm đóng” Campuchia, đụng phản ứng dữ dội của phía Hà Nội.

Điều này cho thấy Hà Nội đã hòa hợp trở thành một thành viên ASEAN, nhưng chưa muốn nhìn nhận và hòa giải với quá khứ lịch sử.

Như thế sự đoàn kết ASEAN khó có thể được duy trì khi phải chọn giữa Mỹ-Trung, chuyện đối đầu hay phong tỏa lẫn nhau sẽ dễ dàng xảy ra.

Như một phép thử lòng tin, Thủ tướng Lý Hiển Long một chính trị gia lão luyện, nhìn xa trông rộng, mới 3 lần nhắc thẳng chuyện cũ, đáng buồn Hà Nội chưa nhận ra vấn đề.

Năm 2013, cũng tại Đối thoại Shangri-La ở Singapore, báo chí ca ngợi cựu Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng về bài phát biểu xây dựng “lòng tin chiến lược” trong Khối ASEAN.

Nhưng thực tế cho thấy Hà Nội chưa hòa giải, chưa chấp nhận sự thật để tạo niềm tin với các quốc gia khác, chiến lược như vậy chỉ là lời nói đầu môi.


Hà Nội sa bẫy và sa lầy…

Phản ứng của phía Hà Nội còn cho thấy họ chưa học được bài học đã sa vào bẫy của Trung cộng và sa lầy tại Campuchia.

Thời nội chiến Bắc Nam, Hà Nội cũng đã từng đu dây giữa hai nước đàn anh Nga Sô và Trung cộng, nhưng cuối cùng phải phụ thuộc vào Nga.

Có bằng chứng cho thấy Trung cộng đã gởi hằng chục ngàn cố vấn sang Campuchia trong thời gian 1975-79 để đối đầu với Việt Nam. Họ tham mưu Khmer đỏ quấy rối biên giới Việt Nam và cố vấn cho Khmer đỏ rút quân về biên giới Thái Lan để Việt Nam sa vào bẫy và sa lầy tại Campuchia.

Nhiều quốc gia cấm giao thương với Việt Nam và cô lập Việt Nam. Liên Hiệp Quốc liên tục làm áp lực để Hà Nội rút quân.

10 năm dân Việt phải gánh chịu khó khăn phục vụ chiến tranh. Thanh niên thiếu nữ Việt phải ra chiến trường làm nghĩa vụ quốc tế và nhiều người đã chết hay bị thương trên đất Campuchia, Lào và cả ở Thái Lan.

Khi Khối Cộng sản Đông Âu và Nga Sô sụp đổ, Hà Nội lại quay về với Bắc Kinh ký kết Hiệp ước Thành Đô 1990, rút quân khỏi Campuchia và chịu ảnh hưởng của Trung cộng từ đó đến nay.

Quan điểm Việt Nam “xâm lược” và “chiếm đóng” Campuchia được hình thành từ thực tế và đã trở thành một quá khứ lịch sử.

Hà Nội dễ dàng mang quân chiếm lãnh thổ Campuchia nhưng không lấy được lòng dân.

Đa số dân Campuchia xem Việt Nam là đội quân "xâm lược" với tham vọng bá chủ Đông Dương, hằng triệu người Campuchia phải bỏ nước ra đi.

Hà Nội cũng đã thống nhất Bắc-Nam, nhưng sau 44 năm cai trị vẫn chưa thống nhất được lòng dân, hòa hợp nhưng không hòa giải.


Hà Nội theo Mỹ?

Việc Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc tay giương cao cờ Mỹ ngay giữa thủ đô Hà Nội, việc các phái đoàn Mỹ-Việt liên tục viếng thăm nhau, việc Mỹ viện trợ cho Hà Nội, bán vũ khí và mở rộng giao thương cũng chỉ là những dấu hiệu hòa hợp hay hợp tác.

Còn hòa giải lịch sử và hòa giải ý thức hệ tự do và cộng sản vẫn chưa được tiến hành.

Mỹ vẫn công khai xem Việt Nam là một quốc gia cộng sản, đàn áp tự do nhân quyền, một quốc gia phi thị trường phụ thuộc vào Trung cộng.

Chiến tranh nếu xảy ra và giả sử Hà Nội có đứng về phía Hoa Kỳ, Việt Nam lại một lần nữa bị động, sụp bẫy, sa lầy để trở thành bãi chiến trường như đã xảy ra trong chiến tranh lạnh Mỹ-Tàu-Nga trước đây.


Quá khứ đau thương…

Vào Tết Mậu Thân 1968, Chuẩn tướng Tư lệnh Cảnh sát Quốc Gia Nguyễn Ngọc Loan dùng súng ngắn bắn vào đầu một tù binh cộng sản mặc thường phục hai tay đang bị trói.

Cuộc xử tử tù binh Bảy Lốp nhanh chóng được nhiếp ảnh gia Eddie Adams chụp lại và hình ảnh được phổ biến cho thấy sự tàn khốc chiến tranh Việt Nam.

Hình xử tử tù binh Bảy Lốp được phe cộng sản và phản chiến sử dụng gây phẫn nộ dư luận và dẫn đến chiến thắng của cộng sản Bắc Việt 30/4/1975.

Nhưng ít ai biết chính tù binh Bảy Lốp, Nguyễn Văn Lém, trước đó vài giờ đã xử tử cả gia đình Trung tá thiết giáp Nguyễn Tuấn vì ông từ chối không cộng tác với cộng sản.

Ông Tuấn bị chặt đầu, vợ ông bà Từ Thị Như Tùng và sáu người con bị bắn bằng tiểu liên, nhỏ nhất mới 2 tuổi, chỉ một bé trai lên 6 tuổi may mắn được cứu sống.

Trong lễ kỷ niệm 55 năm ngày Đồng Minh tham chiến tại Việt Nam, Đại tá Hải quân Nguyễn Từ Huấn xác nhận ông chính là cậu bé 6 tuổi được cứu sống trong khi toàn thể gia đình bị cộng sản xử tử.

Ông Huấn cho biết gia nhập Quân Đội Hoa Kỳ để theo con đường cha Cố Đại Tá Nguyễn Tuấn, tiếp tục góp phần cho một Việt Nam tự do.

Ông cho biết chính nhờ công của các chiến binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa mà cộng sản đã bị ngăn chặn ở Việt Nam và bị giải thể tại Đông Âu và Nga Sô.

Ngày nay cộng sản chỉ còn tồn tại vài nơi và ông tin ngày chiến thắng đã cận kề.

Như vậy hậu duệ Việt Nam Cộng Hòa có được 4 vị tướng hiện dịch trong Quân Lực Hoa Kỳ.

Cùng lúc là tin chuẩn tướng Lục Quân Lập Thể Flora được đề cử thăng cấp thiếu tướng.

Với người Việt Nam Cộng Hòa thì 30/4/1975 là ngày miền Bắc xâm chiếm miền Nam. Hà Nội đã thống nhất Bắc-Nam, nhưng chưa hòa giải, chưa thống nhất được lòng dân.

Trên 2 triệu người bỏ nước ra đi, ½ triệu người chết trên đường tìm tự do là phản kháng tiêu biểu nhất của người dân.

Người Việt hải ngoại nay đã hội nhập vào và đã có khả năng ảnh hưởng đến chính trị các quốc gia tự do. Ở Mỹ đã có dân biểu trong Quốc Hội cả liên bang lẫn tiểu bang.

Tổng thu nhập GDP của người Việt hải ngoại ước tính hơn cả GDP của toàn Khối ASEAN, chưa kể đến khối tài sản mà họ tư hữu.

Nhiều người có trình độ khoa học kỹ thuật, chuyên môn cao, có kinh nghiệm làm việc ở các quốc gia tân tiến và có tấm lòng mong ước ngày Việt Nam tự do để góp phần phục hưng đất nước.


Miền Nam mến yêu…

Miền Nam trước đây là miền đất tự do dân chủ, chính sách cải cách ruộng đất đã hoàn tất, quyền tư hữu ruộng vườn đã thuộc về nông dân.

Sau 30/4/1975, người miền Nam trở thành người bị trị, quyền tự do ứng cử và bầu cử bị tước đoạt, tài sản, nhà cửa, đất đai, ruộng vườn bị chiếm đoạt.

Miền Tây vựa lúa miền Nam, giàu có biết bao, ngày nay dân không đủ sống phải tha hương cầu thực…


Đổi mới chính trị để hòa giải dân tộc…

Sức mạnh của một quốc gia dựa trên lòng dân đồng thuận.

Sự đồng thuận chỉ có thể có khi tiếng nói mọi công dân được tôn trọng và chỗ đứng mọi người đều ngang nhau, một xã hội tự do, dân chủ, thượng tôn luật pháp.

44 năm đã quá đủ để chứng minh chế độ cộng sản chọn sai đường không mang lại đồng thuận dân tộc.

Tham nhũng cường hào ác bá tràn ngập khắp nơi.

Dân nghèo khó, quan chức giàu có, đất nước kiệt quệ.

Đã đến lúc Hà Nội phải trao trả các quyền tự do cho dân, trả lại tư hữu ruộng đất cho dân, chuyển đổi từ một thể chế cộng sản sang một thể chế tự do, dân chủ.

Thay đổi thể chế chính trị, Hà Nội cũng chứng tỏ đã hòa giải với khuynh hướng cải cách ngay trong nội bộ đảng Cộng sản Việt Nam.

Chính Ủy viên Bộ Chính Trị đảng Cộng sản ông Trần Xuân Bách vào năm 1989 đã cố vấn cho Bộ Chính Trị như sau:

“Có nước tự cho mình không cần đổi mới, đã bị bục vỡ.

“Có nước coi đổi mới kinh tế phải làm nhanh, còn đổi mới chính trị thì chầm chậm cũng bục chuyện.

“Có nước chỉ đổi mới kinh tế, không đổi mới chính trị, đã bục to.

“Có nước làm cả hai, nhưng không nhịp nhàng, gặp khó khăn.

“Hai lãnh vực này phải nhịp nhàng, không chân trước chân sau, không tấp tểnh đi một chân.”


Đổi mới kinh tế như hòa hợp, còn đổi mới chính trị chính là hòa giải.

Lẽ ra đổi mới chính trị phải làm trước, người dân phải được quyền quyết định con đường phát triển và quyền giám sát việc nhà nước quản trị quốc gia.

Đến nay hòa giải vẫn chưa được tiến hành, đổi mới chính trị vẫn bị đình trệ.

Ông Trần Xuân Bách từng là Phó Chính ủy Bộ chỉ huy tối cao cuộc tấn công vào Campuchia và sau đó làm trưởng Ban B68 chỉ huy bộ máy hành chính của Campuchia nên chắc đã hiểu rõ những thảm bại của dân tộc trong cuộc chiến tại Campuchia.

Trước đe dọa bành trướng và chiến tranh của Bắc Kinh, việc cải cách chính trị, hòa giải và tìm đồng thuận dân tộc là việc làm hết sức cần thiết và quan trọng.

Chưa quá trễ để đảng Cộng sản thay đổi thể chế, giảm thiểu đau thương và thiệt hại cho dân tộc.

© Nguyễn Quang Duy
Melbourne, Úc Đại Lợi
13/06/2019

Mời xem lời phát biểu của Đại tá Hải quân Hoa Kỳ Nguyễn Từ Huấn:

Thương chiến căng như dây đàn, Mỹ quay sang "mặt trận" Biển Đông: TQ sắp bị cấm vận?



Những dự án của Trung Quốc nằm trong tầm ngắm bao gồm hoạt động bồi đắp, xây dựng đảo nhân tạo, công trình hải đăng và hạ tầng liên lạc di động trên Biển Đông.

Dự thảo cấm vận Trung Quốc

Thượng nghị sĩ Mỹ từ cả hai đảng trong Quốc hội sẽ một lần nữa giới thiệu dự thảo thể hiện sự cam kết của Chính phủ Mỹ đối với việc trừng phạt các tổ chức và cá nhân Trung Quốc có liên quan tới cái mà họ gọi là hành động "nguy hiểm và bất hợp pháp" của Bắc Kinh trên Biển Đông và Hoa Đông.

Nếu "Đạo luật Cấm vận Biển Hoa Đông và Biển Đông" được thông qua, chính phủ Mỹ sẽ có quyền tịch thu các khối tài sản tài chính ở Mỹ và thu hồi hoặc hủy bỏ thị thực Mỹ đối với bất kỳ ai liên đới tới "các hành động hoặc chính sách đe dọa tới hòa bình, an ninh và ổn định" tại nhiều khu vực trên Biển Đông.

"Dự thảo lưỡng đảng này củng cố nỗ lực của Mỹ và đồng minh trong việc đối phó với quá trình quân sự hóa trái phép và nguy hiểm của Bắc Kinh ở các khu vực mà nước này chiếm giữ (bất hợp pháp) trên Biển Đông", Thượng nghị sĩ Cộng hòa Marco Rubio nói với SCMP.

"Điều luật này tái khẳng định cam kết của Mỹ trong việc duy trì sự tự do và rộng mở của khu vực đối với tất cả các nước và buộc chính quyền Trung Quốc chịu trách nhiệm cho hành vi bắt nạt và ép buộc những quốc gia khác trong khu vực".

Theo luật này, cứ mỗi 6 tháng, Ngoại trưởng Mỹ sẽ phải nộp lên Quốc hội Mỹ một báo cáo ghi nhận bất kỳ cá nhân hay công ty Trung Quốc nào liên quan tới các dự án phát triển và xây dựng (trái phép) trên Biển Đông. Những dự án nằm trong tầm ngắm bao gồm hoạt động bồi đắp, xây dựng đảo nhân tạo, công trình hải đăng và hạ tầng liên lạc di động.

Ngoài ra, những bên có liên quan tới hoạt động đe dọa "hòa bình, an ninh và ổn định" ở những khu vực hiện do Nhật Bản, Hàn Quốc quản lý trên biển Hoa Đông cũng sẽ trở thành đối tượng cấm vận - dự thảo nêu rõ.

Nhằm thẳng vào Trung Quốc?

Một dự thảo tương tự đã được đưa ra vào năm 2017 nhưng không thể vượt qua Ủy ban Quan hệ Quốc tế để lên tới Thượng viện. Để được thông qua, luật này phải được Thượng viện và Hạ viện Mỹ chấp thuận trước khi trình lên Tổng thống Mỹ để ký thành luật.

Những người ủng hộ luật mới kỳ vọng kết quả lần này sẽ khác. Một số người còn khá tự tin vì Ủy ban Quan hệ Quốc tế hiện đã có chủ tịch mới - Thượng nghị sĩ James Risch - một người đặc biệt quan sát kỹ lưỡng các chính sách của Bắc Kinh

"Chúng tôi rất lạc quan, khi mà Chủ tịch Risch quan tâm tới vấn đề Trung Quốc", một phát ngôn viên của ông Rubio cho biết thêm rằng câu chữ trong dự thảo sẽ được đưa ra vào hôm nay 23/5 không khác gì so với bản năm 2017.

Cùng với hy vọng thúc đẩy đạo luật mới là quan điểm cứng rắn đối với Trung Quốc từ cả hai đảng trong Quốc hội Mỹ.

Trong hàng loạt vấn đề, bao gồm cả an ninh quốc gia, thương mại và tài sản trí tuệ, lập trường của chính quyền Mỹ về Trung Quốc đã giành được sự ủng hộ từ ngay cả những nhân vật mang quan điểm chỉ trích Tổng thống Mỹ Donald Trump.

Lãnh đạo phe Thiểu số ở Thượng viện Chuck Schumer còn hoan nghênh ông Trump vì phát động cuộc chiến tranh thương mại tốn kém nhằm vào Bắc Kinh, bao gồm cả đòn thuế quan ngày càng gia tăng.

Đạo luật mới được bảo trợ bởi 13 nghị sĩ Mỹ, nhiều hơn hẳn số lượng người ủng hộ năm 2017 (2 người). SCMP cho rằng đây có thể là chỉ dấu cho thấy sự ủng hộ gia tăng trong Quốc hội đối với làn sóng phản kháng trước Bắc Kinh.

Bonnie Glaser, chuyên gia của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) cho rằng, việc Quốc hội Mỹ tồn tại một bầu không khí hà khắc khi nhắc tới Trung Quốc là hợp lý nhưng dự đoán rằng, để dự thảo có thể tới được bàn của Tổng thống thì ngôn từ trong văn kiện phải mềm mỏng hơn một chút.

Dù vậy, "quan trọng là đưa vấn đề này ra bàn thảo và tranh luận", Glaser nói và nhấn mạnh thêm rằng Biển Đông chưa bao giờ là "vấn đề được chú ý đặc biệt" trong chương trình chính sách của chính quyền Trump.

Theo người phát ngôn của Rubio, việc tái giới thiệu dự thảo này đã nằm trong tính toán của ông Rubio suốt một tháng nay mặc dù nó xảy ra vào thời điểm "rất đúng lúc", khi mà Hải quân Mỹ gần đây tiến hành các hoạt động tự do hàng hải trong khu vực, thể hiện lập trường phản đối Bắc Kinh và có các cuộc chạm trán ở cự ly gần với tàu hải quân Trung Quốc.

Glaser nhận định, chính quyền Trump đã làm tốt hơn nhiều khi tiến hành các hoạt động tự hàng hải thường xuyên hơn chính quyền tiền nhiệm và khẳng định, chính quyền Mỹ đã thành công trong việc khuyến khích các bên khác trong khu vực tham gia vào hoạt động tập trận cũng như những hành trình chung trên biển.

Mặc dù cấm vận kinh tế mang nhiều ý nghĩa hơn chỉ là một vai trò tượng trưng đối với những bên vi phạm nhưng chuyên gia của CSIS cho rằng dự thảo mới không nhắm tới cá nhân.

Theo dữ liệu của CSIS, khoảng 73% các sự vụ chính trên Biển Đông từ 2010 có liên quan tới tàu chấp pháp của Trung Quốc. "Đó là một tỷ lệ cao nhưng không phải 100%", Glaser nói, "Dự thảo không nhằm vào những đối tượng xấu, mà thực sự nhằm vào Trung Quốc".


Thi Anh
TTVN

Trump cản trở tham vọng của Tập Cận Bình


Tổng Thống Donald Trump có thể nhẹ tay với Huawei nếu Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình chịu nhượng bộ. Trong hình, một cửa hàng Huawei ở Thượng Hải, Trung Quốc, hôm 24 Tháng Năm, 2019. (Hình: Hector Retamal/AFP/Getty Images)

Cuộc Chiến Tranh Lạnh của thế kỷ 21 giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ không thể tránh được; nhưng suốt 30 năm qua các chính khách “lễ độ” không ai muốn nói trắng ra. Tổng Thống Donald Trump phá lệ.

Ông mở trận chiến mậu dịch với mục tiêu khiêm tốn là cân bằng cán cân thương mại giữa hai nước. Nhưng sau khi ông Trump cho nổ “phát súng thuế quan,” bao nhiêu mâu thuẫn vẫn được ngấm ngầm bỏ qua cùng xuất hiện. Và những mâu thuẫn này rất lớn, lớn hơn chuyện khiếm hụt mậu dịch, lớn hơn nhiệm kỳ một ông tổng thống hay ông tổng bí thư đảng.

Mâu thuẫn chính là quan niệm về trật tự thế giới của Trung Quốc và các nước Tây phương, là lối sống và suy nghĩ của hai nền văn minh.

Từ hơn nửa thế kỷ nay, các nước Âu Châu và Mỹ đã tỏ ý “ân hận” về những lầm lỗi mà các “đế quốc” phương Tây đã phạm trong các thế kỷ trước, khi họ bành trướng sang Á Châu, Phi Châu và Châu Mỹ La Tinh. Không thấy người Trung Hoa nào tỏ ra ân hận về hành động bành trướng của các đế quốc thời Hán, Đường, Minh, Thanh. Trái lại, họ thấy đó là những thời đại huy hoàng chỉ mong lập lại.

Tập Cận Bình vẽ ra “Giấc Mộng Trung Quốc” nhắm giành lại địa vị huy hoàng đó. Ông đánh đúng tâm can của người Trung Hoa, để cho hơn một tỷ người chấp nhận sống dưới ách độc tài đảng trị.

Chương trình “Một Vành Đai, Một Con Đường,” công bố năm 2013 là tham vọng thiết lập một khối kinh tế Âu-Á Châu (Eurasia) theo gương các hoàng đế nhà Đường.

Eurasia sẽ trở thành một khối kinh tế lớn trên thế giới, vượt nước Mỹ. Hiện nay thương mại giữa hai lục địa này đã lên tới $2,000 tỷ mỗi năm, gấp đôi thương vụ trao đổi giữa Âu Châu và Mỹ Châu. Khi Tổng Thống Donald Trump rút Mỹ ra khỏi TPP (Hợp Tác Kinh Tế Xuyên Thái Bình Dương), Trung Quốc là nước duy nhất có kế hoạch lâu dài bao gồm cả hai lục địa này, lập ra một “trật tự thế giới” trong thế kỷ 21.

Các nước Tây phương muốn một thế giới sống với các quyền tự do, chế độ dân chủ, minh bạch công khai, tôn trọng luật pháp, kinh tế do tư nhân quyết định. “Nhất Đới, Nhất Lộ” theo một mô hình khác. Nhà nước đóng vai chủ động, luật pháp không quan trọng bằng quyền lực chính trị, giới lãnh đạo quyết định trong bí mật, người dân thường không cần biết.

Cuộc đối đầu giữa Donald Trump với Tập Cận Bình chỉ là mặt nổi của mối xung khắc giữa hai quan niệm sống đó. Khi yêu cầu Trung Cộng thay đổi cơ cấu kinh tế mới chấm dứt cuộc chiến thuế quan, chính quyền Mỹ đã đụng tới các quy tắc sống căn bản của họ. Giáo Sư Thì Ân Hoằng (Shi Yinhong, 時 殷弘), Đại Học Nhân Dân ở Bắc Kinh, nhận xét rằng riêng trong vấn đề quyền sở hữu tri thức, Mỹ đã đưa ra hàng trăm vụ vi phạm của các công ty Trung Quốc; muốn chấm dứt thì phải thay đổi hệ thống luật lệ. Không phải thay đổi một, hai điều luật mà thay đổi hàng trăm thứ luật.

Ông Thì Ân Hoằng kết luận: Mỹ muốn Trung Quốc phải thay đổi cách điều hành nền kinh tế, ở trong nước và ở ngoài. Cuối cùng, cuộc đấu không còn là vấn đề mậu dịch nữa. Họ muốn Trung Quốc phải theo lối làm ăn của hệ thống thị trường trong quan niệm tự do từ Tây phương, hậu quả là chấm dứt chế độ độc đảng.

Đó là mâu thuẫn căn bản mà các cuộc thương thuyết không thể nào tháo gỡ được, dù hai bên có thể đi tới những thỏa hiệp tạm thời.

Lối thoát duy nhất của chính quyền Trung Cộng là đứng một mình, dần dần tách rời hai nền kinh tế khác nhau từ cơ cấu đến nguyên tắc vận hành. Trung Quốc sẽ tăng cường thương mại với các nước trên lục địa Á-Âu, qua dự án “Nhất Đới, Nhất Lộ.” Thế giới có thể chia thành hai khối kinh tế, với hai trung tâm, Mỹ và Trung Quốc, chấp nhận một cuộc Chiến Tranh Lạnh của thế kỷ 21.

Nhưng dự án đầy tham vọng này khó tiến hành. Vì hiện nay kinh tế Trung Quốc không đủ sức chạy đua với Mỹ trên các kỹ thuật và công nghiệp tiên tiến. Vụ Huawei cho thấy yếu huyệt của kinh tế Trung Quốc. Những công ty đứng hàng đầu về kỹ thuật tiên tiến ở Trung Quốc, như Huawei, ZTE tùy thuộc vào nguồn tiếp liệu từ Mỹ, từ các vật liệu đến các sáng chế mà các công ty Mỹ giữ bản quyền.

Báo, đài ở Trung Quốc đang cổ võ Huawei hãy đứng vững dù bị chính phủ Mỹ tấn công. Họ hô hào cả nước hãy tự lực tự cường, làm lấy tất cả những thứ gì đang phải mua từ nước Mỹ. Nhưng hệ thống viễn thông do Huawei chế tạo, từ chất bán dẫn (semiconductors) đến các chương trình phần mềm (software) nhiều thứ vẫn phải mua từ các công ty Mỹ. Trung Quốc chưa chế được đồ thay thế. Mà nếu đi mua của Nhật Bản hoặc Đại Hàn thì các nhà cung cấp ở hai nước đó cũng đang dùng đồ Mỹ hoặc được các công ty Mỹ bán bản quyền. Lệnh cấm của chính phủ Mỹ không cho phép các công ty này bán cho Huawei. Vì vậy các công ty Nhật Bản Panasonic và Hitachi mới ngưng trao các bộ phận mà họ vẫn bán cho Huawei, sau khi Mỹ cấm.

Huawei đã cố gắng mở mang công việc chế chất bán dẫn, với công ty con HiSilicon, để khỏi phải mua chip từ các công ty Mỹ như Intel. Nhưng HiSilicon phải mua bản quyền sáng chế cua công ty Anh Quốc ARM ở Cambridge. Hầu hết các điện thoại di động trên thế giới đều dùng kiểu mẫu do ARM sản xuất. Ngay sau khi chính phủ Mỹ ra lệnh cấm Huawei, ARM đã cắt đức quan hệ với Huawei, vì chính họ cũng đang dùng các bằng sáng chế của Mỹ.

Tập Cận Bình đã hô hào mở cuộc Vạn Lý Trường Chinh mới để tự túc về kỹ thuật tiên tiến. Nhưng Trung Cộng đã nhiều lần cố gắng tự túc mà kết quả không như ý muốn.

Từ các thập niên 1990 và 2000 họ đã đầu tư nhiều tỷ đô la để bắt đầu thành lập kỹ nghệ làm chip điện tử. Người được đưa ra cầm đầu là Giang Miên Hằng (Jiang Mianheng, 江绵恒), con chủ tịch Giang Trạch Dân, đứng đâu công ty Grace Semiconductor. Kế hoạch này thất bại, bây giờ vẫn chỉ là một công ty không cạnh tranh được với ai.

Công ty Jinhua Integrated Circuit ở tỉnh Phúc Kiến chuyên chú sản xuất loại chip ghi nhớ (memory chip) DRAM năm ngoái đã sụp đổ sau khi bị Mỹ cấm, vì bị tố cáo đã ăn cắp kiểu mẫu của hãng Micron. Công ty Yangtze Memory Technologies đã lập từ 12 năm để sản xuất memory chip nhưng hiện nay vẫn còn chạy sau Samsung của Hàn Quốc hơn năm năm.

Các công ty quốc doanh hoặc được nhà nước bảo trợ không đuổi kịp các công ty tư bản. Vì vậy sau 20 năm tìm cách chế ra một hệ thống điều hành (OS, operating system) cho máy vi tính, họ đã thành công với một OS tương tự như Windows XP của Microsoft. Nhưng lúc đó thì chính công ty Mỹ Microsoft đã bỏ hệ thống XP, thay thế bằng nhiều hệ thống mới cho khách hàng chọn. Huawei đang tính làm lấy một OS cho điện thoại thông minh để khỏi lệ thuộc vào hệ thống Android được Google bán bản quyền và sẽ chấm dứt. Nhưng theo các kinh nghiệm trên thì hy vọng rất mong manh.

Giấc mộng “tự lực tự cường” trong lãnh vực kỹ thuật tiên tiến của Tập Cận Bình khó thành công. Chủ nhân sáng lập Huawei, ông Nhậm Chính Phi (Ren Zhengfei, 任正非) mới thú nhận: “Trung Quốc không thể thành công nếu trông đợi vào các phát minh sáng chế từ nội địa. Sẽ mất rất nhiều thời gian!”

Để tự túc trong các kỹ nghệ tiên tiến, Trung Quốc có thể trông đợi vào các nước thân hữu trên các “đường tơ lụa mới” Nhất Đới Nhất Lộ hay không? Các nước Âu Châu trao đổi với Mỹ có lợi hơn, và cũng phụ thuộc vào các quyền sở hữu tri thức trong công nghiệp tiên tiến của Mỹ. Các nước khác chắc cũng không muốn gia nhập một khối kinh tế lúc nào cũng tiến chậm hơn Mỹ, Nhật Bản và Nam Hàn hàng chục năm.

Cuộc chiến tranh mậu dịch của ông Donald Trump lúc đầu nhắm giảm cán cân thương mại khiếm hụt, nhưng đã cho ông Tập Cận Bình thấy nhược điểm chính yếu của nền kinh tế Trung Quốc. Ông Trump không gây ra chướng ngại cho tham vọng của ông Tập Cận Bình. Ông vô tình cho họ Tập nhìn thấy rõ những chướng ngại đó. Giấc mộng tái lập các đế quốc Hán, Đường còn xa, rất xa.

Nhưng ông Trump có chủ tâm tiêu diệt Huawei và công nghiệp tiên tiến của Trung Quốc hay không? Chính phủ Mỹ không muốn tấn công Huawei và các công ty Trung Quốc tới cùng, vì họ không muốn các công ty Mỹ mất những mối hàng lớn bán cho Trung Quốc. Cuộc chiến tranh mậu dịch nào cũng gây thiệt hại cho cả hai bên.

Giới tình báo Mỹ đều coi Huawei là một mối đe dọa về an ninh quốc gia. Trong hội nghị Shangri-La vừa qua, các viên chức Mỹ đã cảnh cáo rằng Mỹ sẽ không chia sẻ các tin tức tình báo với các quốc gia sử dụng đồ của Huawei. Nhưng ông tổng thống Mỹ lại mới nói rằng ông có thể nhẹ tay với Huawei nếu Tập Cận Bình chịu nhượng bộ.


Ngô Nhân Dụng
Người Việt

‘Kết hôn giả sẽ bị thu hồi thẻ xanh và bị trục xuất về Việt Nam’


Lời tòa soạn: Việc cơ quan công lực Hoa Kỳ khám phá ra đường dây “kết hôn giả” liên quan tới hàng trăm người tại Houston, Texas và đưa ra tòa vào ngày 10 Tháng Năm, 2019, vừa qua đã gây rúng động trong cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ. Để độc giả hiểu rõ hơn về những hậu quả của “kết hôn giả” và những vấn đề liên quan đến luật pháp của việc này, nhật báo Người Việt đã có bài phỏng vấn cựu Thẩm Phán Phan Quang Tuệ.

Thẩm Phán Phan Quang Tuệ từng phục vụ trong lãnh vực di trú từ năm 1985. Ông từng là Luật Sư Công Tố cho Cơ Quan Di Trú và Nhập Tịch Hoa Kỳ (United States Immigration and Naturalization Service – INS) trong 5 năm. Sau đó ông được bổ nhiệm chức vụ Thẩm Phán Tòa Án Di Trú tại San Francisco trong 18 năm. Ông về hưu cuối năm 2012.

Trong khuôn khổ bài phỏng vấn này, mọi thông tin chỉ có tính cách tổng quát, không có tính cách cố vấn pháp lý, bởi luật pháp áp dụng cho mỗi trường hợp mỗi khác. Nếu độc giả có các vấn đề liên quan tới di trú, xin vui lòng tham khảo luật sư di trú, những người có thẩm quyền và kinh nghiệm tư vấn riêng cho quý vị.

Để bảo lãnh một người phối ngẫu được định cư ở Mỹ theo diện vợ chồng, thì trước hết phải là vợ chồng thật sự. (Hình minh họa: Getty Images)

Phỏng vấn cựu Thẩm Phán Di Trú Phan Quang Tuệ

 (NV): Khi nghe tin về một đường dây kết hôn giả do người Việt cầm đầu bị phát hiện và đưa ra tòa hồi Tháng Năm, 2019, ông có bình luận gì?

Cựu Thẩm Phán Phan Quang Tuệ (PQT): Là một thẩm phán có 23 năm hoạt động trong lĩnh vực di trú, những tin tức như thế này không có gì lạ đối với tôi. Tôi không có bình luận gì về sự việc này.

Bởi vì khởi sự căn bản từ luật pháp của Hoa Kỳ thì bất kỳ ai bị truy tố đều được dự đoán là vô tội cho tới khi bị tòa tuyên án là có tội. Vì thế chúng ta không nên phán xét vội cho tới khi có phán quyết sau cùng của tòa án.

NV: Với tư cách là thẩm phán, ông có thể giải thích rõ hơn về lý lẽ căn bản của Luật Di Trú Hoa Kỳ đối với các diện bảo lãnh đoàn tụ gia đình trong đó có diện vợ, chồng?

PQT: Trước hết, muốn bảo lãnh một người nhập cảnh tới Hoa Kỳ và định cư ở đây, thì cần phải dựa trên các điều khoản về cấp chiếu khán.

Hàng năm, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ quyết định số chiếu khán được cấp, cho mỗi diện bảo lãnh và cho từng quốc gia. Tuy nhiên, chiếu khán dành cho các diện bảo lãnh trực hệ như cha mẹ, vợ chồng, con cái dưới 21 tuổi của công dân Mỹ thì không có giới hạn. Các trường hợp khác như bảo lãnh anh chị em, thì số lượng chiếu khán rất hạn chế cho nên chờ đợi rất lâu.

Với chiếu khán phối ngẫu (spouse) của công dân Mỹ, người công dân bảo lãnh nay phải nộp đơn lên Cơ Quan Di Trú (USCIS) để xin cấp chiếu khán và thị thực (visa) cho người phối ngẫu của họ. Chiếu khán này sẽ chứng minh mối liên hệ vợ chồng để nhập cảnh vào Hoa Kỳ.

Chiếu khán cho vợ chồng của công dân Hoa Kỳ đặt trên căn bản một chính sách quốc gia chủ trương đề cao và bảo vệ đoàn tụ gia đình.

Như vậy căn bản thì Người Bảo Lãnh (Petitioner) và Người Được Bảo Lãnh (beneficiary) phải là vợ chồng thực sự, không phải vợ chồng giả. Tức là họ đến với nhau dựa trên nền tảng tình thương yêu thật sự (gọi là “good faith” hoặc “bona fide”).

Một cuộc hôn nhân không dựa trên căn bản tình yêu, không dựa trên ý định gắn bó thực sự, mà dựa trên một mục đích vụ lợi khác, thì chiếu khán này vô giá trị.

Thế nhưng chính sách nhân đạo này đã bị lợi dụng bằng việc làm giả hôn thú (sham marriage), khiến các nhà lập pháp phải điều chỉnh lại luật để đối phó lại với sự gian dối này.

NV: Luật pháp đã điều chỉnh như thế nào để đối phó với việc kết hôn giả, thưa ông?

PQT: Trước năm 1986 nếu một công dân Mỹ muốn bảo lãnh cho người phối ngẫu thì chỉ việc hoàn thành mẫu đơn I-130 để xin chiếu khán (và mẫu đơn I-751 để điều chỉnh tình trạng di trú, nếu cần). Quá trình xét duyệt hồ sơ rất nhanh chóng, dễ dàng và thậm chí có thể không phải phỏng vấn vẫn được cấp chiếu khán và thị thực và cùng lúc được điều chỉnh tình trạng di trú thành thường trú nhân.

Điều này đã bị người ta lạm dụng bằng việc kết hôn giả. Do đó, từ năm 1986, đạo luật “Immigration Marriage  Fraud Amendments – IMFA” mới ra đời, đưa ra một cột mốc “hai năm.”

Cụ thể, khi một công dân Hoa Kỳ kết hôn với một người ngoại quốc (ví dụ Việt Nam), thì người phối ngẫu chỉ được điều chỉnh di trú tại Mỹ có điều kiện, tức là được cấp thẻ xanh có điều kiện (conditional green card). Sau hai năm, cả hai vợ chồng phải cùng nộp đơn (joint petition) xin hủy bỏ điều kiện di trú tạm thời trở thành thường trú nhân lâu dài. Khi đó Sở Di Trú sẽ cứu xét, và nếu cuộc hôn nhân là hợp pháp thực sự, người phối ngẫu sẽ được cấp thẻ xanh 10 năm và có thể gia hạn sau 10 năm, nếu không vi phạm pháp luật (permanent green card).

Ngược lại, nếu cuộc hôn nhân bị xem là bất hợp pháp từ khởi thủy là một cuộc hôn nhân giả mạo, người phối ngẫu có thể bị bác đơn xin thẻ xanh và phải trở về Việt Nam. Tuy vậy, cũng có những trường hợp ngoại lệ như người phối ngẫu bị bạo hành gia đình, thì lại có điều luật nhân đạo cho họ được ở lại  Hoa Kỳ.

Những người phối ngẫu có thẻ “Thẻ Xanh” (Green Card) phải định cư ít nhất 3 năm tại Hoa Kỳ, thì mới được nộp Đơn Xin Nhập Tịch (mẫu đơn N-400) và trải qua một kỳ phỏng vấn nữa, mới được trở thành công dân Hoa Kỳ.

Cựu Thẩm Phán Phan Quang Tuệ. (Hình: Phan Quang Tuệ cung cấp)
NV: Nếu việc kết hôn giả bị phát hiện, thì người bảo lãnh (petitioner) và người được bảo lãnh (beneficiary) sẽ bị hậu quả như thế nào, thưa ông?

PQT: Người bảo lãnh là công dân hoặc là thường trú nhân Hoa Kỳ. Họ cũng chính là người làm đơn, ký vào đơn và đứng ra nộp đơn bảo lãnh, xin visa cho người phối ngẫu. Do đó người bảo lãnh sẽ bị truy tố và chịu trách nhiệm hình sự theo luật pháp Hoa Kỳ.

Còn người phối ngẫu, tức là người được bảo lãnh, họ không trực tiếp làm đơn bảo lãnh, thì tùy trường hợp cụ thể để xử lý. Người phối ngẫu có thể nói họ là nạn nhân, họ không biết chuyện gì xảy ra, hay không có ý định phạm tội. Do đó không thể kết tội họ, nếu như không có bằng chứng nào chứng minh là họ có hành vi cố tình phạm tội.

NV: Vậy người phối ngẫu đang có thẻ xanh thông qua kết hôn giả, họ sẽ bị xử lý ra sao?

PQT: Như tôi đã giải thích ở trên, để bảo lãnh một người phối ngẫu được định cư ở Mỹ theo diện vợ chồng, thì trước hết phải là vợ chồng thật sự. Điều này được thể hiện qua chiếu khán thường trú nhân.

Vậy thì khi họ kết hôn giả, sẽ xem như không có chiếu khán, vì thế mà thẻ xanh của người phối ngẫu này, không còn giá trị.

Người phối ngẫu trong trường hợp này, sẽ bị thu hồi thẻ xanh và bị trục xuất về Việt Nam. Tất nhiên còn nhiều trường hợp ngoại lệ khác. Tòa án sẽ xét theo từng trường hợp cụ thể, “case by case.” Những người liên quan đến việc kết hôn giả sẽ được xử riêng biệt chứ không phải xử tập thể, hàng loạt như báo chí nói.

PV: Trong trường hợp công tố viên có bằng chứng cho thấy người phối ngẫu (người được bảo lãnh) có ý định phạm tội, thậm chí đã đưa tiền cho người bảo lãnh để họ đứng ra bảo lãnh diện vợ chồng bằng một hôn thú giả nhằm có được thẻ xanh thì sao?

PQT: Nếu người được bảo lãnh đang di cư trên lãnh thổ Hoa Kỳ tại thời điểm xử án, thì người này có thể bị truy tố. Nhưng tội danh và hình phạt luật định thế nào thì tùy trường hợp cụ thể.

Các trường hợp khác, chỉ cần khởi sự thủ tục dân sự (civil proceeding) và thực hiện các thủ tục hành chính để thâu hồi quy chế thường trú và tiến hành trục xuất mà không phải ngồi tù. Họ có thể bị chuyển sang cơ quan truy tố và thi hành về di trú (ICE) để xử lý và tiến hành trục xuất. Nhưng việc thực hiện trục xuất không đơn giản, cần phải qua một tiến trình.

NV: Vậy nếu người phối ngẫu còn đang ở Việt Nam, đang chờ được bảo lãnh thì sao, nếu hôn nhân của họ bị kết tội là giả?

PQT: Những người này không bị luận tội theo luật pháp Hoa Kỳ, nhưng hồ sơ của họ sẽ bị lưu trữ mãi mãi trong Sở Di Trú (USCIS) về việc dính líu tới kết hôn giả. Họ sẽ không có cơ hội để xin được thị thực vào Mỹ theo diện vợ chồng và có thể nhiều diện khác.

NV: Quá trình trục xuất diễn ra như thế nào thưa ông?

PQT: Cần hiểu rằng ICE là cơ quan truy tố và thi hành Luật Pháp Di Trú. Việc giam giữ (custody) của ICE không có tính cách trừng phạt mà chỉ có tính cách hành chánh nhằm giam giữ những người bị trục xuất để chờ ngày trả họ về đất nước mà họ có quốc tịch.

Thủ tục trục xuất phải dựa trên bản án sau cùng (tức là người bị trục xuất không còn kháng án gì nữa), và áp dụng cho những người không phải là công dân Mỹ. Trong bài phỏng vấn này, chúng ta đang nói về công dân Việt Nam.

Muốn trục xuất công dân này thì trước hết, chính phủ Việt Nam phải đồng ý nhận những người này.

Xin nói rõ thêm, ngày 22 Tháng Giêng năm 2008, hai chính phủ Việt Nam và Hoa Kỳ đã ký một thỏa ước (Memorandum of Understanding – MOU)  là chính phủ Việt Nam sẽ bắt đầu nhận những người Việt Nam bị chính phủ Hoa Kỳ trục xuất những người đến Hoa Kỳ sau ngày thiết lập bang giao là ngày 12 Tháng Bảy, 1995.

Điều này, không có nghĩa là những người Việt Nam tới Mỹ trước ngày  12 Tháng Bảy năm 1995 thì được miễn trục xuất. Chỉ đơn giản là hai chính phủ chưa có một văn bản thỏa thuận nào dành cho các trường hợp này mà thôi.

NV: Nhưng nếu Hoa Kỳ đã ra lệnh trục xuất mà chính phủ Việt Nam chưa chịu nhận thì sao?

PQT: Nếu chính phủ Việt Nam không hoặc chưa có văn bản nhận lại công dân của họ thì ICE sau khi giam giữ trong một thời hạn nhất định (thường là 90 ngày), phải phóng thích những người này cho đến khi có thể thi hành lệnh trục xuất. Nhưng lại không có một quy chế, một văn bản nào để quản lý những người này khi phóng thích, thành thử ICE chỉ đòi hỏi họ trình diện có thể một năm một lần, hoặc qua điện thoại, hoặc gắn chip theo dõi vào chân. Các đời tổng thống trước, những người này vẫn được ở cùng gia đình, co khi con được có giấy phép để làm việc. Nhưng tới thời Tổng Thống Trump, ngay cả những người tuân thủ luật pháp, dù đang có gia đình, con nhỏ, dù đi trình diện đều đặn, thì tất cả cũng có thể bị giam giữ để chờ ngày trục xuất. Các cơ quan hành pháp, đã không suy xét theo từng trường hợp cụ thể, không nhân nhượng, gieo rắc nỗi sợ hãi cho nhiều gia đình. Điều này, theo cá nhân tôi, là một vấn đề về khía cạnh nhân đạo, đi ngược lại với giá trị căn bản của nước Mỹ.

NV: Nếu người phối ngẫu với công dân Hoa Kỳ đã có quốc tịch, khởi đầu là từ một hôn thú giả từ hàng chục năm về trước, nay bị phát hiện và bị kết tội, thì điều gì xảy ra với họ? 

PQT: Căn cứ vào Luật Liên Bang Hoa Kỳ về việc tước quốc tịch (8 U.S. Code § 1451 part 340 – Revocation of naturalization) và hướng dẫn tại: Volume 12, Part L, Chapter 2 công bố trên Website Sở Di Trú (USCIS) thì: “Bất kể người nào có được Quốc Tịch Mỹ bằng cách gian dối, bất hợp pháp đều bị tước quốc tịch.”

Như vậy những người này, dù cố ý hay hay không cố ý trong việc kết hôn giả, dù sự việc xảy ra đã lâu hay họ đã có quốc tịch bao năm trước đi nữa, thì khi bị phát hiện vẫn có thể bị thu hồi quốc tịch. Chỉ có Văn Phòng Bộ Tư Pháp (US Attoney Office) mới có thẩm quyền khởi sự thủ tục và ra phán quyết về thu hồi quốc tịch.

Cần nói thêm rằng, nếu một người từng tham gia vào tổ chức khủng bố, hay một đảng độc tài như Đảng Cộng Sản trong vòng 5 năm kể từ ngày nhập quốc tịch, nếu bị phát hiện che giấu sự việc này, thì sẽ bị tước quốc tịch.

NV: Vậy còn người đóng vai trò là người bảo lãnh, nếu bị kết tội tham gia kết hôn giả, liệu có bị tước quốc tịch (hoặc tước thẻ xanh) và trục xuất không?

PQT: Nếu người bảo lãnh (đương đơn đứng ra nộp hồ sơ bảo lãnh) đã có quốc tịch Mỹ một cách hợp pháp (ví dụ do cha mẹ bảo lãnh, hoặc từng được bảo lãnh diện vợ chồng trước đó nhưng là vợ chồng thật) thì sẽ không bị tước quốc tịch. Người này là công dân Mỹ hợp pháp nên sẽ không bị trục xuất dù phạm tội kết hôn giả. Nhưng người này, nếu phạm tội kết hôn giả, sẽ bị xử tội hình sự theo luật pháp Hoa Kỳ và có thể bị kết án tù.

Trường hợp người này chưa có quốc tịch, đang là thường trú nhân hợp pháp, nếu phạm tội kết hôn giả, tùy theo mức độ nặng nhẹ, có thể bị xử tội hình sự và có thể bị trục xuất về Việt Nam (nếu người này định cư Mỹ sau ngày 12 Tháng Bảy, 1995).

NV: Xin cảm ơn cựu Thẩm Phán Phan Quang Tuệ về bài phỏng vấn này! 


Tâm An
Người Việt

Nhìn Hongkong Chúng Ta Đừng GATO


Người dân xuống đường biểu tình tại Hà Nội với biểu ngữ "Ai đầu độc biển miền Trung?", ngày 1/5/2016.

Nhiều người thấy 1/7 dân số HongKong xuống đường biểu tình cứ suýt xoa, ước gì dân Đông Lào nhà mình có được chỉ cần 1/10 của họ bala bala …

Thưa các anh chị rằng, HongKong họ đã có hơn 120 năm sống trong nền tư bản giãy mãi mà không chết, hiện nay họ còn là trung tâm thương mại tài chính nhất nhì thế giới, …. Biểu tình vậy mà đạo luật vẫn bấm nút thông qua he he không có gì là lạ bởi hiện nay HongKong đã rơi về tay cộng sản Trung Quốc.

Còn Đông Lào thì sao, sự kìm kẹp của chế độ cộng sản sau 44 năm đã có gì gọi là mở mang tầm mắt chưa? Đến anh hùng bàn phím còn phải dặt dè, đánh rắm không dám kênh đít để thoả mãn sự sung sướng cuộc đời thì đừng có mà gato với họ.

Với tôi, là một thế hệ sinh sau đẻ muộn, nhưng tôi thấy mới trải qua vài cuộc biểu tình ngày một rầm rộ và lớn mạnh hơn. Còn nhớ hồi tôi mới xuống đường lần đầu, cả đám chúng tôi ở Hà Nội người dân xung quanh nhìn chúng tôi bằng những ánh mắt như người ở hành tinh khác trở về, và râm ran xa gần đều nghe được hai chữ

“Phản động” he he không có gì là lạ. Bởi đám chúng tôi quá ít, quá cô đơn, cả đoàn chưa nổi 50 người.

Đến năm 2015, phong trào phản đối chặt 6.700 cây xanh Hà Nội đã dần khả quan hơn, lúc đó chúng tôi mừng lắm, vui lắm háo hức vô cùng. Ngày hôm đó tại bờ hồ Thiền Quang đoàn biểu tình chúng tôi không còn cô đơn lạc lõng như những năm trước đây, họ đã hưởng ứng xuống đường khoảng trên 1.000 người.

Ngay năm sau, ngày 1.5.2016 tại bờ hồ Hoàn Kiếm Hà Nội, đã có khoảng trên 5.000 người cùng đồng thanh phản đối nhà máy Formosa xả thải gây ô nhiễm môi trường làm chết cá hàng loạt ở bờ biển miền trung.

Rồi ngày 10.6.2018 thì sao, một cuộc tổng biểu tình được cho là lớn nhất từ sau năm 1975 trở lại đây, theo ước tính có tới gần 2 vạn người tham gia xuống đường tại Sài Gòn để phản đối Luật Đặc Khu và Luật An Ninh Mạng.

Trong khi đó, HongKong rầm rộ lớn mạnh như vậy, đạo luật Dẫn độ vẫn được thông qua.

Còn Đông Lào chúng ta thì sao? Sau sự kiện xuống đường ngày 21.3.2015 để phản đối chính quyền Hà Nội chặt hạ 6.700 cây xanh thì việc chặt hạ cây xanh trên quy mô lớn ở Hà Nội được dừng lại. Tiếp đến sự kiện biểu tình ngày 10.6.2018 thì Quốc hội xứ Đông Lào đã phải dừng biểu quyết Luật Đặc Khu.

Vậy cho nên, ở đâu có áp, ở đó có đấu tranh. Ở Đông Lào dưới sự dẫn dắt của đám gọi là “phản động” thì cũng đã có sự thay đổi nhất định của giới chức trách nhà cầm quyền Việt Nam.

Trước thế kỷ 20, tại xứ sở An Nam có rất nhiều phong trào được phát động nhằm thay đổi thể chế, thay đổi an sinh xã hội, thay đổi diện mạo đất nước như: Phong trào Tây Sơn, Phong trào Đông Du, Phong trào Cần Vương, Phong trào Duy Tân, Phong trào Đồng Khởi ….

Thế kỷ 21 tại HongKong hiện nay có Phong trào Dù Vàng được con dân xứ Đông Lào nhắc tới rất nhiều, Phong trào Dù Vàng nhằm mục tiêu của họ là đòi hỏi được

một nền dân chủ thực thụ chứ không thể lệ thuộc hay chi phối bởi chính quyền cộng sản Trung Quốc can thiệp.

Tại sao ở HongKong có Phong trào Dù Vàng họ mạnh mẽ như vậy mà Đông Lào chúng ta không chung tay đoàn kết thành lập một Phong trào gì đó để thay đổi diện mạo đất nước, xoá bỏ thể chế độc tài cộng sản? Hay chăng chúng ta nên thúc đẩy để có một Phong trào Diệt Cộng trong toàn dân xứ Đông Lào.


Thái Văn Đường
SaiGonPost

Trao đổi về Đại hội 13 của ĐCSVN


Còn gần 2 năm nữa ĐCSVN mới họp ĐH 13, thế mà bây giờ đã rầm rộ chuẩn bị. Bắt đầu thảo luận từ HN TƯ 9 (ngày 25/12/2018), bàn luận nhiều ở HN TƯ 10 (ngày 16/5/2019). Ngày 30/5 Bộ CT ra chỉ thị số 35 về ĐH Đảng các câp. Tiếp đến TBT Nguyễn Phú Trọng công bố bài : Chuẩn bị và tổ chức thật tốt đại hội đảng bộ các cấp tiến tới đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của đảng. Rất nhiều ban bệ đã được lập và tích cực hoạt động.



Để góp ý kiến cho ĐH, ông Nguyễn Trung viết thư gửi TBT, các UV Bộ CT ( ngày 25/4/2019), ngày 20/5/ 2019 lại công bố bài “Kiến nghị về ĐH XIII “. Ông Vũ Trọng Khải viết bài “Đại hội 13 của ĐCSVN: Đổi mới toàn diện để Việt Nam có thể trở thành một nước phát triển vào năm 2030”. Tôi vốn định chờ đợi khi mọi việc tương đối rõ ràng mới góp ý, nhưng trước các sự kiện dồn dập không thể ngồi yên mà cũng động bút vài dòng. Ngày 12/1/2019 tôi công bố bài : “ Góp ý chuẩn bị ĐH 13 ĐCSVN” và bây giờ viết vài ý trao đổi với ông Trung, ông Khải, ông Trọng và những lãnh đạo của Đảng.

Tại HN 10, nghe ông Trọng nói vài điều về đổi mới chính trị, về sửa đổi điều lệ Đảng, một số người vội mừng. và hy vọng. Biết đâu ông Trọng đang chuyển biến theo hướng dân chủ hóa. Bài của ông Trung và của ông Khải hình như dựa trên giả thuyết này. Chẳng thế mà ông Trung, trong mục kết luận viết : Đề nghi ông “Nguyễn Phú Trọng kêu gọi cả nước đoàn kết một lòng, khép lại quá khứ, cùng nhau đem hết tâm trí và nghị lực tiến hành cải cách chính trị thành công. Đề nghị Đồng chí nhân danh nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và Đảng Cộng Sản Việt Nam long trọng tuyên bố trước toàn thế giới: Việt Nam quyết hoàn thành thắng lợi cuộc cải cách này để phát triển quốc gia mình”.

Ông Khải đề nghi những cải cách quan trọng về chính trị, kinh tế, giáo dục và đào tạo, mà ông gọi một cách khiêm tốn là “ lạm bàn”. Về chính trị ông đề nghị đổi mới ĐCS, đổi mới hệ thống tổ chức nhà nước, chuyển đổi từ toàn trị sang dân chủ, soạn lại hiến pháp v.v…Toàn những đề nghị rất hay, rất thiết thực, chỉ là ĐCS không thể chấp nhận.

Thế còn chỉ thị 35 và bài của ông Trọng viết những gì ?. Vẫn là con đường cũ, lý thuyết cũ, vẫn kiên trì Mác Lê và toàn trị. Nghĩa là mọi thứ chỉ dựa vào một nguồn, không bao giờ chịu nghe lời phản biện. Vẫn kêu gọi tìm cho được sự thât, nhưng rồi người kêu gọi và kẻ đi tìm đã tự bưng tai bịt mắt để chỉ tìm thấy một phần của sự thật, mà đó chỉ là phần bên ngoài. Dù cho có kêu gọi rát họng mà cách làm như vậy sẽ không bao giờ tìm ra bản chất của sự vật.

Những mừng rỡ, hy vọng của một số người về ông Trọng té ra bị nhầm to. Chỉ thị số 35 và bài viết của ông Trọng như những thùng nước lạnh và bẩn dội vào những hy vọng mỏng manh của họ. Không biết sau khi đọc được chỉ thị 35 và bài của ông Trọng, những người đặt niềm tin vào ông có tỉnh ngộ ra không.

Để chuẩn bị cho ĐH có 2 việc quan trọng nhất : nhân sự và báo cáo. Về nhân sự, trước đây tôi đã có bài “ Phản biện đường lối cán bộ cộng sản”. Đảng dựa vào Quy hoạch cán bộ, một quy hoạch mà từ Bộ CT đến các đảng viên thường cho là rất đúng, rất hay, nhưng tôi lại thấy nó, ngoài vài điều chấp nhận được, phần lớn toát lên tính phản dân chủ, phản tiến bộ, phản khoa học. Tôi xin đem sinh mạng ra để bảo vệ điều vừa viết. Bài này tạm chưa bàn vấn đề cán bộ, chỉ mới bàn một ít về báo cáo.

Báo cáo chính trị gồm 2 phần chính : Đành giá tình hình và vạch ra nhiệm vụ mới. Những thư ngỏ, góp ý, tuy có đề cập đến tình hình, nhưng chủ yếu bàn về nhiệm vụ. Tôi lại cho rằng quan trọng nhất là đánh giá tình hình và tìm ra nguyên nhân cơ bản của tai họa. Nếu đánh giá sai thì mọi đường lối, mọi nhiệm vụ được vạch ra, dựa trên sự đánh giá ấy sẽ khó có được mức độ tin cậy.

Để đánh giá, trong CT 35 cũng như trong bài của ông Trọng đều nhận định rằng : “ Đánh giá đúng bao giờ cũng là một việc khó”. Vì thế phải nhìn vào sự thật, tôn trọng sự thật. Nói thì hay như vậy, nhưng liệu có làm được không. Tôi đã đọc kỹ các báo cáo của vài ĐH vừa qua và chưa thấy một báo cáo nào viết rõ sự thật . Mẫu văn bản được lặp đi lặp lại là : “ Về vấn đề A, B này đã có những thành tích như sau…., nhưng cũng tồn tại một số thiếu sót… Nguyên nhân là do XYZ, từ đó rút ra bài học M N O P”. Báo cáo ở ĐH XIII chắc cũng lặp lại như thế.

Những báo cáo như vậy đã làm vừa lòng nhiều người, nhưng nó mang lại lợi ít, hại nhiều, rất lãng phí và đặc biệt là làm cho lãnh đạo và nhiều người hiểu không đúng thực tế. Nó được viết dựa vào sự thật, nhưng tiếc thay đó mới chỉ là một phần của sự thật, mà là phần bên ngoài, dễ thấy, còn thiếu mất phần bên trong, thuộc bản chất, rất khó thấy.

Khi chỉ nhìn thấy một phần bên ngoài mà chưa thấy rõ bản chất rồi vạch đường lối thì có nhiều khả năng phạm sai lầm, vạch ra những thứ không cách gì thực hiện được như làm cho Đảng trong sạch vững mạnh, như tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc lên CNXH, như đến năm 2020 đưa VN thành nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Rồi còn phạm vào chuyện, đề ra những việc mang lại tai họa như hợp tác xã nông nghiệp, cải tạo kinh tế tư nhân, quốc hữu hóa ruộng đất, kinh tế nhà nước là chủ đạo v.v…

Những người làm báo cáo có thể thấy phần nào bản chất, nhưng không dám viết ra, hoặc họ không thấy được. Vì sao vậy ? . Vì ý thức hệ như một cái màng che mắt, vì sự kiên trì Mác Lê như một cái chụp lên đầu, vì sợ mất thứ này, bị thứ kia.

Một phần của bánh mì vẫn là bánh mì, một phần của sự thật lắm khi không phải là sự thật ( mà là dối trá). Phải chăng trong các báo cáo là loại sự thật này.

Rất mong lãnh đạo Đảng có người còn thiện chí để nghe những góp ý. Tôi thấy cấp bách nhất, quan trọng nhất của ĐH XIII là đánh giá thật đúng tình hình, nghĩa là nhìn cho ra, biết cho đúng sự thật, tìm cho được nguyên nhân cơ bản của những tai họa đang vướng phải. Muốn thế Đảng không thể dựa vào những cán bộ và trí thức của mình. Phần lớn họ là người hữu danh vô thực, nhiều mưu mẹo nhưng kém thông minh, làm việc chủ yếu theo lối dựa dẫm chứ không có phương pháp khoa học, không có năng lực phân tích và phát hiện. Họ chỉ có thể tìm ra một phần sự thật.

Vậy lãnh đạo Đảng muốn biết được sự thật trong khi chưa thực sự có tự do ngôn luận, chưa có tự do báo chí thì tốt nhất là tổ chức đối thoại giữa cán bộ của Đảng và những người phản biện. Không phải đấu tranh tư tưởng, không phải tranh luận mà là đối thoại. Đối thoại là hợp tác để cùng nhau tìm ra tiếng nói chung. Đối thoại giúp mỗi bên trình bày hết quan điểm của mình và nghe được những điều hay lẽ phải của bên kia, để điều chỉnh, để sửa đổi, để hợp tác. Đoán rằng phía Đảng ngại đối thoại công khai, vậy tổ chức đối thoại kín cũng được. Nhưng nó phải được thu âm toàn bộ, trung thực để Bộ CT và BCH TƯ nghe và thảo luận. Các UV Bộ CT và BCH TƯ nên đến trực tiếp nghe đối thoại. Đối thoại công khai để cho toàn dân theo dõi sẽ là tốt hơn nhiều.

Hình như lãnh đạo Đảng sợ phải đối thoại. Sợ gì kia chứ. Trong tay Đảng có đầy đủ sức mạnh bạo lực, còn các nhà phản biện đến đối thoại với hai tay không. Xin đừng sợ những nhà phản biện như sợ ma quỷ. Nếu qua đối thoại mà phát hiện được thế lực thù địch thì cứ lập tòa án mà xử, chúng nó chạy đâu cho thoát.
Không dám đối thoại để tìm chân lý thì Đảng bị mang tiếng là nói dzậy nhưng không phải dzậy, hoặc nặng lời là “ Bề ngoài thơn thớt nói cười, Mà trong nham hiểm lừa người ngây ngô. Miệng luôn cầu khấn Nam mô. Bụng toàn chứa sẵn một bồ âm mưu”.

Xin hỏi Bộ Chính trị, hỏi Hội đồng lý luận và Ban tuyên giáoTƯ, các vị có dám đối thoại không. Đặc biệt là đối thoại để chuẩn bị cho ĐH XIII. Nếu các vị không dám thì nói nhiều cũng vô ích. Tôi đã có nhiều suy nghĩ về các cách tổ chức đối thoại. Khi các vị chấp nhận đối thoại, cần hỏi đến tôi sẽ xin trính bày sau. Ngại rằng “ nói trước bước không qua”.


FB Nguyễn Đình Cống
 

Top ↑ Copyright © 2016. Tiến Bộ - All Rights Reserved
Back To Top ↑