Tin Tức Cập Nhật :

Thảm họa văn hóa đọc và những bệnh tật của người Việt Nam thời “A còng”

Mạng xã hội đặc biệt là facebook với những Status – lối viết ngắn, nhanh, đơn giản đã vô hình chung biến thành thảm họa của văn hóa đọc đối với người Việt Nam.

Ảnh minh họa về lối đọc chộp giựt của người Việt
Ảnh minh họa về lối đọc chộp giựt của người Việt
Mạng xã hội, nơi mỗi con người có thể tự do bộc lộ chính mình, thể hiện tư duy, bàn luận về chính trị, kinh tế xã hội. Mạng xã hội nơi mà mỗi người có thể bình luận về sự kiện ông Donald Trump vừa nhậm chức Tổng thống Hoa Kỳ, hay xăng sắp tăng thuế…

Bạn nghĩ rằng mình đang đóng góp cho sự văn minh, phát triển? Bạn có sứ mệnh đóng góp nhiều hơn cho cộng đồng? Bạn phẫn nộ vì một tiến sỹ văn chương nói rằng chơi Facebook là biểu hiện của vô công rỗi nghề.

Nhưng không hẳn, mạng xã hội lật ra một mặt trái rất đỗi… Việt Nam,đó là sự nông nổi, bộp chộp là thói hung hãn, anh hùng rơm là sự thiếu kiến thức đến mức thảm hại.

Những bình luận, like, hay chia sẻ không cần suy nghĩ, không cần kiểm chứng thông tin; rất nhiều vật vã khóc than hay phẫn nộ vì một bức hình giả (hoặc được công nghệ hóa bằng photoshop) rồi công kích, thóa mạ, nhục sỉ lẫn nhau mà không cần bất cứ một bằng chứng nào. Nhiều đến … vô vàn!

Khi cộng đồng mạng cứ thỏa sức bình luận, lăng mạ khổ chủ mà không cần phải kiểm chứng thông tin
Khi cộng đồng mạng cứ thỏa sức bình luận, lăng mạ khổ chủ mà không cần phải kiểm chứng thông tin
Tôi có thể lược qua vài ví dụ:

Trước đây, một người mang tên Hà Đình Sơn đã ngang nhiên bịa đặt rằng Giáo sư Nguyễn Quang Ngọc có những câu nói không thỏa đáng về Trường Sa, Hoàng Sa. Bẵng đi vài năm, mọi thứ tưởng như đã yên lành thì kẻ nào đó dựng một tấm hình và gán những câu nói bịa đặt này đăng lên facebook.

Hàng ngàn, hàng chục ngàn thậm chí nhiều hơn thế là những lời thóa mạ đã được bung ra hướng thẳng đến Giáo sư Nguyễn Quang Ngọc – người hầu như dành cả đời để nghiên cứu Hoàng – Trường Sa. Những kẻ này nhân danh lòng yêu nước gằn giọng đòi treo cổ, đòi bắn một vị giáo sư già!

Vẫn chưa hết, sau khi một số facebooker đã tìm cách khắc phục sai lầm nay thì một Giáo sư lịch sử khác – là đồng nghiệp của Giáo sư Nguyễn Quang Ngọc lại dính tai vạ. Có người đã dán lời, ghép ảnh và một trận cuồng phong với vô vàn ngôn từ thóa mạ nổi lên.

Thậm chí người ta sẵn sàng chia sẻ thông tin về số điện thoại, địa chỉ nhà riêng, nơi công tác của nạn nhân và kêu gọi cộng đồng mạng “bỏ bom” điện thoại, hay tìm tận nhà để … hỏi tội. Từ Giáo sư, Hiệu trưởng trường Đại học đến cả quan chức hàng đầu một tỉnh, đều đã thành nạn nhân của anh hùng mạng xã hội.

Trước đây ít lâu, tôi có “may mắn” là đọc được một lời chửi tục của một số máy ngoại quốc gửi tới máy cầm tay của một vị quan chức hàng đầu một tỉnh. Vị quan chức này gần như đã phải ứa nước mắt mà nói với tôi rằng: không anh không làm điều đó!

Nhưng điều này còn chưa thể nào khiến bạn ngạc nhiên bằng việc trên mạng xã hội đang chửi Giáo sư Nông Lập Phu là việt gian, bán nước, là thứ giáo sư gì mà … ngu xuẩn, vô học…. Tất nhiên anh hùng mạng xã hội lại đòi “treo cổ” ông này lên. Họ không cần biết Nông Lập Phu là người Trung Quốc đang làm việc tại Quảng Tây!

Tôi không hiểu nếu ông Nông Lập Phu đọc được những dòng thóa mạ của người Việt Nam thì sẽ có cảm xúc thế nào? Với tôi đó đơn giản là sự xấu hổ!

Phải chăng biểu hiện như thế mới là yêu nước?

Không đó là thứ “anh hùng bàn phím” rẻ tiền! Thứ rẻ tiền ấy được xây dựng từ thói bộp chộp, hung hãn và cả những man rợ tư duy đang hằn in trong không ít con người. Điều ngạc nhiên là sự thiểu năng kiến thức và hung hãn đó trải rộng khắp trong và ngoài nước, từ công dân Việt Nam đến những người Việt đang sinh sống tại Hoa Kỳ, hay Australia!

Không cần bất cứ một sự “động não” nào, nhiều người đã chứng tỏ mình dễ tin một cách dễ sợ và hung hãn khôn cùng. Họ nhân danh tình yêu quốc gia, dân tộc, nhân danh tình yêu biển đảo và nhân danh cả sự văn minh!

Họ chỉ hăm he có một điều là “bắn bỏ” những ai nói chướng tai họ.

Một hai lần vấp ngã để “nên khôn” thì còn hiểu, nhưng cứ lặp đi lặp lại liên hồi thì phải cắt nghĩa thế nào đây? Hàng ngàn, hàng chục ngàn người cứ mắc phải một cái sai lầm sơ đẳng, một lối bình luận nặng tính thóa mạ người khác một cách vô căn cứ. Vậy là sao?

Ai cắt nghĩa giùm tôi?

Phải chăng không gian mạng, nơi mỗi con người cho mình chỉ là một “nick ảo” thì mới có thể bộc lộ hết thói tính của mình? Họ quên và không biết được rằng: “Tôi tư duy nên tôi tồn tại”.

Mạng xã hội vô hình chung đã phơi bày thứ bệnh lý đáng sợ của nhiều người Việt Nam. Nhiều người trong chúng ta không cần học, càng không cần hiểu, làm tốt chỉ đơn giản một việc là chửi một cách tự động.

Khi nhiều người vô tình trở thành những tên "Chí Phèo" thời công nghệ
Khi nhiều người vô tình trở thành những tên "Chí Phèo" thời công nghệ
Nhiều người chưa hề có văn hóa đọc, chưa hề biết đọc, thì mạng xã hội ập đến, không cần suy nghĩ nhiều, mọi thứ, mọi luồng thông tin nhanh chóng ập đến tai, mắt bạn. Thiếu tri thức, bạn sẽ phản xạ theo bản năng và phơi bày sự bộp chộp, thói hung hãn của mình và bị lợi dụng một cách không thể dễ dàng hơn.

Công dân như vậy, làm sao mà chúng ta kiến tạo quốc gia thịnh vượng cho nổi? Câu tuyên ngôn gần trăm năm trước của Phan Chu Trinh rằng “Chi bằng học”, đến giờ vẫn còn thấm thía khi ta thấy đồng bào ta hung hãn “đòi giết” đồng bào ta trên mạng xã hội.

Sông Hàn

(Thương Gia)

Khi xã hội bị tháo rời từng mảnh

Kết quả hình ảnh cho xã hội thối nát

Lòng yêu thương, tình đồng loại và tính vị tha, bao dung là chất keo gắn kết con người với con người, gắn kết xã hội, quốc gia dân tộc trở thành một khối bền toàn. Ngược lại, lòng thù hận và tính ích kỉ, tham lam là một thứ tác động làm khối yêu thương nhanh chóng bị rụng rã, xã hội bị tháo rời thành từng mảnh và hơn bao giờ hết, con người tự đối mặt với nỗi bi thảm của chính mình bởi xã hội đã bị nhiễm độc thù hận. Hiện tại, dù có cố gắng nhìn nhận một cách tô hồng nhất thì vẫn không thể không nói rằng xã hội Việt Nam đã bị tháo rời thành từng mảnh và con người đang sống trong bất an.

Tôi có một người bạn học cũ, nay làm việc trong ngành công an, anh mang quân hàm trung tá. Thi thoảng cũng gặp nhau, cà phê, mặc dù vẫn biết là hai người đối ngược nhau về mặt ý thức hệ nhưng chúng tôi vẫn xem nhau là bạn, nói chuyện thoải mái và gạt mọi chuyện ý thức hệ ra khỏi cuộc chuyện trò. Nhưng một khi người ta càng cố gắng gạt bỏ bao nhiêu thì vấn đề đó càng chi phối mạnh bấy nhiêu. Chính vì vậy, nhiều khi hai thằng ngồi với nhau suốt đêm chỉ để bàn về thời sự, nói về thời cuộc.

Và có một điểm lạ, có lẽ do tình bạn thân thiết từ nhỏ nên cuộc nói chuyện luôn thẳng thắn và chưa bao giờ chúng tôi cảm thấy hết quí mến nhau. Cả hai cùng đưa ra kết luận “Xã hội Việt Nam đã thực sự bị tháo rời từng mảnh và đây là một kiếp nạn của dân tộc”. Để chứng minh nhận định của mình, đương nhiên anh bạn tôi đưa ra những dẫn chứng về sự mất đoàn kết, sự công kích lẫn nhau giữa các nhóm, giữa những người hoạt động đấu tranh dân chủ, nhân quyền. Anh tuyệt nhiên không nhắc đến những vấn đề nổi cộm trong hệ thống đảng, nhà nước mà anh phục vụ. Tôi hiểu và thông cảm điều này.

Ngược lại, tôi cũng đồng thuận với những dẫn chứng của anh và dẫn thêm sự tháo rời trong hệ thống nhà nước, hệ thống đảng để chứng minh cho vấn đề xã hội bị tháo rời của mình. Đương nhiên là anh bạn của tôi khó chịu nhưng không thể bác bỏ tôi được. Và thi thoảng, có những cuộc trò chuyện kéo dài suốt đêm như vậy, đến khi nào vợ con gọi thì mới ngưng.

Cái điều anh bạn của tôi nói, rằng các nhóm xã hội dân sự đã không những không tôn trọng nhau mà còn công kích nhau, điều này đến tâm lý ngay cả trong giới đấu tranh mà còn không tôn trọng nhau thì giới khác chắn chắn sẽ chẳng bao giờ tôn trọng giới đấu tranh. Mặc dù có thể là rõ ràng, có thể là mơ hồ, người ta nhận thấy đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền, bảo vệ đất nước trước nạn xâm lăng là một việc làm chính nghĩa, nhưng người ta không thể nễ nang được bởi chính kiểu nói chuyện đôi khi xem thường và mạt sát đối phương của số đông các nhà đấu tranh cũng như các nhóm hoạt động xã hội dân sự.

Đây là vấn đề đáng buồn mà theo anh bạn của tôi là anh vốn dĩ đã thất vọng sau những ngày dài nỗ lực vô nghĩa, anh đôi khi cũng thèm muốn nhìn thấy một thứ gì đó mới mẽ, tươi đẹp và thấm đẫm tình người trong xã hội. Rất tiếc là mọi điều anh thấy đều có chút gì đó vụn vỡ, cảm giác như ai đó đang tiếp tục tháo rời xã hội. Anh nói rằng anh sợ nhất là phải nhìn thấy người ta sỉ vã nhau trên các trang mạng chỉ vì khác nhau một chút về chính kiến. Mà một khi như vậy thì chẳng còn gì là dân chủ. Bởi dân chủ, tiến bộ không bao giờ là bạo động hay bạo lực. Bạo động hay bạo lực ngôn ngữ còn đáng sợ hơn bạo bao động, bạo lực thân thể. Rất tiếc là không ít nhà đấu rtanh dân chủ, nhân quyền và nhà hoạt động xã hội dân sự bị rơi vào tình trạng bạo động, bạo lực ngôn ngữ. Và đây cũng là đầu mối của thù hận, tan vỡ, thiếu gắn kết, nội bộ rời rạc…

Ngược lại, tôi cũng đưa ra những vấn đề mà theo tôi, kẻ đóng vai chủ chốt tháo rời xã hội Việt Nam hiện tại chính là đảng Cộng sản Việt Nam. Vì hơn ai hết, đây là đảng cầm quyền, có sức chi phối mọi vấn đề trong xã hội và ngay trên chính trường quốc tế, mọi ký kết, hiệp định, hiệp ước với Việt Nam đều thông qua nhà nước Việt Nam.

Và từ khi thành lập đến nay, các quyết sách của đảng Cộng sản thông qua hệ thống bên dưới là nhà nước Cộng sản đều có tính chất phá vỡ mọi giềng mối của dân tộc. Từ tôn giáo, tâm linh, văn hóa, giáo dục cho đến ứng xử xã hội, nguyên tắc bảo vệ nền trị an… đều trở nên xơ cứng, lỏng lẻo, trì trệ và điều này dẫn đến xã hội Việt Nam ngày càng bất an, người đã hết yêu thương người, người đã biết bóc lột người, người đã đạp lên sinh mạng đồng loại để hưởng thụ, người đã mạnh tay và lạnh lùng bóp chết số phận của đồng loại… Dường như cái ác, sự dã man và lòng thù hận vây bủa xã hội.

Lẽ ra, Việt Nam đã tốt đẹp hơn nhiều và dân chủ hơn nhiều nếu như không có sự can thiệp thô bạo bằng những chính sách xóa bỏ dân tộc, xóa bỏ văn hóa và tâm linh nhằm sáp nhập vào cái giáo điều gọi là “quốc tế Cộng sản”. Nhưng không, đất nước đã không được như thế, dân tộc không những không đoàn kết, tình yêu thương bị mất mà qua thời gian, những chính sách gắt máu, công an trị và bóp chết tự do của người dân, để giới cán bộ, quan chức lộng hành đã nhanh chóng đẩy xã hội Việt Nam đến vực thẳm của lòng thù hận, sự mạt sát và máu lạnh. Điều này diễn ra khắp mọi nơi trên đất nước hình chữ S này và không từ bất kì ngõ ngách nào.

Và càng ngày, xã hội Việt Nam càng bị tháo rời ra từng mảnh, mỗi nhóm lợi ích là một mảnh rời trên đất nước, tình trạng cát cứ quyền lực ngày càng mạnh hơn, tình thế đã đến lúc không còn cưỡng lại được, trên bảo dưới không nghe, dưới thì trước mặt nịnh trên nhưng sau lưng lại nói xấu, lại coi trên chẳng ra gì và nếu có cơ hội thì dưới sẽ xông lên đạp đổ trên đên chiếm ghế... Trên sợ mất quyền lực lại đi cầu cạnh ngoại bang với chiêu bài “mở rộng quan hệ với láng giềng, anh em một cách có chiều sâu…” để nhờ kẻ khác giữ quyền lực, chịu tôi đòi kẻ khác mà ngoài mặt thì lúc nào cũng nhơn nhơn (nói theo cách của Nguyễn Bá Thanh) làm ra vẻ có trách nhiệm với quốc gia, dân tộc.

Và hơn bao giờ hết, xã hội Việt Nam đã bị tháo rời đến chi tiết cuối cùng, đó là sự tương kính đối với người lớn tuổi, sự dịu dàng đối với trẻ em và sự nâng niu đối với phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ đang nuôi con nhỏ, đang phải sống cuộc đời lẻ loi “gà mái nuôi con”. Dường như không hề có sự nễ nang hay một nguyên tắc tương kính, tương thân nào khi ngay vào dịp cận Tết Nguyên Đán, dịp mà gia đình đoàn tụ, con cháu, ông bà sum vầy, dịp mà người người cúng rước Tổ Tiên về để hầu hạ nhang khói trong ba ngày Tết. Nhưng họ đã bắt chị! Điều này chỉ cho thấy nguyên tắc tương kính, nguyên tắc cuối cùng đóng vai trò keo dán xã hội đã bị khô cứng và vỡ vụn!

Liệu chúng ta sẽ sống như thế nào với một xã hội mà ở đó, keo dán, bù lon, ốc vít của lòng yêu thương, sự tương kính đã khô cứng và vỡ vụn? Tội lỗi này do ai gây ra? Và con người phải sống như thế nào để tự làm nóng lòng yêu thương, sự tương kính của mình? Thật là buồn ở những ngày cuối năm, tôi phải ngồi viết những dòng như thế này!

Viết Từ Sài Gòn

(RFA Blog)

Chính phủ kiến tạo của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc kỳ thực chỉ đối phó xoay trở

Chính quyền chối bỏ lời nói thật, thì dân chúng thì dân gian ưa phỉnh nịnh, giả dối. Chính quyền sợ hãi trước lời thật thì dân chúng nhát gan, sợ sệt.

Kết quả hình ảnh cho nguyễn xuân phúc

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc hô hào và làm hết sức vì Chính phủ kiến tạo nhưng tập đoàn quyền lực (mà ông là một vai trong đó) sợ lời nói thật, nghi kị người nói khác. Chính quyền tiếp tục bẻ đi sự gai góc của báo chí, khiến báo chính thống trở nên thuần và dễ thương đến mức không thể chịu được.

Người ta sợ đơn giản chỉ là vì lo cho chính mình, lo miếng cơm manh áo của mình bị thương tổn. Báo chí Việt Nam vốn chỉ nói được điều mà chính quyền cho nói, nói sự thật mà chính quyền cho rằng đó là sự thật giờ càng trở nên bạc nhược.

Thậm chí nhiều người trong số họ còn phát hoảng cả lên vì ... không biết chỗ nào bề trên cho nói và chỗ nào mình không được nói. Họ đang dần dần tự giết chính mình và tiếp tục góp phần băng hoại xã hội.

Đó như là một kiểu cắt thịt mình ăn dần!

Bản thân sự chối bỏ lời thật, sợ hãi lời thật mà gia cố các biện pháp hạn chế ngôn luận chỉ là một biểu trưng của đối phó – xoay trở. Đó tuyệt nhiên không phải là kiến tạo phát triển mà đích thực là bịt nguồn cảm hứng bít lại tư duy của công dân. 

Để đưa kinh tế quốc gia ra khỏi những lầy lội, nếm trái đắng từ những tập đoàn kinh tế quốc doanh, Chính phủ cổ vũ cho tư nhân phát triển kinh tế nói rằng trong năm năm nữa phải có được 1 triệu doanh nghiệp (nghị quyết 35CP về Hỗ trợ phát triển doanh nghiệp đến năm 2020).

Để giữ cơ cấu dân số vàng Chính phủ chuẩn bị ra luật mới cho phép người dân sinh đẻ theo nhu cầu (và cả điều kiện kinh tế).

Để tăng thu ngân sách, trong điều kiện nguồn thu hạn chế, Chính phủ đòi tăng thuế xăng dầu.

Bản thân những điều này, chỉ là mô thức đối phó – xoay trở, hoàn toàn không phải là năng lực kiến tạo phát triển.

Quốc gia hưng vượng không phải bằng cách “bắt những con bò cùng cày” hoặc cho bò đẻ nhiều hơn mà chính là ở chất lượng công dân trong xã hội – trong quốc gia đó. Công dân rõ ràng không phải là những con bò chỉ biết cày để nộp thuế và đẻ để tăng sức lao động.

Muốn có thêm một triệu doanh nghiệp thì phải cải tạo hệ thống pháp lý, cải biến tư duy xã hội chứ không thể đem nghị quyết ra nói khơi khơi mà thành được.

Muốn tăng ngân sách thì phải giảm thuế để khuyến khích đầu tư, bớt chi tiêu, loại bỏ các hội đoàn ăn ngân sách, giảm trừ quan lại chứ không phải nhăm nhăm tăng thuế xăng. 

Công dân nhát sợ, thì quốc gia ươn hèn; công dân trí trá thì xã hội loạn ly, mất giá trị chuẩn mực của đạo đức xã hội. Như thế dẫu nai lưng làm kinh tế, sinh đẻ nhiều hơn thì cũng có ích lợi gì cho sự hạnh phúc quốc gia?

90 triệu hay một trăm triệu thì vẫn chỉ là những con bò trong cái chuồng đầy phân.

Chính phủ ngày nay không thể gỡ bỏ lề thói, tập tính của làng xã để kiến tạo sự văn minh. Không thể nào loại bỏ sự gia trưởng, độc tài để kiến tạo xã hội khai phóng.

Bởi vì chấp nhận một xã hội khai phóng, hối thúc và kiến tạo sự phát đạt của tư duy công dân, nghĩa là toàn trị đã không còn. Người ta càng được cổ vũ về mặt tư duy thì sẽ càng nhìn ra những hướng đi tốt lành hơn cho quốc gia, cho chính mình.

Lợi ích nhóm lớn đi chống lợi ích nhóm nhỏ, đó là câu chuyện kỳ khôi nhất ở Việt Nam đương thời.

Vòng kim cô còn xiết chặt trên đầu công dân, trong tư duy xã hội thì không thể nào có sự phát triển được, sự kiến tạo và phục vụ mà Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc hối thúc vẫn chỉ là thể xác không có thần khí.

Quá thấm Perestroika dẫn đến sự sụp đổ của Đế chế Sô Viết, Chính thể sẽ luôn khẳng định kim chỉ nam Chủ nghĩa Mác Lê - thực chất cái vỏ bề ngoài. Việc tư tưởng ngày càng xiết chặt chứ không có chuyện buông bỏ hay khai phóng. 

Bản thân ông Phúc và những đồng chí cũng chỉ là một khối u trong một quốc gia mang bệnh trầm kha.

Ông Phúc gánh nặng di sản trên vai, là Thủ tướng vất vả nhất của Việt Nam trong vòng 30 năm lại đây. Nhưng sự nỗ lực của ông, họa may cũng chỉ phần nổi, lóp ngóp phía trên; một nửa còn lại đang ngập trong bùn.

Xã hội chộp giựt, ai cũng chỉ biết nghĩ lấy thân mình; Chính phủ chỉ lo đối phó trong từng thời điểm, xoay trở để củng cố quyền lực, như vậy mà quốc gia thịnh vượng được là điều chưa nay chưa từng thấy!

(Han Times)

Những loại người Mỹ muốn di dân qua Canada sau khi ông Donald Trump lên nắm quyền.

Kết quả hình ảnh cho cờ canada

Toronto: Theo bài nhận định của đài CBC phổ biến trong hôm thứ tư ngày 18 tháng giêng, thì có bốn loại người Mỹ muốn di dân qua Canada, thời hậu bầu cử tổng thống Hoa Kỳ, sau khi ông Donald Trump thắng cử.

Luật sư  Evan Green của công ty luật Green and Spiegel đã nói trong chương trình radio Metro Morning của đài CBC là ngay sau khi ông Trump thắng cử, ông ta thấy có rất đông người Mỹ muốn di dân qua Canada, và có nhiều người coi việc muốn di dân là chuyện nghiêm trọng.

Luật sư Green chia những người Mỹ muốn di dân qua Canada thành 4 nhóm:

– Những con chim trốn tuyết trở về (wayward Canadians) là những người đang sống ở Mỹ, nhưng là người có quốc tịch canada hay bố mẹ, ông bà là những người Canadians. Luật sư Green cho rằng đây là những người muốn quay lại Canada một cách nghiêm chỉnh nhất, không đùa dỡn.

-Nhóm thứ nhì là “những người hoảng sợ ông Trump” (appalled by Trump):Nhóm này là những người sợ ông Trump và thăm dò cách thức để có thể di dân qua Canada, nhưng chưa nhất quyết.

-Nhóm thứ ba là những người ở Mỹ nhưng không có quốc tịch Mỹ (grey status): những người này như những người Mễ ở lậu tại Mỹ nhiều năm qua,lo sợ bị ông Trump trục xuất, những người có thông hành làm việc ở Mỹ dưới thời tổng thống Obama, nhưng lo lắng cho tương lai, nên tìm nơi khác di dân.

-Nhóm thứ tư là nhóm những người giầu có, những người giàu có theo đạo Hồi đang ở Mỹ, tìm cách di dân qua Canada, tìm kiếm một cuộc sống ổn định hơn.

(Thời Báo)

Xác định đến cùng thủ phạm chính là gì?

Tôi muốn gửi tới các bạn, các đồng chí của tôi - những người đang lãnh đạo chủ chốt của tỉnh Hà Tĩnh hiện nay - bài báo nhỏ như là lời tâm sự này.

Thảm họa Formosa, “xác định đến cùng thủ phạm chính là gì” là đòi hỏi của nhân dân, của lịch sử được Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đặt ra trong buổi làm việc với cán bộ Hà Tĩnh ngày 1/5/2016 (Báo Nhân Dân ngày 2-5-2016).

Kết quả hình ảnh cho võ kim cự
Ông Võ Kim Cự

   Thảm họa Formosa

 Nếu nói sự kiện nào nổi bật nhất của năm 2016 thì sự kiện đó là thảm họa Formosa.

 Nếu nói nỗi đau, nỗi nhục nào của Hà Tĩnh, làm mất đi rất nhiều vị thế, niềm tự hào của quê hương Hà Tĩnh thì đó là thảm họa Formosa. 

Trong cuộc họp báo công bố tình hình kinh tế xã hội 9 tháng năm 2016 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, bà Nguyễn Thị Xuân Mai, Vụ trưởng Vụ Thống kê Dân số và Lao động, Tổng cục Thống kê cho biết: "Thống kê bước đầu, Hà Tĩnh có hơn 24.400 người dân bị ảnh hưởng từ thảm họa của Formosa, trong đó hơn 15.000 người là trực tiếp đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản, còn lại là kinh doanh thuỷ sản và dịch vụ hậu cần 1.000 người, dịch vụ nhà hàng khách sạn gần 700 người, sản xuất muối 428 người"(Xem Dân trí 30/9/2016 và các báo cùng ngày). Đây là mới nói Hà Tĩnh, chưa nói đến Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế.

 Gây ra thảm họa này, không ai khác là lãnh đạo Hà Tĩnh những nhiệm kỳ trước. Nhưng nhiều đồng chí trong nhiệm kỳ trước, còn tại vị trong nhiệm kỳ này cũng có trách nhiệm của mình. 

Tôi nghĩ, chuyện xẩy ra như bát nước đã đổ, không thể hót lại; song từ mất mát, nếu rút ra được những bài học, sẽ tránh được sự đau đớn, mất mát trong tương lai. Có nhiều cách nhìn nhận khác nhau về nguyên nhân thảm họa Formosa. 

Cách nghĩ của tôi là: Tầm nhìn ngắn, bàn tay dài 

Tôi chia sẻ với Võ Kim Cự, nguyên Chủ tịch, nguyên Bí thư Hà Tĩnh, rằng khi Hà Tĩnh kêu gọi đầu tư và thực hiện dự án này chỉ nghĩ nó “thay đổi được một vùng khó khăn, dân nghèo khổ, mong có một nguồn lực lớn cho dân có việc làm để thoát nghèo, phải có một cú hích, có công nghiệp làm nền tảng”. (Lao Động, 25/7/2016). 

Đó là một lý do đẹp đẽ và ông Cự cũng thừa nhận rằng, đã không lường hết được sự phức tạp và hậu quả nghiêm trọng. Làm công nghiệp mà không lường được hậu quả thì không thể chấp nhận được! Hồi tôi làm phóng viên thường trú ở Nghệ An, Hà Tĩnh, đi đâu cũng vang lên bài ca sắt Thạch Khê và cảng nước sâu Vũng Áng. Ngay khi ấy tôi đã thấy ngượng và nhiều người không hài lòng vì tôi không viết bài ủng hộ tỉnh. Đến nay, sau bao nhiêu nghị quyết, sau khi mất bao nhiêu tiền, Thạch Khê vẫn chưa có cân sắt nào mà còn làm đảo lộn cuộc sống của nhân dân trong vùng. Còn với cảng Vũng Áng, Hà Tĩnh cũng chưa có hàng gì xuất để thu tiền và đã nhập được những điều tai hại…

 Và cũng nhiều năm nay, quanh tai tôi luôn vang lên những lời ca ngợi của chuyên viên các bộ, của phóng viên báo chí rằng “Hà Tĩnh chơi được, cán bộ rất thoáng”. Phong bì phong bao vài chục triệu là chuyện thường. Rồi lại còn tự hào sau mỗi kỳ Đại hội Đảng, Hà Tĩnh có bao nhiêu Ủy viên Trung ương, bao nhiêu bộ, thứ trưởng. Tôi cũng mừng cho quê hương, nhưng để khoe mẽ thì không, nhiều khi còn thấy xấu hổ và đau xót vì tỉnh nhà có nhiều cán bộ quan trọng lại dễ ủng hộ nhau làm điều tiêu cực.

 Công nghiệp Hà Tĩnh xưa chỉ có cái nhà máy cơ khí Ấp Bắc. Rồi Nhà máy xi măng Lam Hồng, nhà không ra nhà, máy không ra máy. Thập kỷ 90 đi mua một cái nhà máy đường cổ lỗ bên Liêu Ninh, Trung Quốc.

 Anh H. bị bắt làm giám đốc vò đầu bứt tai suốt ngày kêu khổ. Không chuẩn bị, không nghiên cứu kỹ nên không đủ nguyên liệu. Không ít cán bộ bị kỷ luật oan vì không trồng mía đủ chỉ tiêu tỉnh giao. Kỷ luật cũng không ra mía được, cũng không làm được cân đường có giá cạnh tranh, cuối cùng phải bán vào nam. Trẻ con làm vỡ cái bát thì bị đánh no đòn, còn những chuyện như thế rồi chẳng ai sao cả! 

Nói chung, chưa thạo làm công nghiệp và vận hành nền kinh tế thị trường.

 Ti-tan là quặng quý, có hạn. Nhưng việc khai thác, xuất khẩu đã không làm giàu cho người dân sở tại, những người dân đáng được hưởng thứ trời đất đã ban tặng, quá khứ đã gửi lại cho họ. Tất nhiên, có làm giàu cho một số người.

 Chưa đủ tầm nhìn, trình độ, chưa đủ nhân lực, vật lực mà vội vã chạy đua công nghiệp, bập vào những dự án khổng lồ, thất bại là tất yếu. Nhưng ở địa phương nào có nhiều dự án, thì một số cán bộ dễ thò bàn tay dài của mình bòn rút. Bằng đủ mọi cách. Ăn của nhà đầu tư. Ăn cả của dân trong giải phóng mặt bằng. Ăn của doanh nghiệp mà chẳng làm gì cho họ.

 Ở Kỳ Sơn, Nghệ An năm nọ có người Mông bẫy được con gấu rừng. Anh ta bán được ba cái mật gấu cho ba người, ai cũng hỉ hả, tưởng mình mùa được đồ thật, đồ quý trong khi cái mật gấu thật vẫn ở trong buồng của anh người Mông nọ. Cái anh ở ban quản lý dự án cũng vậy; nhận hồ sơ, nhận tiền bôi trơn của ba anh doanh nghiệp; anh nào cũng hỉ hả, tưởng mình sẽ trúng; cuối cùng chẳng anh nào trúng mà lại là anh X, Y… nào đó!  

 Không cho dân biết, dân bàn, dân quyết

 Tài sản là của nhân dân. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đều khẳng định nhân dân phải được quyền tự quy định, quyết định lấy vận mệnh của mình. 

Vậy mà trong nhiều việc hệ trọng, hầu như dân không hề được biết, được bàn, được quyết. Dân chỉ là người thi hành, người phải chịu đựng.

 Điều này trái với mục tiêu, lý tưởng cách mạng; trái với chân lý.

 Hiến pháp khẳng định: Nhà nước của dân, do dân, vì dân.

 Hầu như ai cũng nói: Nhân dân ta anh hùng, nhân dân thông minh. Nhân dân là chủ, nhân dân thông minh; vậy sao không hỏi dân; không cho dân quyết?

 Từ việc to đến việc nhỏ đều phải hỏi ý kiến dân; không thể tự quyết bằng một nhóm người, thậm chí chỉ một người. Nhân đây, xin nhắc lại một cán bộ Hà Nội từng nói, trồng cái cây trên đường phố thì có gì phải hỏi dân? Ơ hay, đường phố của dân chứ đâu phải của anh chủ tịch? Kiểu tư duy ấy ngày nay không được phép tồn tại. 

Vì cách nghĩ ấy, vì kiểm soát quyền lực không tốt nên người đứng đầu một địa phương đã tự đội vương miện cho mình; vượt quyền của Đảng, của dân. 

Thường vụ không nên đặt cho mình có quyền tất cả, càng không nên nghĩ có khả năng độc quyền chân lý.

 Phải đẩy mạnh dân chủ, phải trưng cầu dân ý trong mọi lĩnh vực. Có như vậy mới thực hiện được lý tưởng đẹp đẽ của cách mạng, mới bớt được sai lầm.  

 Sự im lặng đáng sợ 

Báo cáo chính trị của BCH TƯ khóa V tại ĐH VI của Đảng do đồng chí Trường Chinh trình bày có một câu rất nổi tiếng: “Thái độ của Đảng ta trong việc đánh giá tình hình là nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”.

 Từ sự cố Formosa ta thấy có ba kiểu im lặng đáng sợ, khác xa thái độ nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật. 

Một là, trong Tỉnh ủy, UBND tỉnh Hà Tĩnh chắc chắn có nhiều đồng chí có hiểu biết không đồng tình hoặc băn khoăn với việc một tập đoàn từng làm ảnh hưởng môi trường ở nhiều nước, có công nghệ luyện thép lạc hậu vào Hà Tĩnh; biết trong quá trình thực hiện có nhiều sai phạm; song không dám nói, không dám bày tỏ chính kiến, nếu không sợ thì cũng có biểu hiện cơ hội.

 Tôi nhớ ý kiến tự kiểm điểm của đồng chí Trường Chinh tại Hội nghị Bộ Chính trị ngày 4/4/1986. Tại đó, đồng chí đã thẳng thắn nhận “đã thông qua một số quyết định sai”, “đã không thẳng thắn nói hết được ý kiến để cùng nhau thảo luận nhất trí, đã không kiên trì cái đúng” (xem Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam 12/10/2016).

 Hai là, vẫn còn hiện tượng bưng bít thông tin, thậm chí xuyên tạc sự thật. Ngày 6/4 nhân dân phát hiện cá chết hàng loạt ở bốn tỉnh miền Trung. Trước đó, hai ngày, một thợ lặn Hà Tĩnh phát hiện Formosa thải độc ra biển bằng đường ống ngầm có đường kính lớn. Ngày 25/4, Phó phòng Đối ngoại của Formosa Chu Xuân Phàm tiết lộ “muốn bắt cá, bắt tôm hay muốn xây dựng ngành công nghiệp thép”.

 Những ngày đó, nhiều nhà khoa học đã đặt nghi vấn về nhân tai; còn nhiều cán bộ thì biết chắc rằng do Formosa; vậy mà ngày 27/4, Bộ Tài nguyên - Môi trường trong cuộc họp báo kỳ dị 7 phút đưa ra nguyên nhân cá chết là do thủy triều đỏ và coi ai có ý kiến khác là “làm tổn hại đất nước”! Thật trớ trêu và cũng trớ trêu là một số cán bộ lãnh đạo địa phương vùng bốn tỉnh bị nhiễm độc kêu gọi dân ăn cá và tắm biển! Đưa môi trường đất nước, đưa mạng dân vào nguy hiểm, thật không hiểu làm chính trị kiểu gì?

 Ba là, báo chí và truyền thông không làm tròn sứ mệnh cao cả của mình; chưa chủ động thông tin, chưa thực hiện tốt vai trò phát hiện và đấu tranh làm sáng tỏ sự thật; làm tốt vai trò phản biện xã hội. Có hiện tượng báo địa phương đưa tin theo lãnh đạo địa phương bất chấp nhân dân, bất chấp sự thật. Có nhà báo phục vụ lợi ích nhóm, chà đạp lên sứ mệnh vẻ vang của báo chí là phục vụ lợi ích công...   
Lời kết 

Nguyên nhân trực tiếp dễ biết. Nguyên nhân sâu xa không phải ở Formosa mà ở chính mình, trong hệ thống của mình (tức tất cả chúng ta, không trừ một ai). Tôi thêm một lần nhắc tôi và muốn gửi tới các bạn, các đồng chí tôi ở Hà Tĩnh: Ngày nào cũng nên hỏi mình: Mình đang làm gì, làm việc này vì ai, hôm nay mình đã sai gì và ngày mai làm điều gì cho tốt hơn? Và bất luận trong trường hợp nào cũng phải đứng về phía nhân dân; bất luận trường hợp nào cũng phải bảo vệ lẽ phải. Người tốt không phải là người im lặng; người tốt phải tập hợp lại! Xin cho tôi gửi tới các bạn câu thơ của tôi trong bài “Tự sự đảng viên”: Những kẻ xấu thường hay tập hợp/ Người tốt thường hiền, hiền quá cũng vô lương. 

Và nếu làm cán bộ để vơ vét làm giàu, để bóp nặn của dân thì đó là điều tủi hổ muôn đời; không xứng đáng là người Hà Tĩnh! 

 NGUYỄN SĨ ĐẠI

(Nông Nghiệp)

Hộ khẩu: 9 điều có thể bạn chưa biết

Báo cáo mới đây của Ngân hàng Thế giới và Viện hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam cho thấy, chế độ hộ khẩu có tuổi đời hơn 50 năm của Việt Nam đang trở thành lực cản lớn cho sự phát triển xã hội.

Ảnh: Michael Waibel / COASTAL City / Saigoneer.
Được công bố ngày 16/6/2016, báo cáo Hệ thống đăng ký hộ khẩu ở Việt Nam cung cấp một cái nhìn toàn cảnh về lịch sử hình thành và tác động của chế độ hộ khẩu đối với đời sinh kinh tế – xã hội của người dân.

Luật Khoa tóm tắt 9 vấn đề pháp lý và quyền con người liên quan đến hệ thống đăng ký hộ khẩu tại Việt Nam mà bản báo cáo đã tổng kết.

1. Chế độ hộ khẩu tại Việt Nam được hình thành để kiểm soát trật tự xã hội và quản lý nhà nước về kinh tế, dựa theo hình mẫu của Trung Quốc.

Quyền tự do đi lại và quyền tự do cư trú của công dân là quyền hiến định được công nhận bởi Hiến pháp Việt Nam năm 1960. Các bản Hiến pháp sửa đổi năm 1980, 1992, và 2013 đều có những quy định tương tự.

Tuy nhiên, ngay sau khi tiếp quản miền Bắc vào năm 1954, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mới thành lập đã cho ra đời chế độ hộ khẩu tại Việt Nam vì hai mối quan ngại chính.

Thứ nhất, việc đô thị hóa quá nhanh đi kèm với sự gia tăng của lượng người di cư từ nông thôn về các thành phố lớn dẫn đến nạn thất nghiệp, và sẽ phá vỡ các kế hoạch phát triển của nhà nước.

Thứ hai, chính quyền mới cũng có những e ngại nhất định với các thế lực chống đối và cần kiểm soát an ninh.

Do đó, việc hạn chế tự do di chuyển của công dân được xem là một vấn đề cấp thiết cần phải giải quyết, và chế độ hộ khẩu được xác định là công cụ tối ưu cho mục đích này.

Dựa trên hình mẫu gốc là hệ thống hộ khẩu (hukou) của Trung Quốc, chế độ hộ khẩu tại Việt Nam được xây dựng với cùng mục đích: quản lý người dân về mặt kinh tế cũng như kiểm soát an ninh trật tự xã hội.

2. Văn bản pháp lý đầu tiên giới hạn quyền tự do đi lại và cư trú của người dân ra đời 7 năm trước khi hệ thống hộ khẩu chính thức được áp dụng.

Vào năm 1957, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ban hành Thông tư 495-TTg và đưa ra các quy định về một số biện pháp hạn chế cư dân các vùng nông thôn di chuyển ra các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng.

Tuy nhiên, phải đến 7 năm sau, khi Nghị định 104-CP được chính phủ ban hành vào năm 1964 thì hệ thống hộ khẩu mới chính thức được áp dụng tại miền Bắc Việt Nam. Nghị định này ra đời theo yêu cầu của Bộ Công an, vỗn cũng là đơn vị trực tiếp chịu trách nhiệm thi hành, với lý do tăng cường đảm bảo an ninh cho đất nước đang trong thời kỳ chiến tranh.

Sau tháng 4 năm 1975, chế độ hộ khẩu được áp dụng cho cả nước.

3. Các tham số chính của hệ thống hộ khẩu tại Việt Nam được thiết lập bởi Nghị định 104-CP năm 1964 và hầu như không thay đổi nhiều trong gần 40 năm.

Các tham số chính của hệ thống hộ khẩu tại Việt Nam dựa theo Nghị định 104-CP bao gồm: mỗi người dân chỉ được đăng ký là nhân khẩu thường trú tại một và chỉ một hộ gia đình và việc di chuyển chỉ được phép khi có sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền.

Hệ thống đăng ký hộ khẩu có một số sửa đổi theo thời gian bởi Nghị định 4-HDBT năm 1988, Nghị định 51-CP năm 1997 và Thông tư 6-TT/BNV(C13). Tuy nhiên, tinh thần của Nghị định 104-CP trên căn bản vẫn được giữ nguyên cho đến khi được thay thế bằng Luật Cư trú năm 2006.

Chế độ hộ khẩu hiện hành tại Việt Nam được quy định trong Luật Cư trú năm 2006 với các sửa đổi vào năm 2013 và 2014. Nhưng tại Hà Nội, quy định hộ khẩu còn dựa theo một luật ban hành riêng cho thủ đô vào năm 2012 (Luật Thủ đô).

4. Trước thời kỳ Đổi Mới, nếu không có hộ khẩu thì một người sẽ sống mà không có đủ quyền dân sự và dịch vụ do nhà nước cung cấp.

Trên thế giới, Việt Nam và Trung Quốc là hai ví dụ nổi bật cho việc gắn cung cấp dịch vụ xã hội với chế độ hộ khẩu.

Tại Việt Nam, trước khi thực hiện cải cách kinh tế trong thời kỳ Đổi Mới năm 1986, hệ thống hộ khẩu buộc chặt người dân với việc phân phối lương thực, đất đai, nhà cửa, giáo dục, y tế và việc làm. Hầu như tất cả các quyền dân sự chỉ được đảm bảo khi một công dân có hộ khẩu vì họ bị quản lý trực tiếp bởi nhà nước thông qua các đơn vị sử dụng lao động và hợp tác xã.

Cũng chính vì nhà nước quản lý trực tiếp nên trước năm 1987, việc chuyển hộ khẩu từ nơi này đến nơi khác tuy có thể làm được về mặt lý thuyết, nhưng gần như là bất khả thi trong thực tế. Công dân không thể chuyển hộ khẩu mà không có sự đồng ý của cấp thẩm quyền vì họ cần phải có giấy phép di chuyển của nơi họ dời đi. Nếu di chuyển mà không có giấy phép thì sẽ rất vất vả để có thể tồn tại ở nơi họ chuyển đến.

Sau khi bắt đầu thời kỳ Đổi Mới, sở hữu tập thể và chế độ phân phối của nhà nước cũng dần bị dỡ bỏ. Và vì vậy, tuy hệ thống hộ khẩu vẫn tồn tại, nhưng nó đã không còn ảnh hưởng đáng kể đến quyền và vấn đề sinh kế của người dân như trước.

5. Luật Cư trú năm 2006 đã có những cải cách lớn về chính sách hộ khẩu 

Trước năm 2006, có 4 loại đăng ký hộ khẩu ở Việt Nam – KT1, KT2, KT3, và KT4. KT1 dành cho những người thường trú, KT2 dành cho những người vẫn ở trong tỉnh, thành phố nhưng đăng ký ở quận, huyện khác, KT3 dành cho những người tạm trú dài hạn, và KT4 dành cho những người cư trú tạm thời.

Luật Cư trú năm 2006 gộp 4 loại hộ khẩu trên thành hai loại: tạm trú và thường trú. Tuy thế, trong thực tiễn, tình trạng phân biệt KT3 và KT4 vẫn diễn ra.

Luật cũng giảm đáng kể các điều kiện xin hộ khẩu thường trú. Để có được hộ khẩu ở các thành phố lớn, người dân chỉ buộc phải ở đó liên tục 1 năm thay vì là 3 năm như trước kia.

Luật Cư trú 2006 còn đơn giản hóa thủ tục chuyển đổi tình trạng hộ khẩu. Cải cách lớn nhất là việc xin giấy xác nhận tạm vắng từ nơi chuyển đi đã được bãi bỏ. Các điều kiện về xuất trình giấy tờ chứng thực việc làm hoặc giấy nhập học ở nơi đến cũng được bãi bỏ.

Ảnh: Người dân tại cơ quan đăng ký hộ khẩu (tuyentaphay.com).
6. Luật Cư trú sửa đổi năm 2013 lại thắt chặt hệ thống đăng ký thường trú tại các thành phố lớn, trực thuộc trung ương.

Đối với những cải cách của Luật Cư trú 2006, Bộ Công an đã phê phán là quá lỏng lẻo và nêu ra quan ngại về sự gia tăng mạnh mẽ các trường hợp thay đổi hộ khẩu – đặc biệt là ở các thành phố lớn – từ khi luật được ban hành.

Vì những quan ngại này, Luật Cư trú đã được sửa đổi vào năm 2013, thắt chặt đáng kể các yêu cầu đối với hộ khẩu thường trú. Đáng kể nhất là yêu cầu phải cư trú liên tục 2 năm ở thành phố trực thuộc trung ương thay vì chỉ 1 năm.

Luật Cư trú sửa đổi 2013 cũng ghi nhận chính quyền địa phương ở các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ và Hải Phòng có thẩm quyền thiết lập các chính sách cư trú của riêng mình.

Luật cư trú tại các thành phố lớn đều có quy định chặt chẽ hơn. Ví dụ như ở Hà Nội, Luật Thủ đô 2012 yêu cầu người xin đăng ký thường trú phải sống ở đó liên tục trong 3 năm (so với hướng dẫn của cả nước là 2 năm). Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội còn đưa ra quy định về các yêu cầu tối thiểu đối với nhà ở cho những người muốn xin nhập hộ khẩu.

Những nới lỏng trong Luật Cư trú 2006 đối với hộ khẩu thường trú đã bị thắt chặt bằng những chính sách vừa nêu, và vì vậy hệ thống hộ khẩu ở Việt Nam đã không còn những bước tiến bộ rõ rệt nữa.

7. Những người không có hộ khẩu thường trú gặp sự phân biệt đối xử khi xin việc tại các cơ quan nhà nước 

Theo thống kê của bản báo cáo, những người không có hộ khẩu thường trú hầu như không có khả năng tiếp cận các cơ hội việc làm trong các cơ quan nhà nước.

Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, và Đà Nẵng từ lâu đã áp dụng chính sách bắt buộc đăng ký thường trú đối với các công việc công chức thông thường và chỉ miễn cho các trường hợp đặc biệt.

Trong khi đó, kết quả của các cuộc khảo sát được tổng kết lại cho thấy hiện tượng phân biệt đối xử đối với người lao động trong các công ty tư nhân về tình trạng cư trú hiện nay đã không còn phổ biến.

Bản tổng kết còn cho biết thêm, những yêu cầu khắt khe về đăng ký thường trú và quyền lợi mà nó mang lại – như được vào biên chế nhà nước ở các thành phố lớn – đã dẫn đến tình trạng người dân phải chi trả một số tiền lớn cho các khoảng phí không chính thức để có hộ khẩu thường trú hoặc tạm trú.

Minh họa của ĐAN (laodong.com.vn)
8. Trẻ em và phụ nữ là những nhóm yếu thế gặp nhiều phân biệt đối xử nhất bởi hệ thống đăng ký hộ khẩu trong việc tiếp cận các dịch vụ công như giáo dục, y tế và các chương trình xã hội khác

Trẻ em không đăng ký cư trú ít có khả năng nhập học trường công, và trẻ đăng ký tạm trú ít có cơ hội đến trường hơn so với trẻ có đăng ký thường trú. Nhiều trường học ưu tiên cho học sinh có hộ khẩu thường trú. Đặc biệt ở cấp phổ thông, học sinh không có hộ khẩu thường trú ít có khả năng được nhập học hơn.

Đối với các em gái, tình trạng bất bình đẳng còn tăng thêm một bậc. Các thống kê cho biết, phụ huynh Việt Nam sẽ bỏ ra công sức, cũng như nỗ lực nhiều hơn trong việc giúp con trai họ vượt qua các rào cản hộ khẩu để có thể nhập học cấp 2, nhưng các học sinh nữ thì lại không có được sự giúp đỡ này từ cha mẹ.

Cũng theo bản báo cáo, hệ thống hộ khẩu ở Việt Nam là rào cản khiến cho một bộ phận trẻ em dưới 6 tuổi không có được bảo hiểm y tế. Phụ nữ lại là đối tượng phải chịu trách nhiệm chính trong việc tìm phương pháp xử lý để giúp con cái của mình được tiếp cận bảo hiểm y tế .

Ngoài ra, những người không có hộ khẩu thường trú cũng phải chịu chi phí y tế cao hơn và thường bị chỉ định dịch vụ y tế xa nơi cư trú.

Người tạm trú cũng có ít cơ hội hơn trong việc tham gia các hoạt động xã hội và các tổ chức ở địa phương. Và trong thực tế, những người tạm trú cũng hiếm khi được đưa vào danh sách hộ nghèo. Ngay cả các dịch vụ thu phí như giá điện, người tạm trú cũng phải trả một giá cao hơn.

9. Luật Hộ tịch mới 2016 đã tháo bỏ phần nào các trở ngại cho người tạm trú trong việc thực hiện các thủ tục giấy tờ hành chính cơ bản tại nơi họ cư trú

Bản báo cáo cho biết điều phiền hà lớn nhất mà chế độ hộ khẩu mang lại cho những người không có hộ khẩu thường trú tại địa phương là việc họ phải trở về nguyên quán để thực hiện những thủ tục hành chính cơ bản, ví dụ như đổi chứng minh thư, khai sinh, khai tử, đăng ký kết hôn, xác nhận tình trạng hôn nhân v.v.

Tuy nhiên, điều này đã được cải thiện vào đầu năm 2016 khi Luật Hộ tịch mới có hiệu lực ở Việt Nam. Theo Điều 5 của Luật Hộ tịch 2016, thủ tục hộ tịch đối với khai sinh, đăng ký kết hôn có thể được thực hiện tại nơi cư trú hiện tại của một người dù họ không đăng ký tạm trú hay thường trú ở nơi đó.

Tổng kết lại, bản báo cáo của Ngân hàng Thế giới cho thấy tình trạng cư trú đã khiến một bộ phận không nhỏ dân số Việt Nam chịu cảnh phân biệt đối xử trong việc tiếp cận các dịch vụ công và các vấn đề hành chính hằng ngày.

Vì vậy, bản báo cáo đã đưa ra đề nghị cải cách chính sách liên quan đến chế độ hộ khẩu. Theo đó, nếu Việt Nam không thể xóa bỏ hoàn toàn hệ thống hộ khẩu thì ít nhất, chính phủ phải thay đổi nó một cách đáng kể.

Điều này có thể bắt đầu bằng việc nhà nước tối giản hóa các thủ tục liên quan đến đăng ký hộ khẩu thường trú cho người dân, đồng thời giúp đỡ những người không có hộ khẩu thường trú hoặc tạm trú được tiếp xúc với các dịch vụ công ở nơi họ đang sống một cách công bằng.

Tài liệu tham khảo:


Quỳnh Vi

(Luật Khoa)



 
Top ↑ Copyright © 2016. Tiến Bộ - All Rights Reserved
Back To Top ↑