Tin Tức Cập Nhật :

Làm thế nào phân biệt quốc gia dân chủ và quốc gia chuyên chế?

Làm thế nào có thể phân biệt được một quốc gia là dân chủ hay chuyên chế? Hãy tham khảo 29 khác biệt sau đây:

1. Quốc gia dân chủ trị nước bằng khế ước, vì mọi người đều hiểu hàm nghĩa của công bằng; quốc gia chuyên chế dựa vào khủng bố bạo lực để cai trị, vì mọi người đều hiểu hàm nghĩa của vũ khí.

2. Nhân dân các nước dân chủ có quyền mỉa mai và lên án người cầm quyền, nhân dân các nước chuyên chế phải thống nhất về tư tưởng.

3. Đa số các nước dân chủ không cử hành lễ duyệt binh, vì họ không cần phải khoe khoang vũ lực với công dân; đa số các nước chuyên chế cử hành lễ duyệt binh, vì muốn bảo vệ quyền lực thống trị tuyệt đối của mình.

Lễ duyệt binh
Lễ duyệt binh của Trung Quốc
4. Tại nước dân chủ, những kẻ không thành tín và dối trá bị loại bỏ; tại các nước chuyên chế, ai không phục tùng bị loại bỏ.

5. Đa số dư luận của nước dân chủ nhắm vào chỉ trích Chính phủ, cho Chính phủ biết việc gì cần làm, việc gì không nên làm; Chính phủ quốc gia chuyên chế thích dạy giỗ/giáo huấn nhân dân, cho nhân dân biết nên làm gì và không nên làm gì, nên làm như thế nào và không nên làm như thế nào.

6. Quốc gia dân chủ được tự do tranh luận về tín ngưỡng, không có lời giải chuẩn mực; quốc gia chuyên chế không cho tranh luận về tín ngưỡng, chỉ cho tôn thờ một thứ chủ nghĩa.

7. Quốc gia dân chủ nói về tính người, quốc gia chuyên chế nói về tính động vật.

8. Quốc gia dân chủ dùng pháp luật bảo vệ công dân, dùng pháp luật để kiểm soát Chính phủ; quốc gia chuyên chế dùng pháp luật để bảo vệ kẻ độc tài, dùng pháp luật để thống trị quần chúng.

9. Nhân dân của quốc gia dân chủ khống chế tổng thống bằng pháp luật; lãnh tụ của quốc gia chuyên chế dùng pháp luật áp bức nhà đấu tranh dân chủ nói về nhân quyền cho nhân dân.

10.Con cái tổng thống của quốc gia dân chủ bị thất nghiệp; con cái người lãnh đạo của quốc gia chuyên chế là cành vàng lá ngọc, không phải lo chuyện cơm áo.

11.Chuyện bí mật quốc gia của nước dân chủ rất ít; bí mật quốc gia của quốc gia chuyên chế rất nhiều.

12. Muốn làm quan tại quốc gia dân chủ phải “nhìn xuống” để tranh giành phiếu cử tri; muốn làm quan tại quốc gia chuyên chế phải “nhìn lên” để nhờ lãnh đạo bổ nhiệm.

13. Quốc gia dân chủ có người ứng cử; quốc gia chuyên chế có người thay ca tiếp quản quyền lực.

14. Tại quốc gia dân chủ, nhất cử nhất động của tổng thống và người thân đều bị dư luận giám sát; lãnh đạo và người nhà của quốc gia chuyên chế là siêu bí mật, tranh luận còn nhạy cảm đừng nói chuyện truy cứu trách nhiệm.

15. Quốc gia dân chủ có cơ chế giám sát quyền lực, đó là mọi người bình đẳng về quyền lợi; quyền lực của quốc gia chuyên chế để cai trị quần chúng, chế độ đẳng cấp là cách cai trị tốt nhất.

16. Tổng thống của quốc gia dân chủ là đối tượng để nhân dân châm biếm trào phúng; lãnh đạo của quốc gia chuyên chế được tuyên truyền như thần thánh để nhân dân quỳ lạy cúi đầu.

17. Quốc gia dân chủ nói về tự trị, quốc gia chuyên chế nói về thống trị.

18. Quốc gia dân chủ nhân dân tuyển chọn ra Chính phủ, quốc gia chuyên chế Chính phủ tuyển chọn ra nhân dân.

19. Tổng thống của quốc gia dân chủ nhờ giành được lòng dân nên được nắm quyền; lãnh tụ của quốc gia chuyên chế nhờ bạo lực và lừa dối để độc quyền.

20. Tại quốc gia dân chủ, được lòng dân sẽ được thiên hạ; tại quốc gia chuyên chế, chính quyền ra đời nhờ họng súng.

21. Tại quốc gia dân chủ được tự do thành lập đảng phái; quốc gia chuyên chế xem thành lập đảng phái là phản loạn.

(Tri Thức)

Quan điểm "Phò Hán" của Gs Phan Huy Lê, hợp thức cho việc TQ chiếm Hoàng Sa - Trường Sa?

Phạm Viết Đào: Sáng 22.2 tại Hà Nội, Ban Tuyên giáo trung ương tổ chức buổi thông tin khoa học “Một số thành tựu mới trong nghiên cứu lịch sử VN” do GS-NGND Phan Huy Lê - Chủ tịch danh dự Hội Khoa học lịch sử VN - trình bày. Blog Phạm Viết Đào xin lưu ý quý vị quan điểm vô cùng phản động, bán chủ quyền lãnh hải cho Trung Quốc dưới đây của GS Phan Huy Lê:

“Một quan điểm tuy không được đưa vào các văn kiện của Liên Hợp Quốc nhưng gần như tất cả các quốc gia, dân tộc trên thế giới đều thừa nhận, đó là lịch sử của bất cứ một quốc gia dân tộc nào cũng đều xuất phát từ lãnh thổ hiện nay để viết sử.

Tất cả những gì diễn ra trên không gian địa lý, lãnh thổ đó đều thuộc về chủ quyền khai thác, bảo quản và nghiên cứu của chính quốc gia đang làm chủ đó, dù trước đó có những dân tộc đã từng có nhà nước riêng.

Tất cả các tầng lớp cư dân, cộng đồng, tộc người hay các vương quốc từng tồn tại trên các không gian lãnh thổ đó đều thuộc về lịch sử và văn hóa của nhà nước hiện nay đang quản lý lãnh thổ đó.

…Nếu xác lập quan điểm lịch sử mới này, chúng ta sẽ tìm được giải pháp xuyên suốt cho vấn đề chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và vấn đề Nam Bộ…”

Theo quan điểm này của GS Phan Huy Lê thì hiện nay Hoàng Sa và một số đảo trong khu vực quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền lãnh hải của Việt Nam đã bị Trung Quốc sử dụng lực lượng hải quân để cưỡng chiếm, bồi đắp, xây dựng các căn cứ quân sự, kho tàng, xây dựng sân bay, đặt cơ sở ngân hàng, du lịch…; tóm lại là họ đang quản lý phi pháp các hòn đảo đó.

Theo quan điểm của GS Phan Huy Lê thì: do những hòn đảo đó hiện tại không còn lãnh thổ của Việt Nam quản lý nên các nhà sử học Việt Nam nên tránh không nên đụng bút tới; dân không nên biểu tình phản đối còn chính quyền thì không nên kiện tụng gì làm mất lòng " ông bạn vàng" Trung Cộng ?

Đây là một quan điểm phản động, phò Hán lộ liễu nhân danh sử học cần phải bị tẩy độc của GS Phan Huy Lê…

Xin đưa lại bài viết trên Tuổi trẻ ghi lại những “ lời vàng ý ngọc” phò Hán lộ liễu của GS sử học Phan Huy Lê…

Ghi nhận công lao nhà Nguyễn

Ghi nhận công lao nhà Nguyễn
GS.NGND Phan Huy Lê - Ảnh: V.V.TUÂN
Sáng 22-2 tại Hà Nội, Ban Tuyên giáo trung ương tổ chức buổi thông tin khoa học “Một số thành tựu mới trong nghiên cứu lịch sử VN” do GS.NGND Phan Huy Lê - chủ tịch danh dự Hội Khoa học lịch sử VN - trình bày.

“Tất cả các nền văn hóa từng tồn tại trên lãnh thổ VN đều là di sản của văn hóa VN, đều là bộ phận tạo thành của văn hóa VN"
GS Phan Huy Lê
GS Phan Huy Lê đã nêu những thành tựu nổi bật mới trong nghiên cứu suốt chiều dài lịch sử VN. Theo đó, bên cạnh văn hóa Đông Sơn thì việc nghiên cứu văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Óc Eo đã đạt được nhiều thành tựu. Ba nền văn hóa Đông Sơn, Sa Huỳnh, Óc Eo tồn tại ở ba miền Bắc, Trung, Nam đều phát triển rực rỡ và bổ sung cho nhau.

Trong thời kỳ Bắc thuộc, đã có thêm những cơ sở để khẳng định cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan kéo dài gần tròn 10 năm (713-722) chứ không phải chỉ diễn ra trong thời gian ngắn, bùng nổ và thất bại trong năm 722. Điều đặc biệt, cuộc khởi nghĩa không chỉ quy tụ nhân dân trong nước mà còn liên kết với nhiều quốc gia xung quanh như Chân Lạp, Chăm Pa...

Ghi nhận công lao nhà Nguyễn

GS Lê nhấn mạnh: “Một trong những công lao rất lớn của chúa Nguyễn và nhà Nguyễn là mở mang bờ cõi, thống nhất đất nước, khai phá đồng bằng sông Cửu Long. Năm 1757 chúa Nguyễn đã định hình được lãnh thổ VN mà về cơ bản gần giống như lãnh thổ VN hiện nay từ phía Bắc vào Cà Mau, từ Tây nguyên ra biển, bao gồm cả vùng biển, các đảo ven bờ và hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa. Nhà Nguyễn có công rất lớn trong việc hình thành và định hình một nhà nước thống nhất và xác lập lãnh thổ - không gian sinh tồn của nước VN. Công lao nhà Nguyễn về phương diện này không thể chối cãi. Đã đến lúc cần nhìn rõ công, tội của nhà Nguyễn”.

Tuy nhiên, GS Lê cũng nhắc lại hai tội lớn của nhà Nguyễn là để mất nước vào tay quân Pháp và quá bảo thủ, từ chối tất cả các đề nghị canh tân đất nước của nhiều nhà trí thức tiến bộ.

“Nhìn nhận về lịch sử phải hết sức khách quan và cái gì khách quan của lịch sử mới tồn tại lâu dài được. Còn cái gì mà trong một tình thế thời sự nào đó ta phải tôn vinh hoặc hạ thấp thì nó chỉ tồn tại trong một điều kiện nhất định nào đó. Sử học đành rằng phải làm tròn trách nhiệm công dân nhưng sứ mạng cao cả nhất của sử học là làm thế nào để tạo nên được những trang sử bằng cứ liệu lịch sử khách quan, trung thực”.

Những khoảng trống lịch sử

Phần thứ hai của bài thuyết trình, GS Phan Huy Lê thẳng thắn chỉ ra nhiều khoảng trống lịch sử nguy hiểm trong tư duy, nhận thức về lịch sử VN hiện nay.

Ông cho rằng nhận thức về lịch sử VN hiện nay vẫn xuất phát từ truyền thống thời quân chủ, đó chủ yếu là lịch sử của các vương triều, của nhà vua, các triều thần, còn lịch sử nhân dân rất mờ nhạt. Lịch sử của các dân tộc thiểu số không được nhắc đến. Sử học hiện đại VN trong một thời gian dài cũng chỉ trình bày nặng về lịch sử người Việt.

“Vì vậy, trên cả nước thì chỉ có lịch sử miền Bắc là được trình bày có ngọn nguồn từ thời nguyên thủy đến thời Hùng Vương, An Dương Vương, thời Bắc thuộc đến thời phong kiến, cận đại, hiện đại. Còn lịch sử của Nam Trung bộ chỉ mới bắt đầu từ thế kỷ 16, lịch sử Nam bộ chỉ bắt đầu từ thế kỷ 17.

Trước đó lịch sử ở hai vùng đất này ra sao thì chúng ta bỏ trống. Đó là một khoảng trống lịch sử cực kỳ nguy hiểm. Vì từ khoảng trống này đã làm nảy sinh nhiều nhận thức tùy tiện, bất lợi cho chủ quyền lãnh thổ VN hiện nay.

Tôi nhớ mãi là sau năm 1975 khi chúng tôi vào miền Nam, nhiều trí thức trong đó đã nói rằng họ rất băn khoăn khi nhân dân hỏi thì không biết trả lời thế nào về lịch sử Nam bộ trước khi người Việt vào khai phá. Nếu lấy từ thế kỷ 17 người Việt vào khai phá Nam bộ thì người ta sẽ đặt câu hỏi ngược lại vậy lịch sử của Nam bộ, của Sài Gòn trước đó thế nào? Không lẽ từ trên trời rơi xuống? Rõ ràng đây là nhận thức phiến diện tạo thành một khoảng trống lịch sử.

Vì sao nước ta có 54 dân tộc mà chỉ có tôn vinh lịch sử của người Việt, gạt bỏ các dân tộc khác ra ngoài?” - ông Lê trăn trở.

Xác lập quan điểm lịch sử mới

Lời giải mà GS Phan Huy Lê đưa ra để san lấp các khoảng trống lịch sử đó là cần phải xác lập một quan điểm, nhận thức mới về lịch sử VN. “Một quan điểm tuy không được đưa vào các văn kiện của Liên Hiệp Quốc nhưng gần như tất cả các quốc gia, dân tộc trên thế giới đều thừa nhận, đó là lịch sử của bất cứ một quốc gia dân tộc nào cũng đều xuất phát từ lãnh thổ hiện nay để viết sử.

Tất cả những gì diễn ra trên không gian địa lý, lãnh thổ đó đều thuộc về chủ quyền khai thác, bảo quản và nghiên cứu của chính quốc gia đang làm chủ đó, dù trước đó có những dân tộc đã từng có nhà nước riêng.

Tất cả các tầng lớp cư dân, cộng đồng, tộc người hay các vương quốc từng tồn tại trên các không gian lãnh thổ đó đều thuộc về lịch sử và văn hóa của nhà nước hiện nay đang quản lý lãnh thổ đó”.

GS Lê lấy ví dụ Trung Quốc trước đây cũng viết lịch sử đất nước chủ yếu là của người Hán, nhưng bước sang đầu thế kỷ 21 thì quan điểm đó đã thay đổi, bây giờ họ trình bày lịch sử của Trung Hoa bao gồm nhiều tộc người như người Hán, người Mãn Thanh, người Mông và cả các vương triều phi Hán như nhà Nguyên, nhà Thanh...

Nếu xác lập quan điểm lịch sử mới này, chúng ta sẽ tìm được giải pháp xuyên suốt cho vấn đề chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và vấn đề Nam bộ.

“Lãnh thổ VN hiện nay đã được nhiều tổ chức quốc tế công nhận - tức là một lãnh thổ hợp pháp, nên tất cả những gì diễn ra trên lãnh thổ này, kể cả đất liền, hải đảo và hải phận đều là một bộ phận của lịch sử và văn hóa VN.

Như vậy, lịch sử VN không chỉ là lịch sử của một bộ phận người Việt mà là lịch sử của tất cả các dân tộc nằm trong đại gia đình các dân tộc VN, trong đó bao gồm cả các dân tộc trước đây đã từng có nhà nước riêng như người Chăm, người Khmer... Tất cả các nền văn hóa từng tồn tại trên lãnh thổ VN đều là di sản của văn hóa VN, đều là bộ phận tạo thành của văn hóa VN” - GS Lê nêu quan điểm mới về nhận thức lịch sử VN.

Cũng từ nguyên tắc này, với cuộc kháng chiến chống Pháp thì cần nghiên cứu trình bày cả vùng chiếm đóng của Pháp, trong đó bao gồm cả Hà Nội thời kỳ Pháp chiếm đóng, cả quốc gia Việt Nam thời Bảo Đại.

Tương tự, thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1954-1975) cũng cần nghiên cứu sâu hơn về những vùng tạm chiếm ở miền Nam, đặc biệt là Sài Gòn, và cả lịch sử của VN cộng hòa. GS nói rõ hơn: “Trước đây ta vạch ra ranh giới của địch và ta và chỉ trình bày phía ta đã làm mất đi căn cứ pháp lý trọng yếu để khẳng định chủ quyền với lãnh thổ VN. Quan điểm lịch sử mới này vừa là thực tế lịch sử vừa là bộ phận có tính chất khách quan trung thực và là căn cứ pháp lý trọng yếu để khẳng định chủ quyền VN trên bộ, đặc biệt là 
trên biển, hải đảo”.

GS.TS sử học Nguyễn Quang Ngọc cũng cho rằng việc trình bày lịch sử ở từng khu vực trong lãnh thổ VN không nhất thiết cứ phải dựa trên mối quan hệ là sự đoàn kết mà có khi sự mâu thuẫn, đối lập, chiến tranh... trong từng giai đoạn lịch sử cũng là những mối quan hệ cần trình bày khách quan.

“Nói về VN mà lại không có các vương triều phía Nam thì không đảm bảo tính toàn vẹn. Không thể nói vấn đề các vương quốc phía Nam là vấn đề “nhạy cảm”, không nên nói. Vua Gia Long với sự cố gắng hết sức của mình đã đem lại sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ chúng ta như hôm nay thì sao không đưa ông ấy vào lịch sử?” - GS Ngọc đặt câu hỏi.

PGS.TS Trần Đức Cường, nguyên viện trưởng Viện Sử học, còn trăn trở thêm là chúng ta chưa được đọc các công trình viết một cách kỹ lưỡng về nhiều vấn đề thời hiện đại như cải cách ruộng đất, Nhân văn giai phẩm, hợp tác hóa nông nghiệp...

“Chúng tôi viết khách quan trung thực về những sự kiện lịch sử đã xảy ra nhưng xuyên suốt vẫn vì lợi ích của dân tộc, đất nước” - PGS.TS Trần Đức Cường khẳng định.

Nhìn vào lịch sử để nhận ra bài học bảo vệ đất nước

Ông Võ Văn Thưởng - ủy viên Bộ Chính trị, trưởng Ban Tuyên giáo trung ương - chia sẻ những vấn đề mà các nhà sử học băn khoăn, trăn trở cũng là những vấn đề mà những người làm công tác tuyên giáo đang phải đối mặt và tìm cách giải quyết. Dù lịch sử có liên quan rất lớn với chính trị, nhưng các cơ quan lãnh đạo luôn nhìn vào lịch sử để nhận ra bài học về xây dựng, bảo vệ đất nước.

VŨ VIẾT TUÂN

 (Tuổi Trẻ)

Một chỉ dấu nữa cho thấy sự “tự chuyển hóa” trên làng báo của đảng

Phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng trong cán bộ, đảng viên hiện nay
Ảnh bìa sách: Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng trong cán bộ, đảng viên hiện nay, do ông Trương Minh Tuấn, Phó Trưởng BTG Trung ương, Bộ trưởng Bộ 4T chủ biên. Nguồn: internet

Tiếp theo bài viết của TS Lê Kiến Thành đăng trên báo CAND với tiêu đề: “Sau 30 năm, nghĩ về cuộc đổi mới lần thứ hai” mà FB Nguyễn An Dân cho là tín hiệu của sự “tự chuyển hóa”. Mới đây, vào tối ngày 23/2/2017 trong chương trình thời sự của VTV lúc 19 giờ, ở mục chuyên đề nhà báo Thanh Hoa có đề cập đến các vấn đề mà theo nhà báo Thanh Hoa là “những việc cần làm ngay” của cái thời Nguyễn Văn Linh đã và đang được thực hiện “một cách rốt ráo” ở thời điểm hiện tại dưới sự chỉ đạo quyết liệt của đảng.

Ở bài viết này, tôi không đề cập đến nội dung của “những việc cần làm ngay” mà đề cập đến một số thủ thuật cho thấy sự “tự chuyển hóa” trong làng báo dưới mắt nhìn của một người lao động chân tay.

BTV Thanh Hoa sử dụng nhiều thủ thuật chuyên nghiệp của báo chí mà mấy lâu nay các nhà báo ít dùng (hay không dám dùng)…

1- Thuật hô ứng: Mở đầu BTV Thanh Hoa trình bày việc năm 1987 với 27 bài báo của Nguyễn Văn Linh. Một việc làm đã dấy lên một làn sóng xôn xao, ít ra cũng tạo được niềm tin và là luồng sinh khí mới cho báo chí và cuộc sống. Tiếp theo, Thanh Hoa trở lại hiện tại với nhiều xử lý của lãnh đạo đảng và chốt lại là lời ca ngợi sự sáng suốt của lãnh đạo cấp cao.

Điều này có tác dụng kích động sự thanh trừng các phe nhóm làm nội bộ tự xâu xé, “tự chuyển hóa” mà bấy nay Nguyễn Phú Trọng vừa nửa muốn làm, nửa muốn không vì “đánh chuột sợ vỡ bình”. Một việc làm “vừa có tiếng vừa có miếng” (một thủ thuật vô can, vô hại).

2) Thuật triệt buộc: Đây là chiến thuật lừa thế buộc đối phương tắc tỵ (đường cùng) phải hạ thủ một quân cờ (trong bàn cờ domino) dẫn đến tình trạng “khóa sổ” (hết lối đi) và bàn cờ phải chấm dứt sớm hơn dự tính. Thế “triệt buộc” này trong chuyên mục ít ra cũng đạt 2 mục đích:

a) Các ông Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Xuân Phúc, Trương Hòa Bình đã làm các vụ như: Khối tài sản khổng lồ của Thứ trưởng Hồ Thị Kim Thoa, Tỉnh Vĩnh phúc với dự án Công viên nghĩa trang, xe biển xanh, quán cà phê “Xin chào”… thì những việc khác lớn hơn cũng phải làm, đặc biệt là đại án Formosa. Hơn nữa, phải làm tự địa phương đến trung ương mà không cần sự chỉ đạo cao nhất. Hệ quả của mục đích này sẽ dẫn đến sự đối đầu, đối địch lan tỏa sâu rộng trong nội bộ quan chức, tất yếu sẽ dẫn đến sự “tự chuyển hóa” bởi tác động của việc làm này.

b) Một mục đích khác là sự cởi trói, tạo dựng niềm tin cho các nhà báo tấn công vào các nhóm lợi ích mà bấy lâu nay nếu không được lệnh của Trương Minh Tuấn thì không dám đụng chạm… Mà khi đã có được cơ hội này thì e rằng các nhóm lợi ích sẽ làm rối tung tình hình kinh tế xã hội. “Tự chuyển hóa” là tất yếu.

Kết thúc: Dù sao đây cũng là hy vọng, may ra còn có nước cờ nào khác hơn trong tình thế cấp bách của xã hội Việt Nam hiện tại.

Trần Mã Đề

(Ba Sàm)

Bắc Hàn xử tử 5 giới chức an ninh cao cấp

Hình ảnh cuối cùng của ông Kim Won Hong, người đứng đầu cơ quan an ninh Bắc Hàn, trên truyền hình của chế độ Bình Nhưỡng; ông bị lãnh tụ Kim Jong-un thanh trừng và đến nay không ai biết gì về số phận của ông. (Hình: AP/Ahn Young-joon)
SEOUL, Nam Hàn (AP) – Bắc Hàn vừa xử tử năm giới chức an ninh cao cấp bằng súng đại liên phòng không, vì họ đưa ra các báo cáo sai lạc khiến lãnh tụ Kim Jong-un giận dữ, theo tin từ cơ quan tình báo Nam Hàn hôm Thứ Hai.

Buổi thuyết trình kín cho các nhà lập pháp của Sở Tình Báo Quốc Gia Nam Hàn (NIS) diễn ra trong lúc Malaysia đang mở cuộc điều tra vụ Kin Jong-nam, anh cùng cha khác mẹ của Kim Jong-un, bị ám sát chết ở quốc gia này.


Nguồn tin trên nói rằng có năm giới chức cao cấp an ninh bị xử tử bằng đại liên phòng không vì dám nói dối Kim, theo lời dân biểu Nam Hàn Lee Cheol Woo.

Hiện chưa rõ các báo cáo này về việc gì và NIS cũng không cho biết họ có nguồn tin này từ đâu.

Hồi đầu năm nay, người đứng đầu cơ quan này, Kim Won Hong, từng được coi là thân cận với Kim Jong-un, bị giải nhiệm về tội tham nhũng, lạm quyền và tra tấn, theo NIS. Bắc Hàn đến nay không cho biết gì về số phận của Kim Won Hong.

Kể từ khi lên cầm quyền vào cuối năm 2011, Kim Jong-un nghe nói đã xử tử nhiều người để tạo sự sợ hãi trong thành phần chỉ huy cao cấp, khiến họ không dám có ý định làm phản. (V.Giang)

(Người Việt)

Ông Trầm Bê có bị bắt?

Ông Trầm Bê có bị bắt?
Gia đình ông Trầm Bê. Ảnh: Zing News

 Sát phiên tòa mở đầu xét xử vụ án “Hà Văn Thắm và đồng bọn” ở Ngân Hàng Đại Dương, báo chí Việt Nam bất ngờ dùng một cái tít có vẻ miệt thị: “Chấm dứt vai trò bố con ông Trầm Bê tại Sacombank”.

Cùng lúc, nhà báo Huy Đức có một status rất ngắn trên trang facebook của ông:

“Trước Tết, tình cờ gặp trong một đám giỗ, tôi nói với một nhân vật cao cấp vừa nghỉ hưu, “Nếu khi bắt Bầu kiên mà bắt luôn Trầm Bê thì vấn đề Nguyễn Tấn Dũng không cần chờ đến Đại hội mới xử lý được”; ông gật đầu. Nhưng làm sao bắt Trầm Bê khi còn Ba Dũng.

Không biết cựu thống đốc Nguyễn Văn Bình đang nghĩ gì về những quyết định mà ông đã làm với Trầm Bê, với Phạm Công Danh… Ông, một người rất thông minh nhưng đã phải làm liều cứu Dũng. Cách làm đó đã đưa ông lên và cũng đang đặt ông trước những thòng lọng do chính mình giăng ra”.

Cuộc chiến cung đình lại một lần nữa bốc mùi.

Nhân vật mà Huy Đức tâm sự ở trên, theo nhiều người, có thể là “anh 4 S”. Nếu đúng là nhân vật này, quá khứ xung đột nhhiều năm với “anh Ba Dũng” vẫn còn kéo dài đến hiện tại.

Bởi cho dù “anh Ba Dũng” đã nghỉ hẳn, nhưng “dây” của ông vẫn còn và chưa mấy bị suy xuyển. Trong số những người được coi là “dây Ba Dũng”, có quan chức cao cấp là ông Nguyễn Văn Bình và đại gia cao cấp là ông Trầm Bê.

Trước đại hội 12, Huy Đức đã viết một số bài công kích mãnh liệt nhóm Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, trong đó có bài đề cập sâu xa đến Trầm Bê và Nguyễn Văn Bình. Tuy nhiên kết quả đại hội 12 vừa khiến nhiều người kinh ngạc khi “anh Ba Dũng phải rời cuộc chơi, lại càng kinh ngạc khi ông Nguyễn Văn Bình không những không theo chân “anh Ba” mà còn được đưa vào Bộ Chính trị.

Còn giờ đây, Huy Đức một lần nữa chọc thẳng vào thành trì của “nhóm anh Ba Dũng”. Dù không phải là bài báo mà chỉ là một status, văn phong của Huy Đức vẫn có vẻ khá tự tin, như thể việc bắt Trầm Bê chỉ còn là ngày một ngày hai, còn số phận Nguyễn Văn Bình thì nhẹ nhàng nhất cũng là “thôi giữ chức”.

Quả thật, cái cách Ngân hàng nhà nước miễn nhiệm hai cha con ông Trầm Bê có thể khiến nhiều người liên tưởng trường hợp ông Trần Phương Bình – tổng giám đốc Ngân hàng Đông Á ở TP.HCM – bị miễn nhiệm vào nửa cuối năm 2015. Hơn một năm său, cuối năm 2016, ông Trần Phương Bình bị Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an khởi tố và bắt giam.

Nếu căn cứ vào “tiến độ” bắt giam hàng loạt nhân vật ngân hàng từ năm 2014 đến nay, từ Ngân hàng Xây dựng đến Ngân hàng Đại Dương, tràn qua GP Bank, rồi đến Ngân bàng Phát triển đồng bằng sông Cửu Long, và đương nhiên phải có mặt “quán quân” về số nhân vật lãnh đạo bị truy tố – Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn – có thể thấy số phận ông Trầm Bê là mong manh, thậm chí rất mong manh.

Nhưng cũng có thể xảy ra một xác suất trái ngược. Bởi vào nửa cuối năm 2016, nhà báo Huy Đức viết liên tiếp một số bài tấn công ủy viên bộ chính trị, bí thư thành ủy TP.HCM là Đinh La Thăng, nhưng cho tới nay ông Thăng vẫn không hề hấn gì.

Vậy thì vẫn chưa thể biết ‘cung mệnh” của ông Trầm Bê ra sao trong những ngày tới…

Lê Dung

(SBTN)

30 năm nữa Trung Quốc sẽ có dân chủ!

Cụ Chu Hữu Quang năm 105 tuổi. Nguồn: NPR.

Mã Quốc Xuyên phỏng vấn học giả nổi tiếng Trung Quốc 105 tuổi Châu Hữu Quang.

Cụ Châu Hữu Quang (周有光), nhà ngôn ngữ học số một Trung Quốc (TQ), người được gọi là “Cha đẻ của Phương án dùng chữ Latin phiên âm Hán ngữ” vừa qua đời ngày 14/01/2017, thọ 111 tuổi.

Năm 2011, vào dịp bước sang tuổi 105, cụ Châu Hữu Quang có ba niềm vui: Tập tạp văn “Triều văn đạo tập” của cụ được Tháng đọc sách Thâm Quyến bình chọn là một trong 10 sách hay năm 2010, bản thân cụ được Hội Xúc tiến Văn hóa Trung Hoa chọn là “Nhân vật văn hóa Trung Hoa năm 2010”, Tuần san Nhân vật phương Nam chọn cụ là “Nhân vật hấp dẫn năm 2010”.

Sinh ngày 1301/1906, cụ Châu Hữu Quang chứng kiến lịch sử một thế kỷ của TQ. Sau nhiều năm làm công tác kinh tế và tài chính tiền tệ, từ năm 1955 cụ chuyên nghiên cứu về ngôn ngữ học, từng chủ trì công tác lập Phương án phiên âm Hán ngữ, được người TQ gọi là cha đẻ của Phương án này.

Năm 85 tuổi cụ nghỉ hưu, từ đó cụ đọc nhiều và viết nhiều. Các bài viết của cụ đều nói những chuyện đời thường, có lý lẽ, tư duy mạch lạc sáng sủa, không chạm trổ tô hồng, được bạn đọc rất ưa thích. Châu Hữu Quang trở thành nhà trí thức của công chúng, được cả xã hội TQ tôn trọng. Nhà tư tưởng nổi tiếng Lý Trạch Hậu (Li Zhe-hou) từng nói, cụ Châu Hữu Quang là một kỳ tích trong lịch sử văn hóa thế giới, bởi lẽ có không ít danh nhân văn hóa thọ trăm tuổi nhưng chưa mấy ai được như Châu Hữu Quang, 105 tuổi mà vẫn suy nghĩ, viết lách.

Sau khi được tặng danh hiệu Nhân vật Văn hóa Trung Hoa năm 2010, cụ Châu nói cụ sẽ tiếp tục suy nghĩ, viết lách, tiếp tục ra sách. Cụ pha trò: “Năm nay tôi 105 tuổi. Có lẽ tôi sẽ sống được đến 106 tuổi. Tôi có thể tiếp tục làm việc.”

Dưới đây là bài phỏng vấn cụ Châu Hữu Quang, do nhà báo TQ nổi tiếng Mã Quốc Xuyên thực hiện vào tháng 1/2011, nhân dịp cụ Quang tròn 105 tuổi.

“Muốn tiến lên, trước hết phải thoát ra khỏi vùng sai lầm”

Hỏi: Cụ sinh năm 1906, từng trải qua Phong trào Ngũ Tứ. Phong trào này có ảnh hưởng rất lớn tới giới trí thức, và đã có ảnh hưởng gì tới cụ?

Đáp: Không phải là Phong trào Ngũ Tứ ảnh hưởng tới giới trí thức mà giới trí thức đã ảnh hưởng tới Phong trào này. Giới trí thức có đóng góp lớn nhất vào Phong trào Ngũ Tứ. Phong trào đó không bỗng dưng xuất hiện mà hình thành từng bước. Bắt đầu từ cuộc Chiến tranh Thuốc phiện trở đi, hết cuộc xâm lược này đến cuộc xâm lược khác nhằm vào TQ, gây ra sự phẫn nộ của nhân dân, thức tỉnh ý thức cứu nước. Về kinh tế, có phong trào Dương Vụ, gây mầm mống cho nền công nghiệp trong thời gian Thế chiến I. Về chính trị, có cuộc Duy Tân 100 ngày của Khang Hữu Vi, cuộc Cách mạng Tân Hợi của Tôn Trung Sơn, lật đổ đế chế, thành lập Dân Quốc. Về văn hóa có phong trào đề xướng Quốc ngữ, Thiết Âm Tự,[1] “Nói thế nào viết thế ấy”. Ngày 4 tháng 5 năm 1919, được kích thích bởi sự kiện Nhật xâm lược TQ, trào lưu tư tưởng mới dâng tràn trở thành phong trào cứu nước có tính toàn quốc. Phong trào Ngũ Tứ đã có ảnh hưởng tới giới trí thức về sau.

Thời Ngũ Tứ, tôi sắp tốt nghiệp tiểu học, theo thầy giáo đến quán trà diễn thuyết. Vì tôi thấp bé, khách không nhìn thấy. Một ông khách bèn bế tôi lên đứng trên bàn để diễn thuyết. Lúc ấy không khí quán trà sôi động hẳn lên.

Hỏi: Trước và sau Phong trào Ngũ Tứ, trào lưu tư tưởng cấp tiến truyền vào TQ, nhất là những năm 30-40, nhiều nhà trí thức ngả về phía tả. Cụ cho rằng đâu là nguyên nhân của sự chuyển hướng đó, có những bài học lịch sử nào đáng được tổng kết?

Đáp:  Mọi người đều phản đối sự chuyên chế của Đảng Quốc Dân. Đảng Cộng sản TQ (ĐCSTQ) thì truyên truyền đòi dân chủ. Thế là giới trí thức chuyển hướng về phía tả. Trong thời kỳ kháng chiến chống Nhật, Đảng Quốc Dân thành lập Hội nghị Hiệp thương chính trị (Chính Hiệp, tồn tại cho tới nay). Chu Ân Lai đại diện ĐCSTQ tham gia Chính Hiệp, ông thường xuyên làm việc ở Trùng Khánh. Tháng nào ông cũng tổ chức tọa đàm, mời một hai chục người dự, bàn chuyện quốc gia đại sự. Hứa Địch Tân (nhà kinh tế) thư ký của Chu Ân Lai là bạn tôi. Lần tọa đàm nào tôi cũng đến dự. Chu Ân Lai thường nói ĐCS chúng tôi chủ trương dân chủ. Mọi người đều biết “Cuộc đối thoại nhà hang”[2] của Mao Trạch Đông nói rõ ĐCS phải đi con đường dân chủ. Hồi ấy mọi người tưởng thật.

Hỏi:  Sau ngày lập quốc, Mao Trạch Đông đề xuất phải cải tạo các nhà trí thức cũ.

Đáp:  Hồi ấy Mao Trạch Đông “ngả về phía” [nguyên văn Nhất biên đảo] Liên Xô, nơi giới trí thức bị phủ nhận, TQ cũng phủ nhận giới trí thức. Danh nghĩa là cải tạo, thực tế là tiêu diệt.

Liên Xô đuổi các nhà trí thức cũ lên ở vùng đất phía bắc Vòng Bắc Cực [arctic circle]. Đến khi Khrushchev lên cứu họ thì quá nửa đã chết. Thời kỳ Cách mạng Văn hóa, Chính phủ TQ đưa các nhân viên cơ quan trực thuộc Chính phủ đến Trường Cán bộ mồng 7 tháng 5[3] ở bãi hoang Bình La Tây thuộc tỉnh Ninh Hạ và quy định mọi người phải thề mãi mãi không về nhà. Sau khi Lâm Bưu chết [13/9/1971], mọi người mới về nhà.

Hỏi: Vì sao sau năm 1949 giới trí thức gặp nhiều nỗi gian truân như vậy? Là một nhà trí thức đi ra từ thời đại đó, cụ đánh giá ra sao về đoạn lịch sử ấy?

Đáp:  Gần đây các học giả trong ĐCSTQ nói nỗi gian truân của giới trí thức TQ là do nước Nga đưa đến. Các học giả lịch sử cho rằng Liên Xô là vùng sai lầm lịch sử của nước Nga; “Nhất biên đảo” [về phía Liên Xô] là sai lầm lịch sử của TQ. Muốn tiến bộ thì trước tiên phải rút ra khỏi vùng sai lầm.

Hỏi: Gần đây có sự đánh giá tương đối cao về những năm 1980, có người nói đây là “Cuộc khai sáng lần thứ hai” sau Phong trào Ngũ Tứ. Cụ đánh giá như thế nào về “Thập niên 80”?

Đáp: Cải cách mở cửa thì tốt hơn thời đại Mao Trạch Đông. Nhưng kinh tế đã được cải cách mà chính trị thì chưa cải cách. Các học giả nước ngoài nghiên cứu vấn đề này nói: Cơ cấu xã hội TQ đã đạt được tới tình trạng thời Duy tân Minh Trị, nửa phong kiến, nửa tư bản. TQ muốn đuổi kịp Nhật còn phải đi một chặng đường rất dài nữa.

 “Dám nổi giận nhưng không dám nói”

Hỏi: Khái niệm “Người trí thức” đến từ phương Tây, từ này không có trong lịch sử TQ. Năm 1921, ĐCS thành lập, trong Điều lệ Đảng mới chính thức dùng hai từ “Người trí thức” và “Tầng lớp trí thức”. Năm 1933, Chính phủ dân chủ công nông trung ương ở khu căn cứ địa cách mạng của ĐCS đã quy định rõ ràng người trí thức là một tầng lớp xã hội, thuộc vào “Người lao động trí óc”.

Đáp: Tại các nước tư bản tôi đã đi qua, tôi chưa nghe thấy người ta bàn về vấn đề người trí thức hoặc người lao động trí óc thuộc tầng lớp nào. Họ cố gắng làm cho mọi người đều được hưởng giáo dục đại học. Giai cấp trung lưu ở Mỹ chiếm 80% số dân toàn quốc, đều là người trí thức. Họ có vấn đề giáo dục chứ không có vấn đề người trí thức.

Hỏi: Liên Xô tuy đã tan rã nhưng cho tới nay vẫn ảnh hưởng tới TQ, kể cả cái gọi là “vấn đề người trí thức” do Liên Xô tạo ra.

Đáp: Mao Trạch Đông có một thời từng muốn kế thừa Stalin làm người dẫn đầu Quốc tế Cộng sản. Về sau các nước XHCN chỉ trích lẫn nhau, tôi không thừa nhận anh, anh không thừa nhận tôi. Các sử gia ấn định một tiêu chuẩn hòa cả làng: Ai tự xưng là XHCN thì thừa nhận họ là XHCN. Thời Liên Xô có 40 nước tự xưng là XHCN. Hiện nay [năm 2011] chỉ còn lại 6 nước: TQ, Triều Tiên, Việt Nam, Lào, Cuba, Libya.

Hỏi: Giới trí thức TQ những năm gần đây có hình ảnh tổng thể không tốt đẹp. Thậm chí có người phê bình các nhà trí thức hiện nay, nhất là trí thức ở các trường đại học và cơ quan nghiên cứu, đã bị quyền lực và lợi ích “mua chuộc rồi”. Cụ có đồng ý với nhận xét ấy không?

Đáp: Theo tôi họ chưa bị mua chuộc. Ít nhất là phần lớn họ chưa bị mua chuộc. Họ không dám nói thật lòng, không phải là họ thích nói dối, mà là họ “dám nổi giận mà không dám nói”. Nếu có một ngày người nói không có tội thì họ sẽ thổ lộ những lời nói thật lòng.

Hỏi: Trong những lời phê bình, người trí thức trong các cơ quan giáo dục bị phê bình nhiều hơn cả. Theo cụ, ngành giáo dục TQ có những vấn đề tồn tại nào?

Đáp:  Cải cách mở cửa đã đưa khoa học tự nhiên vào TQ nhưng chưa đưa khoa học xã hội vào, trừ kinh tế học là một ngoại lệ. Nếu mở cửa tiếp, đưa khoa học xã hội vào, kể cả giáo dục học, thì tình hình sẽ thay đổi.

“Tri thức ko có biên giới, người trí thức cũng không có biên giới”

Hỏi: Nhà trí thức ngày nay có gì khác với “sĩ 士» thời cổ?

Đáp:  Thời cổ chỉ có nhà trí thức truyền thống của TQ, lối ra của “sĩ” chủ yếu là làm quan, “Học giỏi thì làm quan (Học nhi ưu tắc sĩ)”. Người trí thức ngày nay vừa phải có tri thức truyền thống của nước mình lại vừa phải có tri thức quốc tế hiện đại, diện hiểu biết mở rộng nhiều, việc làm cũng đa dạng. Thời cổ có rất ít người trí thức. Hiện nay có hàng triệu sinh viên đại học, tình hình hoàn toàn khác trước.

Hỏi: Người trí thức nên giữ mối quan hệ như thế nào với chính trị?

Đáp: Trong thời đại toàn cầu hóa, chính trị học đã trở thành một khoa học, công tác chính trị đã trở thành công tác quản lý khoa học, tách khỏi tôn giáo và giáo điều. Chúng ta còn biết quá ít về sự thay đổi mới này. Nghiên cứu mối quan hệ giữa người trí thức với chính trị, trước tiên phải hiểu rõ tình hình mới của thời đại toàn cầu hóa.

Hỏi: Người trí thức TQ khác người trí thức nước ngoài ở những điểm nào?

Đáp:  Nếu được hưởng nền giáo dục như người trí thức các nước tiên tiến đã hưởng thì người trí thức TQ sẽ không có những khác biệt cơ bản nào với người trí thức nước ngoài. Tri thức không có biên giới, người trí thức cũng không có biên giới. Người trí thức có quốc tịch nhưng không có biên giới quốc gia. Người trí thức nên có tính quốc tế. Tôi có viết một bài báo với tiêu đề “Tính nhất nguyên của khoa học”. Sau giải phóng, quan điểm “Khoa học có tính giai cấp” từ Liên Xô truyền vào TQ; về sau quan điểm đó đã biến mất cùng với sự biến mất của Liên Xô.

Hỏi: Nói cụ thể về TQ ngày nay, người trí thức nên quan tâm những vấn đề gì? Nên có tinh thần như thế nào?

Đáp:  Trong thời đại toàn cầu hóa, nên tiến lên theo khoa học và dân chủ của thời đại toàn cầu hóa. Phải có thể suy nghĩ độc lập, phải hiểu lịch sử và sự tiến triển của toàn cầu hóa.

Người trí thức phải có nhân cách độc lập. Tri thức là động lực tiến hóa của loài người. Người trí thức vừa phải phục vụ giai cấp tư sản lại vừa phải phục vụ giai cấp vô sản, vừa không phải là nô lệ của giai cấp tư sản lại cũng chớ làm bạo chúa của giai cấp vô sản. Độc lập hành động, tự do tự tại, tự hiểu biết, tạo dựng nhân cách độc lập của mình.

Hỏi: Theo cụ thì hiện nay số người trí thức TQ kiên trì khoa học, dân chủ có nhiều không?

Đáp:  Theo tôi là rất nhiều. Ai cũng biết thế nào là đúng sai. Chỉ có điều họ ngậm miệng không nói, vì để khôn ngoan giữ mình.

Hỏi: Hiện nay một số người trí thức cho rằng có tồn tại “Mô hình Trung Quốc”. Cụ thấy thế nào?

Đáp:  Có nghe thấy hai quan điểm. Một quan điểm nói TQ thực hành kinh tế thị trường thành công, Việt Nam bắt chước TQ cũng thành công. Mô hình TQ là “Từ kinh tế kế hoạch đến kinh tế thị trường”. Một quan điểm khác nói: Mỹ suy thoái rồi, TQ sẽ thay Mỹ trở thành mô hình toàn cầu. Một mô hình chẳng có ai bắt chước thì mô hình ấy không tồn tại.

Hỏi: Có người nói không được tùy tiện làm dân chủ, đã dân chủ là rối loạn. Nước Mỹ mỗi lần bầu cử đều rối bời bời. Cụ thấy thế nào?

Đáp:   Liên Xô tan rã, mọi người bình tĩnh, im hơi lặng tiếng, không chút rối loạn. Ông muốn cái không rối loạn của Liên Xô hay là cái đại loạn của Mỹ?

Hỏi: Khác với một số nước trên thế giới vẫn nhấn mạnh sự khác nhau giữa các quốc gia dân tộc, châu Âu bắt đầu phá vỡ giới hạn giữa các quốc gia dân tộc, Liên minh châu Âu nhất thể hóa. Đây là thành công hay thất bại?

Đáp:  Châu Âu hai lần đại chiến, xã hội vô cùng rối ren, lòng dân hướng về thái bình yên ổn. Liên minh châu Âu [EU] nhất thể hóa giành được thành công vĩ đại. EU là sự phát triển mới của chế độ dân chủ còn đang tiếp tục tiến lên. Các du khách châu Á hỏi dân Pháp, Đức: Các bạn sẽ còn đánh cuộc đại chiến lần thứ ba hay không? Trả lời: Không. Hỏi: Tại sao không? Đáp: Trước đây hai nước đánh xe chạy trên cùng một con đường, anh đi bên trái, tôi đi bên phải, xe đâm nhau !  Bây giờ mọi người cùng đi phía bên phải, xe không đâm nhau nữa.

Hỏi: Xem ra cụ tuổi cao nhưng không bi quan. Mọi việc rồi sẽ dần dần trở nên tốt đẹp chăng? Có người nói sau đây ba chục năm TQ sẽ thực hiện dân chủ. Lẽ nào thật sự còn phải chờ ba chục năm nữa ư?

Đáp:  Ba chục năm không coi là lâu. TQ có lịch sử 5 nghìn năm kia mà!

Hỏi: Cùng với sức mạnh kinh tế của TQ ngày càng tăng lên, một tâm trạng lạc quan đang lan tràn trong nước chúng ta, một bộ phận thanh niên cũng có tình cảm chủ nghĩa dân tộc khá mạnh. Là một người già trăm tuổi từng chứng kiến sự đổi thay của lịch sử, đề nghị cụ nói một câu với tầng lớp thanh niên TQ.

Đáp:  Được thôi. “Trong thời đại toàn cầu hóa, phải từ thế giới nhìn TQ, chớ nên từ TQ nhìn thế giới.”

(Ghi chú của Mã Quốc Xuyên: Cụ Châu Hữu Quang đã đọc và tự tay chỉnh sửa bài này. Cuộc phỏng vấn nói trên được sự giúp đỡ của ông Châu Tiểu Bình con trai cụ Quang và ông Trương Thâm Căn ở Viện Nghiên cứu Khoa học Xã hội TQ).

Nguồn: 周有光:中国模式如此成功 为何无人模仿?[Châu Hữu Quang: Mô hình TQ thành công như thế sao không ai bắt chước?”] 2011年01月03日china.com.cn

Mã Quốc Xuyên

Biên dịch: Nguyễn Hải Hoành

—————–

[1] “Thiết Âm Tự”, nghĩa là Chữ phiên âm, một phong trào nghiên cứu sáng chế các phương án phiên âm Hán ngữ bằng chữ Latin hoặc các loại ký hiệu khác.

[2] Trường Cán bộ mồng 7 tháng 5: tên gọi hệ thống trường thành lập theo Chỉ thị ngày 7/5/1966 của Mao Trạch Đông, là các nông trường tại các tỉnh hẻo lánh, tập trung cán bộ cơ quan Đảng-Chính phủ và các nhà trí thức để lao động cải tạo, học tập tư tưởng Mao Trạch Đông. Ngày 12/2/1979, Chính phủ TQ ra lệnh giải tán các trường đó, cho mọi người về cơ quan cũ.

[3] Nguyên văn Hán-Việt là “Dao Động Đối”, tức cuộc đối thoại giữa Mao Trạch Đông với Hoàng Viêm Bồi (Tham chính viên của Chính phủ Quốc dân Tưởng Giới Thạch) năm 1945 khi Hoàng đến thăm Mao ở Diên An. Trong đó, Mao nói ĐCSTQ chủ trương phát huy dân chủ, chỉ khi nào nhân dân giám sát chính phủ thì chính phủ mới không lơ là công việc.  “Dao động” là nhà hang, tức nhà khoét vào vách đồi, dân miền Tây Bắc TQ thường làm nhà ở kiểu này để chống rét. “Đối” là đối thoại.

(Nghiên Cứu Quốc Tế)
 
Top ↑ Copyright © 2016. Tiến Bộ - All Rights Reserved
Back To Top ↑