Tin Tức Cập Nhật :

Youtube TV Channel

Yêu nhau ngu thế bằng mười hại… bác


1- Một lần mình đến Phường có chút việc, vào phòng HĐND, cô chủ tịch HĐND khá trẻ, tươi cười nói chyện.

Nhìn lên tường thấy một bức tranh sơn mài vẽ một ông ngồi cầm bút trên ghế mây. Khuôn mặt béo ị, đôi mắt hum húp, một tay cầm thuốc lá và tay kia cầm bút viết trên tờ báo Nhân dân, nhưng cầm bút theo kiểu người Tàu viết chữ Hán. Thấy hay hay, mình hỏi:

– Đây là ai đây?

Khá ngạc nhiên nhìn mình, cô ấy bảo:

– Anh cứ nói đùa, chẳng lẽ anh không biết đấy là bác?

– Ồ, bác nhà em à? Sao bác nhà em lại không treo ở nhà mà lại treo ở đây? Đây là UBND Phường cơ mà.

– Anh không biết thật à? Chẳng lẽ anh không biết đó là bác hồ.

– Bác hồ? Anh thấy nhiều ảnh rồi, nhưng khuôn mặt này, con người này không thể là Hồ Chí Minh, anh thấy nhiều cái khác rồi và khác chứ không phải ông béo ị như thế này.

– À, vâng, đúng là cái ảnh này không giống lắm thật, nhưng nhìn vào đó người ta biết là bác hồ là được rồi mà anh.

– Không được, anh nghĩ đã vẽ ai, chụp ảnh ai đưa lên là phải giống. Còn nếu không giống thì phải ghi chú cho rõ chứ. Em không thấy trong sách giáo khoa cho học sinh, khi họa sĩ vẽ con bò, dù rất giống vẫn cứ ghi chú: “Con bò” đó thôi.

JB Nguyễn Hữu Vinh: “Hề hề, thế mà mình tưởng ông nào đang đi vệ sinh, may có tấm biển ghi danh”

Tất nhiên, là nhiều khi người ta vẽ con bò nhưng lại giống con trâu nên người ta cũng cần chú thích vì họ muốn vẽ con bò.

– Nhưng nhìn cái ảnh ngồi như thế này, thì người ta nghĩ là bác hồ mà anh.

– Đâu có được, ngồi như thế nào là tùy người ta thích. Chứ chẳng lẽ không ai được ngồi như thế này nữa kẻo bị nhầm là bác hồ à? Nếu anh cũng ngồi như thế này, chụp ảnh xong đưa treo lên đây có được không? Ảnh này anh lại tưởng là bác nhà em.

– Sao mà được, sao ảnh bác nhà em lại dám treo ở đây.

– Vậy thì Hồ Chí Minh có làm cái nhà này đâu, nhà của dân sao em lại nghĩ treo Hồ Chí Minh ở đây thì dám?

2- Một lần các chú giả danh côn đồ bắt mình vào ngồi ở đồn công an, trên tường là một tấm ảnh một ông ngồi đang viết vào một cuốn sách, trên đầu có hình cái búa, cái liềm như giáng vào đầu. Mình buồn cười bảo một chú mặc sắc phục công an:

– Cái ảnh này các chú vẽ đấy à?

– Đâu có, đây là ảnh bác hồ người ta in sẵn và bán đại trà mà anh.

– Thế à, tưởng các chú vẽ thì cất ngay đi, không thì các chú bị tội bôi nhọ lãnh tụ đấy. Bọn Trần Nhật Quang mà nó nhìn thấy thì các chú lại bị chúng nó đến nhà đổ sơn, chửi rủa và phá rối an ninh ngay vì bôi nhọ bác nhà chúng nó.

– Sao anh lại nói thế? Có gì sai mà Trần Nhật Quang nào lại dám làm thế?

– Thì đấy, thứ nhất là ông ấy đang đọc sách, lại cầm bút vẽ bậy vào sách là không đúng với tư cách người biết yêu sách. Sách đâu chỉ đọc một lần rồi vứt đi, ông ấy đọc xong để người khác đọc với chứ. Viết vẽ bậy vào đó là phá hoại sách. Mà Lenin nói “không có sách là không có tri thức” cho nên không quý sách thì không quý tri thức.

Thứ hai, là ông ấy đang ngồi đó, tội vạ gì mà vác cả búa, cả liềm đâp vào đầu ông ta? Nếu có tội thì phải đem ra xét xử hẳn hoi chứ sao lại chơi kiểu hành hình thời trung cổ như thế.

JB Nguyễn Hữu Vinh: “Người này có tội tình chi/ Mà giáng cả mấy thứ ni vào đầu?”

Chú ấy im lặng, vì hình như không biết nói gì hơn.

Nhiều khi, sự mê muội đến mức ngu xuẩn, ngay cả trong sự yêu quý đi nữa, nhưng mù quáng thì vẫn luôn ẩn chứa những điều nguy hại mà không biết.

Các cháu DLV và đám học trò xuất sắc, cháu ngoan của bác chỉ giỏi chửi bậy, không biết đến văn hóa tranh luận, chỉ giỏi trưng bày phụ khoa và ngôn ngữ nhà vệ sinh công cộng mà không chịu học hỏi thì cũng chỉ làm hại “bác kính yêu” mà thôi.

Đến cả cái Bộ TTT và báo chí cũng như các cơ quan còn mê muội đến thế cơ mà.

Đây có lẽ cung là góp ý nghiêm túc cho đám Tuyên giáo, nên tôn trọng sự thật ngay cả khi bị cuồng, bị điên hay mù quáng trong sự lừa đảo.

Mình nói vậy không biết có đúng không và có lẽ mình còn yêu quý “bác hồ” hơn chúng nó nhiều.

Bọn bố láo lấy hình quỷ Satan lại ghi là Chủ tịch Hồ Chí Minh, rồi còn lập đạo bác hồ để lừa đảo đồng bào. Nhưng vì làm theo bác “bác” nên công an coi như không biết. Thực chất là chúng chửi bác cách tinh vi nhất, công an và chính quyền u mê, bác sao hiểu được. Ảnh: JB Nguyễn Hữu Vinh


JB Nguyễn Hữu Vinh

Con trai Mục sư Tôn ‘nói thay cha’ tại Thượng đỉnh Nhân quyền ở Geneva


Nguyễn Trung Trọng Nghĩa tại hội nghị về nhân quyền ở Geneva ngày 20/2/2018.

Nguyễn Trung Trọng Nghĩa, con trai của Mục sư đang bị giam cầm Nguyễn Trung Tôn, là một trong 22 đại diện được chọn để kể câu chuyện về nhân quyền trên thế giới tại Hội nghị thượng đỉnh Nhân quyền và Dân Chủ ở Geneva vào ngày 20/2, ngay trước thềm phiên họp thường niên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc.

Thông tin cho VOA từ Geneva, Trọng Nghĩa cho biết: “Hội nghị thượng đỉnh này là để cho các cá nhân, tổ chức là những người đang bị bức hại tại nhiều nước khác nhau có cơ hội để giải trình trước các nhà ngoại giao ở các nước có dân chủ, tự do, để họ biết thêm thông tin và những câu chuyện nhỏ từ rất nhiều người để đem đến cuộc họp của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc”.

Trọng Nghĩa được biết tiếng gần đây qua các đoạn video blog ngắn, nói lên cái nhìn của một người trẻ về những vấn đề thời sự của đất nước. Nhưng câu chuyện cá nhân mà Vblogger 22 tuổi này đem đến hội nghị ở Geneva đã khiến nhiều cử tọa ngạc nhiên và bất ngờ vì tình trạng vi phạm nhân quyền tại Việt Nam.

“Đó là một đêm định mệnh, 30/4/2003, khi làng xóm quê em hơn 100 người bị công an xúi giục vào nhà em cắt dây điện. Họ ném đá vào nhà, không cần biết có con nít người lớn gì cả. Họ cứ thế chọi đá vào. Sau đó, họ vào đánh em và ba em. Họ kéo ba em xuống ao và cố dìm ba em xuống. Sau đó, họ kéo ba em vào. Lúc này, thân thể ba em đã tan nát và đã bị chìm dưới nước một lúc nên chỉ còn nửa phần mạng thôi. Họ đem ba em vào phòng khách và tiếp tục đánh ba em, đánh đến nỗi em lúc đó mới 10 tuổi đi vô mà không nhìn ra ba mình nữa. Mặt ông toàn máu, nước mắt chảy đầm đìa. Họ bắt ba em quỳ xuống xin lỗi họ. Họ nói nếu ba em không quỳ xuống xin lỗi và chối bỏ Chúa, bỏ đạo, thì họ sẽ giết ba em trong đêm đó. Khoảnh khắc đó em cảm giác như mọi thứ trên đời này, trời đất, mọi chuyện dường như dừng lại trong lòng em. Rồi em nghe ba nói một câu rất thấm thía. Trong giờ phút khổ đau như vậy, ba em thẳng thắn nói rằng ‘Tôi sẽ không bao giờ quỳ lạy bất kỳ người nào trên đời này và tôi sẽ không bao giờ chối bỏ Chúa của tôi’. Và họ tiếp tục lao vào đánh ba em…”

Đại diện từ các nước đến tham dự Hội nghị thượng đỉnh về Nhân quyền ở Geneva ngày 20/2/2018.

Hội nghị thượng đỉnh về nhân quyền và dân chủ tại Geneva do liên minh gồm 25 tổ chức phi chính phủ về nhân quyền trên khắp thế giới tài trợ.

Hội nghị thượng đỉnh về nhân quyền năm nay quy tụ 22 nhà hoạt động, bất đồng chính kiến, cựu tù nhân chính trị từ nhiều nước trên thế giới, trong đó có người bán sách Hồng Kông Lam Wing-kee từng bị Trung Quốc bắt cóc, cựu tù nhân sống sót sau thảm sát Thiên An Môn Trung Quốc Yang Jianli, cựu tù nhân Mỹ bị giam giữ lâu năm nhất ở Triều Tiên Kenneth Bae, ông bà Fred và Cindy Warmbier-bố mẹ của sinh viên Mỹ Otto Warmbier đã tử vong sau khi được trả về từ Triều Tiên…

Là đại diện duy nhất của Việt Nam tham dự hội nghị lần này, Nguyễn Trung Trọng Nghĩa hy vọng câu chuyện của gia đình mình sẽ được đem ra chất vấn trong phiên họp thường niên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc mà Việt Nam sẽ tham dự và có trách nhiệm trả lời.

“Hy vọng những thông điệp của em gửi lên các chính sách quốc tế và các cá nhân sẽ dựa vào đó để giúp đòi tự do cho ba em. Còn nếu sự tự do cho ba em là một điều quá xa xỉ thì hy vọng họ sẽ có câu chuyện để làm áp lực Việt Nam dừng tra tấn, bắt bớ những tù nhân lương tâm mới”, Vblogger có tên “Effy Nguyen” nói.

Cha Nghĩa, Mục sư Nguyễn Trung Tôn, là Chủ tịch Hội Anh em Dân chủ, thành viên của Hội đồng Liên tôn Việt Nam. Ông từng bị kết án 2 năm tù theo Điều 88 về Tuyên truyền chống Nhà nước XHCN Việt Nam năm 2011. Trong thời gian bị quản chế sau khi ra tù, tháng 7/2017, Mục sư Tôn lại bị bắt với cáo buộc “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” theo Điều 79.

Trung Nghĩa cho biết hiện Mục sư Tôn đang bị giam giữ tại trại giam B14. Sức khỏe và tinh thần của ông đều ổn và sẵn sàng tham dự phiên tòa sắp tới (chưa được ấn định ngày).

Trong Phúc trình Toàn cầu 2018 công bố vào tháng trước, tổ chức Theo dõi Nhân Quyền (HRW) nói Việt Nam trong năm 2017 đã “gia tăng đáng kể việc đàn áp các nhà hoạt động dân chủ và nhân quyền”.

Phúc trình này cho biết có ít nhất 24 người bị kết án vì viết bài và vận động cho dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam, trong đó có blogger Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (bút danh Mẹ Nấm), bà Trần Thị Nga, sinh viên Phan Kim Khánh, blogger Nguyễn Văn Hóa.. và ít nhất 28 người bị công an bắt với cáo buộc tội danh về “an ninh quốc gia” như các ông Nguyễn Bắc Truyển, Trương Minh Đức, Nguyễn Văn Túc, Nguyễn Trung Tôn, Phạm Văn Trội…


VOA

Từ chặt hoa đến bẻ hương


Những cặp đôi nhảy đầm ở tượng đài Lý Thái Tổ, Hà Nội hôm 17/2/2018

Đầu năm, đầu tháng, lẽ ra tôi nên nói chuyện gì đó vui vui. Nhưng thực sự khó mà nói chuyện vui được khi mọi thứ trong xã hội tôi sống trở nên tệ hại và bệ rạc. Từ chuyện cuối năm nông dân bán hoa không được thì thẳng tay chặt hoa cho đến chuyện một người đàn bà xông vào phá lễ tưởng niệm những chiến sĩ đã ngã xuống trong cuộc chiến Việt – Trung 1979, và thêm nữa, Võ Văn Thưởng, con trai cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, hiện là Trưởng ban tuyên giáo Trung ương trả lời với truyền thông là “tôi mới nhậm chức nên không biết gì về cuộc chiến biên giới 1979”.

Vì sao nông dân trở nên máu lạnh? Họ máu lạnh từ bao giờ? Vì sao người ta trở nên hỏng hóc tư duy đến độ không biết phải trái, xông vào bẻ hương, phá đám lễ tưởng niệm? Vì sao Võ Văn Thưởng lại trả lời ngô nghê như một đứa thất học?

Ở khía cạnh thứ nhất, nói nông dân trở nên máu lạnh, điều này vô hình trung vơ đũa cả nắm và xúc phạm những người quanh năm bán mặt cho đất, bán lưng cho trời để làm ra hạt gạo, làm ra lương thực cho quốc gia. Nhưng đâu đó, rau bơm thuốc hôm nay, ngày mai hái đi bán, bơm dầu nhớt cho rau muống, nhúng rau củ quả vào hóa chất để tăng trọng lượng sau một đêm và đi bán, đều do người nông dân, nhà buôn Việt Nam và cả nông dân Trung Quốc thực hiện. Và người tiêu dùng Việt Nam trở thành cái sọt rác hứng toàn bộ chất độc của nông nghiệp vô lương Việt – Trung.

Vì sao lại có chuyện đổ đốn, đau khổ như vậy? Khi chính những người chân lấm tay bùn, những người gần gũi thiên nhiên và lương thiện nhất lại trở thành kẻ giết đồng loại không thương tiếc, tôi nhấn mạnh là cả nông dân Trung Quốc và nông dân Việt Nam đều là những kẻ máu lạnh đáng thương, giết đồng loại một cách không thương tiếc. Và sở dĩ xảy ra nông nổi này, nói cho cùng, nông dân cũng là nạn nhân, họ là nạn nhân của nhà quản lý và nạn nhân của sự mù mờ, thiếu kiến thức khoa học và cả ham tiền bởi từng sống qua quá nhiều gian khổ, đau khổ.

Một đứa bé đói khổ, cần ăn một ổ bánh mì cầm hơi, đang nằm giữa đường, thứ mà nó cần nhất không phải là bài giảng về lòng yêu thương hay tính từ bi hỉ xả của một vị sư hay một vị linh mục nào đó, mà một ổ bánh mì của kẻ cướp có giá trị hơn nhiều trong lúc ấy.

Tình trạng người nông dân Việt Nam và nông dân Trung Quốc là tình trạng của đứa bé đói ăn trong câu chuyện dài dòng của lịch sử. Người nông dân không có kiến thức về hóa chất, đương nhiên, người nông dân cần có tiền để tồn tại, thậm chí để làm giàu, đương nhiên. Và mọi hoạt động, làm ăn của người nông dân, bao giờ cũng thụ động hơn rất nhiều so với các nhóm ngành nghề khác, người nông dân, đặc biệt là nông dân Việt buộc lòng phải chạy theo thị trường, chạy theo chính sách nhà nước. Nhà nước mở cửa cho lưu thông hành hóa với Trung Quốc thì người nông dân cả hai quốc gia này nghĩ đến chuyện làm sao có nhiều nông sản bán sang nước kia. Nhà nước thả cửa các loại hóa chất bơm kích thích hoa củ quả chóng lớn thì người nông dân tin rằng nó không tệ, nó giúp mình mau giàu.

Bởi nhà nước chi phối toàn bộ, từ y tế đến giáo dục, văn hóa, khoa học… Người nông dân tiếp nhận một cách thụ động mọi thứ nhà nước bán ra, ban hành ra… Đó là sự thật ở các nước độc tài, gồm cả Việt Nam và Trung Quốc. Và cái giá của việc thụ động này là vì chén cơm manh áo, vì chút tiền để nộp các khoản phí cho con học hành, vì chút tiền để ăn Tết, người nông dân phải chạy đua, chạy đua đến độ bất chấp và máu lạnh.

Câu chuyện, hình ảnh người nông dân chặt cây quất, bẻ hoa mào gà, đập nát hoa cúc, hoa vạn thọ, hoa thược dược, hoa lay ơn, hoa cẩm chướng… (Ui cả chục loài hoa và cả hàng trăm, thậm chí hàng ngàn, hàng triệu chậu hoa trên cả nước bị chính tay người đã trồng, đã nâng niu hoặc chí ít người đã dám bỏ ra hàng chục, hàng trăm triệu đồng để mua nó về với tràn trề hi vọng… đập nát, giết chết trong trưa Ba Mươi, Chiều Ba Mươi Tết...) lại cho thấy một ‘ổ bánh mì khác’.

Vì sao? Vì lẽ, cái ổ bánh mì trong cơn đói, hay niềm hi vọng nào đó đã bị giết trong cơn hỗn loạn của sự trí trá, của một chính sách vô trách nhiệm hay trong một giác độ khác, đó là thứ đòn mị dân và người nông dân nếm đủ, nếm trọn vẹn. Để rồi, đôi khi người ta đâm ra giận và thù ghét cả máu tim hay sự tồn tại của mình. Phản ứng của người nông dân đầy vẻ máu lạnh từ chuyện nhúng hóa chất rau củ quả để bán kiếm nhiều tiền, chặt cây, chặt hoa khi không bán được… Tất cả, như một sự quyên sinh về nhân cách. Rất may là người ta đã có cái cây, chậu hoa để thế mạng trong cuộc quyên sinh này! Nhưng cũng không ít nông dân, nhà buôn đã tự tử, đã quyên sinh bản thân vì những chuyện tương tự!

Và hôm 17 tháng 2, khi các nhà hoạt động dân chủ, xã hội dân sự tổ chức tưởng niệm cuộc chiến Biên giới phía Bắc 1979, đã có một người đàn bà bước vào buổi lễ trang nghiêm, sẵn sàng để người khác ghi hình ảnh quấy rối, hành vi nhiễu loạn, hồ đồ của mình. Rồi thêm cảnh các cặp đôi hưu trí mặc áo dài, veston ôm nhảy xà nẹo với nhau, tan, te ngay trước tượng đài, một số khác thì đi rút chân hương mà bẻ… Dường như mọi hành vi xấu xa, hoen ố nhất đều được họ trưng ra ngay giữa thủ đô Hà Nội, trong ngày Tết Nguyên Đán, ngày thiêng liêng của đất nước, dân tộc, họ không ngán gì cả!

Điều này khiến tôi liên tưởng đến cuộc chiến Mậu Thân 1968, khi mà cả nước đang trong giờ phút thiêng liêng, đón giao thừa, thì họ đã khai hỏa, tiếng súng của họ làm cho nhiều người mơ hồ, nhầm tưởng là tiếng pháo. Dường như không còn yếu tố nhân cảm hay tôn trọng một luật chơi nhân đạo nào đối với người Cộng sản mặc dù họ nhân danh hòa bình, nhân đạo và tương lai dân tộc để phát động chiến tranh chiếm miền Nam.

Và đây cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng nhiều thế hệ trở nên máu lạnh dưới triều đại Cộng sản xã hội chủ nghĩa. Bởi phải sinh ra và lớn lên trong một chế độ chính trị mà ở đó, sự tàn độc, tính tiểu nhân, nhược tiểu sợ lớn hiếp bé, tính thủ đoạn được thả sức lên ngôi. Con người ngày càng trở nên mụ mị bởi chính sách ngu dân của nhà cầm quyền… Thì e rằng rất khó để có được một xã hội tử tế.

Một xã hội mà con người muốn thỏa mãn cái ăn, cái mặc và chỗ ở thì phải chấp nhận quyên sinh nhân cách, quyên sinh mọi giá trị đạo đức và quyên sinh cả tình thương, tình thân để đánh đổi lấy nó, thì làm sao tìm ra sự tử tế, lòng lân mẫn hay tính tự trọng?

Một xã hội có bề dày cả ngàn năm văn minh lúa nước, con người gắn bó, hòa điệu với cây cỏ, thiên nhiên, nhưng cũng chính những con người gần với thiên nhiên nhất lại vung tay chặt phá thiên nhiên một cách không thương tiếc và có chút gì đó hả hê, thỏa mãn trong đau khổ… Thì liệu sự tử tế có còn?

Một xã hội có cả ngàn năm Bắc thuộc, trải qua nhiều cuộc binh biến, chiến tranh và giữ nước, xây dựng đất nước. Nhưng cuối cùng cái tinh thần xây dựng đất nước lại gắn với tính lệ thuộc chính trị và mọi gái trị qui ước về đạo đức chính trị bị phá vỡ không thương tiếc, dẫn đến hệ lụy một dân tộc đáng tự hào trở nên đớn hèn và tội nghiệp thì liệu tương lai dân tộc sẽ về đâu?

Một năm mới ghé đến, nhưng nghe sao buồn vẫn cứ nhiều hơn vui? “Vui là vui gượng kẻo mà”!


Viết Từ Sài Gòn
Blog RFA

Chính sách ngoại giao pháo hạm mới của Việt Nam


Tàu sân bay USS Carl Vinson và các tàu hộ tống, máy bay chiến đấu của Hoa Kỳ. Tàu này sẽ đến cảng Đà Nẵng vào tháng 3/2018. Ảnh chụp 16/6/2017. Không rõ nơi chụp.


Nhấp vào nút play (►) dưới đây để nghe
Tàu chiến Mỹ liên tục thăm Việt Nam

Tháng Ba năm 2018, tàu sân bay USS Carl Vinson của Hoa Kỳ sẽ cặp cảng Đà Nẵng. Đây là lần đầu tiên một tàu sân bay của Mỹ cặp cảng Việt Nam kể từ khi chiến tranh Việt Nam kết thúc vào năm 1975. Chuyến viếng thăm này đã được nói đến khi các vị lãnh đạo Việt Nam thăm Hoa Kỳ vào năm 2017, và được xác nhận một cách chắc chắn trong chuyến thăm Việt Nam của ông Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ James Mattis vào đầu năm 2018.

Bình luận về sự kiện này, Tiến sĩ Lê Hồng Hiệp, một nhà nghiên cứu quan hệ quốc tế tại Singapore nhắc lại rằng các sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam đã từng thăm một tàu sân bay Mỹ trước đây là chiếc USS George Washington khi đậu ngoài khơi Việt Nam vào năm 2010, ông nói tiếp:

Chuyến thăm của con tàu là một biểu tượng, nó cặp cảng, là một sự xích lại gần nhau về mặt khoảng cách, hai bên có sự tin cậy chiến lược ngày càng nhiều hơn, đưa hợp tác quân sự thực chất thành một điều bình thường giữa hai nước.

-Tiến sĩ Lê Hồng Hiệp
“Chuyến thăm của con tàu là một biểu tượng, nó cặp cảng, là một sự xích lại gần nhau về mặt khoảng cách, hai bên có sự tin cậy chiến lược ngày càng nhiều hơn, đưa hợp tác quân sự thực chất thành một điều bình thường giữa hai nước, nó không phải là một điều gì quá nhạy cảm, mà hai phía, đặc biệt là phía Việt Nam phải lo lắng. Lâu nay Việt Nam vẫn vừa làm, vừa thúc đẩy hợp tác với Hoa Kỳ, vừa ngó lại xem thử phản ứng của Trung Quốc là gì. Hai nước trong cuộc và bản thân Trung Quốc sẽ phải xem diễn biến đó là một điều bình thường.”

Ngay sau khi chuyến thăm Đà Nẵng vào tháng Ba của tàu USS Carl Vinson được chính thức công bố, Bộ ngoại giao Bắc Kinh lên tiếng nói rằng Trung Quốc không thấy gì trở ngại miễn là những quan hệ như vậy có lợi cho hòa bình trong khu vực.

Chuyến thăm Đà Nẵng, một cảng biển Việt Nam có vị trí vô cùng trọng yếu ở Biển Đông của tàu USS Carl Vinson là sự kiện lớn nhất trong rất nhiều lần tàu chiến Mỹ thăm cảng Việt Nam từ khi hai nước lập lại bang giao vào năm 1995 đến nay.

Vào năm 2003, tàu chiến USS Vandergrift thăm cảng Sài Gòn, đánh dấu lần đầu tiên tàu chiến Mỹ ghé Việt Nam từ khi cuộc chiến Việt Nam kết thúc.

Liên tục trong những năm sau đó, hầu như năm nào cũng có tàu chiến Mỹ ghé thăm Việt Nam. Theo thống kê của báo chí Việt Nam thì đến năm 2014 đã có đến 11 lần tàu chiến Mỹ ghé các cảng Việt Nam, gồm đủ các loại tàu hiện đại, từ tàu có trang bị tên lửa dẫn đường cho đến các tàu bệnh viện. Các cảng được chọn lựa không chỉ những cảng thương mại lớn như Sài Gòn mà còn là những cảng quân sự quan trọng là Đà Nẵng và Cam Ranh. Đặc biệt là cảng Cam Ranh, từ khi cảng này chính thức được sử dụng phục vụ nhu cầu hậu cần của các tàu quốc tế từ năm 2016. Chỉ trong năm 2017 đã có đến 4 lần các tàu chiến hiện đại của Mỹ ghé thăm cảng Cam Ranh.

Chiến hạm của các cường quốc hải quân vào Việt Nam

Ngoài các tàu chiến Mỹ, trong vài năm gần đây tàu chiến của nhiều cường quốc hải quân cũng tấp nập thăm Việt Nam.

Tháng Tư năm 2016, 2 tàu chiến hiện đại của Nhật Bản thăm cảng Cam Ranh là Ariaki và Setogiri. Sang tháng Tư và tháng Năm 2017, các tàu chiến của Lực lượng phòng vệ Nhật Bản lại thăm Việt Nam.

Tháng Năm, năm 2013 tàu chiến Ấn Độ cặp cảng Đà Nẵng. Sang 2016, tàu chiến của New Delhi cặp cảng Cam Ranh. Tháng Chín 2017, tàu chiến hiện đại có khả năng tàng hình của Ấn Độ có mặt tại cảng Hải Phòng.

Nước Úc, một cường quốc hải quân nằm giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương cũng cho tàu chiến hiện đại của mình thăm các cảng của Việt Nam liên tục trong hai năm 2016, 2017. Tàu chiến Mistral và tàu hộ vệ Courbet của Pháp thăm cảng Sài Gòn vào tháng Tư năm 2017. Tàu chiến Hàn Quốc ghé Đà Nẵng tháng Chín, 2017.

Ngoài ra đồng minh cũ của Việt Nam là nước Nga, quốc gia từng đóng quân tại cảng Cam Ranh trong thời chiến tranh lạnh cũng đều đặn cho tàu chiến thăm viếng các cảng của Việt Nam trong những năm 2005, 2011, 2012, 2016, 2017.

Một chuyên gia nghiên cứu về Biển Đông ở Sài Gòn là Thạc sĩ Hoàng Việt nói với chúng tôi rằng chuyện tàu chiến của các cường quốc hải quân thăm viếng Việt Nam trong thời gian qua là một chủ trương của chính phủ Việt Nam, nằm trong chính sách ngoại giao đa phương của Hà Nội, mà trong đó có một phần quan trọng là để chống lại sức ép từ phương Bắc:

“Thứ nhất Việt Nam cần có các cường quốc hải quân như Ấn Độ, như là Hoa Kỳ,… để Việt Nam có lý do để giải thích với Trung Quốc rằng Việt Nam không chỉ cho các tàu Hoa Kỳ vào cảng Việt Nam, và việc này là việc bình thường. Vấn đề thứ hai là tàu của các cường quốc vào Việt Nam thì ít ra nó gây ra một sự e ngại nào đó từ phía Trung Quốc.”

Chính sách ngoại giao đa phương của Việt Nam, theo Tiến sĩ Lê Hồng Hiệp đang có điều kiện thuận lợi là nước Việt Nam đang nổi lên như một quốc gia quan trọng trong khu vực:

“Việt Nam cũng nhận được sự quan tâm, săn đón của các cường quốc khác như là Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ, Nga,… Tất cả những yếu tố này tạo ra điều kiện thuận lợi để Việt Nam thực hiện chính sách cân bằng giữa những cường quốc này.”

Ông cũng nói thêm là trong chuyến thăm châu Á đầu năm nay của ông James Mattis, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, nước Mỹ đã chọn hai quốc gia quan trọng nhất tại Đông Nam Á, về sức mạnh cũng như là về vị trí địa chiến lược là Việt Nam và Indonesia.

Tàu của các cường quốc vào Việt Nam thì ít ra nó gây ra một sự e ngại nào đó từ phía Trung Quốc.

-Thạc sĩ Hoàng Việt.
chính sách ngoại giao đa phương đó của Việt Nam, nếu giới hạn trong việc quan hệ với hai cường quốc lớn nhất thế giới là Mỹ và Trung Quốc, các nhà bình luận thời sự thường hay nói rằng Việt Nam đang “đu dây” giữa hai quốc gia đó. Ông Lê Hồng Hiệp nói tiếp:

“Lựa chọn này tôi nghĩ là một lựa chọn khôn ngoan và khả thi trong bối cảnh hiện nay, vì Việt Nam cần có biện pháp để hóa giải sức ép từ phía Trung Quốc, và không có cách nào khác là vừa tăng cường nỗ lực, vừa phát triển quan hệ chiến lược với các cường quốc khác để mà có vị thế đàm phán tốt hơn với Trung Quốc, đặc biệt là trên hồ sơ Biển Đông.”

Ông cho rằng chính sách “đu dây” đó của Việt Nam là thành công cho đến lúc này, 2018.

Một cựu viên chức của chế độ Việt Nam Cộng Hòa là Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, từng làm Tổng trưởng kế hoạch của Miền Nam Việt Nam, hiện sống tại Virginia, Hoa Kỳ nói với chúng tôi rằng chính phủ Hà Nội đã từng có kinh ngiệm “đu dây” như thế vào năm 1969, giữa hai đồng minh cung cấp vũ khí chính cho mình là Liên Xô và Trung Quốc, khi quan hệ giữa hai nước này bị rạn nứt, thậm chí đã có một cuộc chiến tranh biên giới ngắn ngủi nhưng đẫm máu.

Kết thúc cuộc nói chuyện ngắn với đài RFA, Tiến sĩ Hưng cũng đồng ý với ông Lê Hồng Hiệp rằng thực ra Việt Nam không có chọn lựa nào khác, và ông cho rằng hiện tượng các tàu chiến của các cường quốc hải quân liên tục đến Việt Nam trong thời gian qua là một hiện tượng rất thú vị.

Vào những thế kỷ 18, 19 các cường quốc phương Tây kéo chiến hạm đi uy hiếp các quốc gia Đông Á bế quan tỏa cảng, tạo nên cái được gọi chính sách ngoại giao pháo hạm vào thời kỳ đó. Những pháo hạm của người Pháp đã xuất hiện như thế vào mùa thu năm 1858 tại Đà Nẵng, mở đầu cho thời kỳ thuộc địa của Việt Nam, chấm dứt vào năm 1954.

Hơn 150 năm sau sự kiện Đà Nẵng thất thủ, dường như là Việt Nam có một chính sách ngoại giao pháo hạm kiểu mới, là sử dụng sức mạnh hải quân của các cường quốc thế giới để ít nhất là tạo tính biểu tượng, răn đe, chống lại sức bành trướng từ phương Bắc của Trung Quốc.


Kính Hòa
RFA

Cuộc “bắt cóc” đầu năm


Một nhóm người tổ chức khiêu vũ dưới chân tượng vua Lý Thái Tổ bên hồ Gươm (Hà Nội) vào ngày 17.2 . Ngày này 40 năm trước quân Trung Quốc xâm lược Việt Nam. Tượng đài Lý Thái Tổ là nơi thường diễn ra hoạt động tưởng niệm cuộc chiến tranh Biên Giới.

Bắc cóc là một từ phổ biến ở Việt Nam. Nó không chỉ dành riêng cho giới giang hồ khốn khổ. Nó có tổ chức và hành sự công khai, lại có tiếng vang tầm quốc tế. Nó đang là một biện pháp chính thức và hữu hiệu trong cách cai trị của nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chuyện bắt cóc Trịnh Xuân Thanh tại Đức là một điển hình lớn, nó đem lại tiếng tăm cho người cầm đầu đất nước, dù có gây nên cái nhìn kém văn minh và thiệt hại đến mấy trong bang giao quốc tế cũng không quan trọng, miễn là được việc của mình. Đó là cách nghĩ của người cầm đầu, thể hiện cái gọi là “bản lĩnh”.

Chuyện bắt cóc trong nước đối với công dân đã trở nên chuyện bình thường. Bắt cóc trẻ em, bắt cóc con gái, để tống tiền, hoặc để bán sang Trung Quốc, để buôn nội tạng…là cách của bọn giang hồ. Chúng hành sự lén lút, và bị nhân dân lên án, theo chuẩn mực đạo lý bình thường, có khi bị pháp luật trừng trị. Còn cách bắt cóc ngang nhiên, công khai, hợp với luật pháp xã hội chủ nghĩa, là một cách bắt cóc “có lý tưởng”…Ít ra, những người đang hành sự nghĩ thế. Họ đang bảo vệ chế độ. Nếu bạo lực đã tạo nên chế độ, thì bảo vệ chế độ cũng phải bằng bạo lực, cũng là hợp lý.

Sáng mồng một Tết, tôi thong thả mặc quần áo tươm tất, ăn vội bửa sáng, nhấp chút cà phê, chuẩn bị đi đến điểm hẹn – quán “cà phê Cộng”, gần tượng đài Trần Hưng Đạo. Dự định sẽ thắp hương ở đấy, để tưởng nhớ đồng bào và chiến sĩ đã hy sinh, vì mai là ngày Trung quốc khởi đầu cuộc tấn công Việt Nam, với 60 vạn quân ào sang chém giết, tàn sát, đốt phá 6 tỉnh miền Bắc… Đứa cháu gái vội mách với tôi, có 3 an ninh và 3 chiếc gắn máy chắn ngang phía trước cổng nhà mình. Tôi nhìn ra, thấy đúng như vậy.

Tôi phân vân chẳng nên đi, thì cánh cửa sực mở, 2 người bước xộc vào, mấy con chó kêu lên phẫn nộ, chặn họ lại. Họ đứng lại. Tôi bước ra. Họ cất tiếng chào năm mới. Tôi nhả nhặn nói, xin lỗi, tôi không tiếp các anh, mong là các anh trở ra cho. Họ quay ra, tôi đóng chốt cửa.

Lòng tôi không vui, tự hỏi, vì sao họ có thể bất chấp mọi thứ, và có quyền làm mọi thứ?

Họ chà đạp mọi giá trị truyền thống dưới chân mình. Chuyện nầy không còn là chuyện nhỏ của riêng ai, nó bao trùm cả đất nước nầy lâu nay. Suy nghĩ một lát, tôi quyết định phải đi, thử một chuyến du xuân với chế độ. Tôi trèo rào, đi quanh vài khu vườn thì ra tới lộ. Tôi đón xe ôm. Chú tài chở tôi phom phom trên đường nhựa, phố xá thong dong sạch đẹp, rồi tôi đến được điểm hẹn ở trung tâm thành phố. Một số bạn đã có mặt, họ đã đến đây từ mỗi hoàn cảnh khác nhau, đều giống như những chuyện đùa. Tôi hỏi một em phục vụ quán. Sao gọi là quán “Cộng”, nó nghĩa là gì? Trả lời, là cộng lại, cọng thêm, để ngày càng đông, chứ không phải là trừ, nó sẽ ngày càng ít. À ra thế, thật nôm na đơn giản, thế mà tôi bị ám ảnh chữ “Cộng”, chứ nó tuyệt nhiên không liên quan gì đến cnxh hay ông Tổng Trọng. Các bạn tôi, đều nhẹ nhàng, vui vẻ, cho rằng đây là một cuộc xuất hành đầu năm có ý nghĩa, thay vì đi viếng mộ người thân, đi thăm ông bà, đến chùa thắp hương, thì đi viếng tượng đức Trần Hưng Đạo, người anh hùng dân tộc, chống Tàu xâm lược 3 lần đều thắng lợi vẻ vang, và nhắc lại sự kiện lịch sử năm 1979 không thể nào quên. Hàn huyên xong, nhóm người bắt đầu đi bộ đến tượng đài – cách chừng vài chục mét – tôi nán lại một khoảng cách, và đi sau cùng, dìu một lão đồng chí 82 tuổi băng qua đường. Những chiếc gắn máy chở hai, mặt bít kín khẩu trang, chạy lòng vòng một cách bất thường ở ngã ba, bổng áp sát bên tôi, nhảy xuống, nhanh chóng áp hai bên, đẩy tôi lên xe, cùng tiếng nói nhỏ rót vào tai, nhưng có âm sắc của một thứ mệnh lệnh lạnh lùng chứa đựng sự bất lương: “chú lên xe! lên xe!”. Người ngồi sau ôm cứng tôi như một kẻ bạo dâm. Chiếc xe chở 3, kẹp tôi ở giữa, không mũ bảo biểm, phóng trên con phố đông người, vượt cả đèn đỏ khi con lộ chưa kịp bị bít kín bởi dòng người. Và một chiếc nữa đi kèm sát. Lòng tôi bình thản, không gợn lên một ý tưởng hận thù hay bạo động nào. Nhìn sang anh đi kèm, anh ta lùn, lưng dài và chân thì rất ngắn, mang dép không quai sau, (trường học cấm học trò đi dép lê kiểu nầy), cái bộ dạng ấy hẳn là không đắt đào mấy. Anh chàng cầm lái ở xe tôi, và người ngồi sau ôm tôi, tôi đều không rõ mặt và hình dạng. Tôi hỏi, các anh ở cấp Thành hay Quận. Họ im lặng. Nhìn sang dòng xe đang chảy êm trên con phố đầy hoa xuân, thấy một đấng nữ nhi lướt xe qua, tôi nói, ô, ăn mặt rất đẹp, nhất là đôi chân, nhỉ?. Im lặng. Tôi biết hai anh ta đang gồng mình mác-lê trong lòng khi đang thi hành nhiệm vụ bắt cóc thiêng liêng. Có tiếng điện thoại reo, người ngồi sau nghe máy, trả lời vội vã “đang bận ôm hàng, đang bận ôm hàng”. Tôi là hàng hóa của nhóm anh ta sáng hôm nay. Một nghề bán buôn thật đặc biệt. Tôi nghĩ thầm, tụi nó chở mình về trụ sở công an nào đó, hoặc là chở về nhà, về đâu thì cũng vậy! Ta thuộc về cái lứa tuổi ông Trọng, cái tuổi ăn rồi mà nói chưa ăn ấy, chẳng sao cả!. Ta cũng đã một thời tuổi trẻ trôi theo giòng nước. Khoảng 50 năm trước, một lần bị tóm theo kiểu nầy, nhưng không thể gọi là bắt cóc. Người bắt ta có mang sắc phục cảnh sát hẳn hoi, xe cộ đàng hoàng, hú còi inh ã, đâu có thế nầy!. Có tiếng qua lại gì đó trên điện thoại, thì xe hướng về ngã cầu Bình Triệu. Có lẽ là chở về nhà, ta khỏi tiền một cuốc xe ôm. Đến ngã ba HB, xe rẽ trái, chạy ngược chiều 20 mét, quẹo trái vào hẻm, dừng lại trước cổng nhà, họ thật rành đường! Xuống xe, tôi nói, anh lấy khẩu trang ra chứ, để thế là không lịch sự. Lịch sự ra phết, họ gỡ ngay khẩu trang ra, và “cười”. Cái cười khó biết giả thật. Tôi thấy họ đều trẻ. Họ còn “chúc Tết” tôi nữa! Tôi không ngại khi họ dùng bạo lực với tôi lúc nảy, nay bỗng dưng kinh hãi về nụ cười kia và lời chúc Tết nọ. Chỉ 30 phút trước, họ không khác những tay chuyên trấn lột, một loại người có thể giết người, bây giờ thì họ giống người tử tế, ra vẻ hiền lành, lương thiện có dư. Làm sao họ có thể chứa cả hai điều mâu thuẩn ấy trong một con người, trong một khuông mặt, trong cái cười ghê răng ấy? Cách nay khá lâu, có một tu sĩ Tin Lành nói với tôi, trong đời chỉ có một trong hai loại, hoặc là thiên thần, hoặc là quỹ dữ, không thể có hai trong một. Tôi thì không đồng tình với niềm tin trên. Nhưng tôi biết, có sự tròng trành điên đảo giữa lương thiện và bất lương qua mỗi khoảnh khắc của đời người. Cái bất lương có thể ẩn trốn nhất thời trong lớp vỏ lương thiện để hành sự. Tôi biết họ bị che lấp, họ lớn lên và trưởng thành, trọn vẹn là sản phẩm đặc biệt được nhồi nặn riêng của một thời kỳ cũng đặc biệt, gọi tên là thời kỳ xã hội chủ nghĩa. Họ là một binh chủng riêng, là mũi nhọn, là tia chớp, là một loại công cụ rất đáng tư hào. Họ có nhiệm vụ rất trá ngụy – mà họ cho là thiêng liêng – là bảo vệ chế độ, là trung thành với “ở trên”. Một chế độ bí hiểm và lòng trung thành cũng bí hiểm nốt. Ở “trên” là trên nào, là những ai, rất nhiều và vô hình vô dạng. Họ né tránh nói đến con người cụ thể, dù họ rất mơ hồ. Họ có cái riêng để tôn thờ, để trung thành, để nhân danh, để tồn tại, không cần thiên thần hay qủy dữ, lương thiện hay vô lương, có thể gọi đó là một thứ Thượng Đế bí hiểm của riêng mình: “Thượng Đế xã hội chủ nghĩa”. Giáo sư Đào Công Tiến trong một bài viết mới đây, gọi chủ nghĩa ấy đã chết rồi mà chưa chịu chôn. Họ cùng nhau phục chế và nhang khói như kẻ giữ đền đề ăn oản. Nghệ thuật ăn oản cao đến mức không còn nghệ thuật, như chuyện đá bóng, đội U 23 giành được cúp Á quân, thì chủ nghĩa xã hội xun xoe xuất hiện náo nhiệt để ăn oản, trơ trẻn chường mặt che lấp hàng cầu thủ, nhưng nếu đội bóng thua thì chúng cũng vắng bóng.

Chuyện bắt cóc đầu năm là một thắng lợi vẻ vang trên đường phố của những thiên thần xhcn. Họ không học theo cách nghĩ của quán “Cà phê Cộng”. Họ đang xây những “Cà phê Trừ”. Trừ càng nhiều càng tốt, để chỉ giữ vai trò độc tôn trơ trụi của mình.

Con gái tôi nghe tin chuyện tôi bị bắt cóc, nó gọi điện và cười ngất: “Ba ơi, buồn cười quá!” nó lại tiếp tục cười nứt nẽ. Hỏi, sao buồn cười ?. Nó bảo, nầy nhé, ba như đứa trẻ choi choi, trốn nhà đi chơi, bị người ta bắt đưa về nhà…, sao không buồn cười được! Tôi hỏi, chỉ buồn cười thôi sao?. Nó bảo, biết rồi, họ làm chuyện kỳ cục, quá kỳ cục!. Con gái tôi thuộc loại thiên thần thật, cực kỳ lương thiện, ngôn ngữ nó chỉ chừng ấy. Nó không quan tâm chuyện chính trị. Nó không biết Thượng đế xhcn, nó không rõ Tổng Trọng là ai, bí thư thành ủy của thành phố mà nó đang sống có tên là gì. Nhưng nó biết khái quát nhà nước qua hình ảnh thu gọn, rất biểu trưng, chỉ như một khái niệm, là cảnh Công an nằm ngồi canh gác suốt đêm ngày trước cổng nhà, và hôm nay có bổ sung thêm một chút kiến thức về chuyện bắt cóc “buồn cười quá” hôm qua. Nó chỉ quan tâm chuyện giá cả ngoài chợ đang lên cao, chuyện chăm sóc vệ sinh cho mấy cháu nhỏ, và nhất là đề phòng chuyện “mẹ mìn” bắt cóc con nít.

Nó đột ngột chấm dứt đường dây nóng với tôi trước khi cúp máy: Ba ơi, con đi thay… bím cho em bé đã. Tôi hiểu, như vậy là nó chấm dứt hoàn toàn câu chuyện về các thứ đang diễn ra. Lành thay cho một công dân! Và cũng bi đát thay cho một xã hội!

Hôm nay, mồng ba Tết, nhóm quạ đen đã biến mất, 3 chiếc gắn máy chắn ngang trước cửa không còn, bầu trời trở lại trong xanh. Họ nghĩ là họ đã hoàn thành nhiệm vụ “trên giao”, và bày tỏ đủ sự trung thành nham nhở với “giáo chủ” của mình.

Tôi nhớ câu thơ của Bùi Minh Quốc, từng viết: “Một thời khốn nạn đã lên ngôi”.

Mồng 3 Tết Con Chó Vàng. Năm thứ 7, Triều Nguyễn Phú Trọng.

HĐN (19/2/2018)


Hạ Đình Nguyên
FB Hạ Đình Nguyên

“Côn đồ Đặng Tiểu Bình” từng chủ trương xóa bỏ Việt Nam


Đặng Tiểu Bình đón chào Pol Pot và Ieng Sary tới Trung Quốc năm 1977

Những bồi bút, văn nô của đảng trong thời gian qua xuất bản hàng loạt sách ca ngợi Đặng Tiểu Bình với những cái tựa đọc lên rất dễ bị tăng xông máu như “Con đường phi thường của Đặng Tiểu Bình”, “Đặng Tiểu Bình, một trí tuệ siêu việt” v.v…

Lẽ ra nên có một tác phẩm kể tội ác của y đối với dân tộc Việt Nam và đặt tựa là “Côn đồ Đặng Tiểu Bình” mới đúng. “Côn đồ” là chữ y dùng để chỉ Việt Nam.

Lý do vì “Côn đồ Đặng Tiểu Bình” đã từng chủ trương xóa bỏ nước Việt Nam trong bản đồ thế giới bằng một cuộc chiến đánh phủ đầu (preemptive war).

“Đánh phủ đầu” theo chủ trương của “Côn đồ Đặng Tiểu Bình” không phải là để dời vài cột mốc, đụng độ lẻ tẻ dọc biên giới mà là cuộc tấn công quyết định trước khi Việt Nam có khả năng chống trả.

“Côn đồ Đặng Tiểu Bình” nói với Tổng thống Jimmy Carter trong chuyến viếng thăm Mỹ đầu năm 1979: “Bất cứ nơi nào, Liên Sô thò ngón tay tới, chúng ta phải chặt đứt ngón tay đó đi.”

Cựu Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger giải thích quan điểm này trong tác phẩm Về Trung Quốc (On China):

“Những gì Đặng Tiểu Bình đề nghị về căn bản là chính sách đánh phủ đầu, đó là một lãnh vực trong chủ thuyết quân sự ngăn chận tấn công của Trung Quốc… Nếu cần thiết, Trung Quốc sẽ chuẩn bị phát động các chiến dịch quân sự để phá vỡ kế hoạch của Liên Sô, đặc biệt tại vùng Đông Nam Á”.

“Đông Nam Á” và “ngón tay” theo ý “Côn đồ Đặng Tiểu Bình” không phải là mục tiêu nào khác mà là Việt Nam.

Trong chuyến viếng thăm Mỹ đầu năm 1979, Đặng không mua chuộc được sự ủng hộ công khai của Mỹ. Mỹ chỉ đồng ý giúp theo dõi sự động binh của 55 sư đoàn Liên Sô phía Bắc và chụp không ảnh các trận đánh vùng biên giới.

Đặng tưởng đó là một thành công nhưng hóa ra là một thất bại. Nhờ những tấm ảnh chụp từ vệ tinh mà các cơ quan truyền thông quốc tế biết dân quân Việt Nam vùng biên giới dù không chuẩn bị đã dạy cho Trung Cộng một bài học đích đáng.

Theo nhận xét của Đại Tá Russell D. Howard thuộc Học Viện An Ninh Quốc Gia của Không Quân Hoa Kỳ, Trung Cộng thiệt hại chỉ trong vài ngày bằng hơn một nửa số tổn thất của Mỹ trong 10 năm tham dự chiến tranh Việt Nam.

Sau tuần lễ đầu chịu đựng nhiều thiệt hại nhưng danh sách các vùng chiếm được chỉ là những làng xã dọc biên giới, “Côn đồ Đặng Tiểu Bình” ra lịnh bằng mọi giá phải chiếm cho được thành phố Lạng Sơn, thủ phủ tỉnh Lạng Sơn để lấy tiếng trước khi rút lui. Chiều ngày 4 tháng Ba, sau nhiều trận giao tranh đẫm máu quân Trung Cộng tiến vào Lạng Sơn.

Khi rút khỏi những nơi này, quân Trung Cộng san bằng tất cả nhà cửa để trả thù cho số thương vong quá lớn.

Ký giả Nayan Chanda thăm vùng giao tranh vài ngày sau cuộc chiến đã ghi nhận không chỉ các công sở mà cả trường học, bịnh viện đều bị quân Trung Cộng giựt sập.

Để ngăn chận khối Việt Miên Lào liên minh nhau, tháng 8 năm 1975, “Côn đồ Đặng Tiểu Bình” chia sẻ với Khieu Samphan, nhân vật số ba trong Khmer Đỏ “Khi một siêu cường [Mỹ] rút đi, một siêu cường khác [Liên Sô] sẽ chụp lấy cơ hội mở rộng nanh vuốt tội ác của chúng đến Đông Nam Á”.

Để xóa bỏ Việt Nam, “Côn đồ Đặng Tiểu Bình” ủng hộ CS Campuchia giết một cách dã man đồng bào Việt sống dọc biên giới Việt Miên.

“Côn đồ Đặng Tiểu Bình” gặp riêng “khát máu Pol Pot” từ 28 tháng 9 đến 22 tháng 10, 1977 tại Bắc Kinh.

“Khát máu Pol Pot” chủ trương chỉ cần một người Campuchia diệt được ba chục người Việt, dân Campuchia sẽ tiêu diệt toàn bộ dân tộc Việt Nam. Các cuộc đột kích vào đảo Thổ Châu, Phú Quốc, nhiều địa phương thuộc các tỉnh An Giang, Tây Ninh, đốt phát làng mạc, giết người, bắt cóc, bịt mắt thả sông của Khmer Đỏ trong giai đoạn 1977-1978 phát xuất từ chủ trương này.

Về mặt đối ngoại, “Côn đồ Đặng Tiểu Bình” cố gắng thuyết phục các quốc gia Đông Nam Á, Á Châu và Mỹ.

Từ cuối năm 1978 đến đầu năm 1979, Đặng viếng thăm hàng loạt quốc gia châu Á như Nhật, Thái Lan, Mã Lai, Singapore, Miến Điện, Nepal. Tại mỗi quốc gia thăm viếng, họ Đặng luôn đem thỏa ước Việt-Sô ra hù dọa các nước láng giềng như là mối đe dọa cho hòa bình và ổn định Đông Nam Á.

Đặng phát biểu tại Bangkok ngày 8 tháng 11 năm 1978: “Hiệp ước [Việt Sô] này có ý nghĩa quan trọng hơn đối với Á Châu và Thái Bình Dương. An ninh và hòa bình châu Á, Thái Bình Dương và toàn thế giới bị đe dọa”. Ngoại trừ Singapore, Đặng nhận sự ủng hộ của hầu hết các quốc gia Đông Nam Á.

Lý Quang Diệu sáng suốt chỉ ra cho “Côn đồ Đặng Tiểu Bình” thấy: “Không có một cộng đồng Nga kiều nào tại các nước Đông Nam Á có thể dẫn đến các cuộc nổi dậy của Cộng Sản do Liên Sô ủng hộ nhưng ở đâu cũng có các cộng đồng Hoa kiều được đảng và nhà nước Trung Cộng xúi dục và ủng hộ”.

Việt Nam, quốc gia vùng trái độn giữa hai quyền lực thế giới, chưa bao giờ đứng trước một chọn lựa sinh tử như hôm nay.

Một người có trách nhiệm với tương lai đất nước, dù cá nhân mang một thiên kiến chính trị nào, cũng phải biết thức tỉnh, đặt quyền lợi dân tộc lên trên, chọn hướng đi thích hợp với đà tiến văn minh dân chủ của thời đại, chấm dứt việc cấy vào nhận thức của tuổi trẻ một tinh thần bạc nhược, đầu hàng, vinh danh kẻ thù dân tộc.

Chỉ với vài trong số rất nhiều tội ác mà lịch sử sẽ lần lượt viết ra trong tương lai, Đặng Tiểu Bình xứng đáng được gọi “Côn đồ”.


Trần Trung Đạo
FB Trần Trung Đạo
 

Top ↑ Copyright © 2016. Tiến Bộ - All Rights Reserved
Back To Top ↑