Tin Tức Cập Nhật 24/7

Chờ Chánh Án John Roberts phán xử Tổng Thống Donald Trump?


Nhiều tiểu bang, và cả các cá nhân, sẽ kiện ông tổng thống khi ông chuyển tiền ngân sách (đáng lẽ đem chi cho họ hưởng) đem dùng để xây tường. Ông Xavier Becerra, Bộ Tư Pháp California sẽ đi hàng đầu.

Chánh Án Tối Cao Pháp Viện John Roberts. (Hình: Getty Images)

Một số luật sư của Tòa Bạch Ốc cho biết Tổng Thống Donald Trump có thể kiếm chỗ này, chỗ khác trong ngân sách, thế nào cũng đủ $7 tỷ hay $8 tỷ để xây bức tường biên giới; mà không cần phải công bố tình trạng khẩn trương.

Nhưng làm như vậy thi “yếu” quá! Chắc chắn ông Trump không bao giờ chấp nhận “đi cửa hông” như vậy. Ông phải bước vào cửa chính, thay đổi mấy món chi tiêu, đem ra xây tường. Ông Trump không bao giờ chấp nhận là mình “yếu” hoặc “có vẻ yếu.”

Nếu không tuyên bố “đất nước lâm nguy” để ra lệnh đem tiền ra xây tường biên giới, thì ông Trump coi như chịu thua. Năm ngoái, đảng Dân cHủ đã chấp nhận $1.6 tỷ để bắt đầu xây tường. Lúc đó, Hạ Viện vẫn do đảng Cộng Hòa kiểm soát, ông Trump không chịu con số đó, đòi gấp đôi. Cuối cùng, chẳng ai lo chuyện tiền xây tường nữa vì còn nhiều chuyện tranh cử thú vị hơn.

Đầu năm nay, đảng Dân Chủ chiếm đa số ở Hạ viện. Họ biểu quyết $1.3 tỷ cho bức tường. Ông Trump đòi $5.7 tỷ, nếu không thì không ký ban hành ngân sách. Ông tuyên bố sẽ hãnh diện đóng cửa chính phủ khi ngân sách cũ hết hạn. Quốc Hội xin mở cửa tạm, ông lắc đầu. 800 ngàn người trong guồng máy nhà nước nghỉ không lương 35 ngày, dài kỷ lục.

Cuối cùng, ông Trump chấp nhận mở cửa, để hai đảng trong Quốc Hội tìm cách thỏa hiệp với nhau. Sau mấy tuần tranh luận, họ đã bỏ phiếu một ngân sách thỏa hiệp, nhưng chỉ dành $1.375 tỷ cho ông tổng thống xây tường thôi.

Nếu chấp nhận con số tép riu này mà không làm chi hết; ông tổng thống sẽ mất mặt. Nhưng ông cũng không thể bác bỏ dự luật ngân sách, vì chính phủ sẽ đóng cửa lần nữa. Nhưng ông Trump vẫn thủ trong tay lá bài chót!

Thứ Sáu, ông đứng ra báo động với dân Mỹ là đất nước đang đứng trước một mối nguy chưa từng có: Hàng ngàn di dân Trung Mỹ đang kéo tới biên thùy chờ đến lượt xin vào tị nạn tại nước Mỹ. Đó là một mối đe dọa, một cuộc khủng hoảng, cho nên, phải tuyên bố “tình trạng khẩn trương trên toàn quốc” (national emergency) để đối phó!

Thắc mắc đầu tiên là: Tổng thống Mỹ có quyền đó không?

Có. Một đạo luận năm 1976 cho phép ông tổng thống tuyên bố “tình trạng khẩn trương.” Kẹt một điều là cả đạo luật đó không định nghĩa thế nào thì coi là một “tình trạng khẩn trương?” Tuy nhiên, điều đó không cấm các vị tổng thống thi hành. Có 58 tình trạng khẩn trương đã được ban hành, trong đó có 31 vụ đến nay vẫn chưa chấm dứt. Điển hình là sau vụ khủng bố làm chết hơn 3,000 người ở New York ngày 11 Tháng Chín, 2001.

Nhưng công bố “tình trạng khẩn trương” để làm gì? Đạo luật cho phép chính phủ “du di” ngân sách, chuyển một số tiền qua dùng cho mục đích đối phó với tình trạng khẩn trương. Đó là điều Tổng Thống Trump đang nhắm tới.

Một điều các vị tổng thống hay làm là sử dụng các quỹ xây cất của quân đội, từ các chương trình cứu trợ thiên tai, bão lụt, vân vân. Nhặt nhạnh đây đó, mỗi nơi một tí, ông tổng thống sẽ đủ $7 tỷ hay $8 tỷ xây tường – ngoài số tiền $1.375 tỷ mà quốc hội đã chấp nhận để dựng 55 dặm hàng rào thép.

Tất nhiên, nhiều người đang chống lệnh khẩn trương của ông Trump.

Nhiều tiểu bang, và cả các cá nhân, sẽ kiện ông tổng thống khi ông chuyển tiền ngân sách (đáng lẽ đem chi cho họ hưởng) đem dùng để xây tường. Ông Xavier Becerra, Bộ Tư Pháp California sẽ đi hàng đầu.

Ông nói rằng ông tổng thống “ngụy tạo” một tình trạng khẩn trương không hề có. California có thể mất khá nhiều tiền chi viện để tái tạo các khu rừng bị cháy năm ngoái, nếu ông Trump thấy xây tường cần hơn.



Lực lượng chống lại lệnh của ông Trump mạnh nhất tất nhiên phát xuất từ đảng Dân Chủ ở Hạ Viện.

Một cách giản dị nhất cho đảng Dân Chủ là biểu quyết một dự luật cấm ông tổng thống không được “du di” những món tiền quốc hội đã biểu quyết dùng vào việc khác. Họ có đủ phiếu để thông qua dự luật này, nhưng chắc chắn sẽ thất bại ở Thượng Viện, đảng Cộng Hòa đang chiếm đa số. Dăm, ba nghị sĩ Cộng Hòa có thể chống vụ khẩn trương này, bỏ phiếu theo các nghị sĩ Dân Chủ. Nhưng khi ông Trump phủ quyết thì khó có được hai phần ba các đại biểu ở mỗi viện để chống lại ông.

Cho nên đảng Dân Chủ phải đi một con đường quanh co, theo đúng luật. Theo đạo luật 1976, nếu tổng thống ban bố tình trạng khẩn trương, quốc hội có nửa tháng để chính thức phản đối. Mỗi viện quốc hội biểu quyết một nghị quyết bác bỏ lệnh này. Khi Hạ viện làm nghị quyết xong, trong 18 ngày Thượng Viện phải đem ra bỏ phiếu, không được phép “ngâm.” Vị tổng thống có quyền phủ quyết và khi đó quốc hội mới có thể chính thức kiện ông tổng thống về tội lạm quyền.

Điều thứ nhất trong hiến pháp Mỹ trao quyền nắm túi tiền cho quốc hội. Họ biểu quyết các sắc thuế để thu tiền và các món chi tiêu của hành pháp; các đại biểu quốc hội đều ý thức về quyền hạn lớn lao này.

Khi đã tìm cách ngăn cản ông tổng thống không được, đảng Dân Chủ ở Hạ Viện có thể kiện ông Donald Trump ra tòa. Họ sẽ tố rằng ông tổng thống đã giành mất quyền chuẩn chi của quốc hội. Bình thường, đơn kiện sẽ nộp cho tòa án ở thủ đô, Washington, DC.

Liệu tòa án sẽ xử ra sao?

Năm 2015 đã có một tiền lệ. Hồi đó, đảng Cộng Hòa kiểm soát Hạ Viện, ông Chủ Tịch John Boehner đã kiện chính phủ Obama vì họ “du di” ngân sách để lấy tiền trả cho các nhà bảo hiểm tham dự Obamacare – trong khi Quốc Hội không hề biểu quyết các món tiền đó. Năm đó bà chánh án Rosemary Collyer đã nhiệt liệt bảo vệ vai trò “nắm túi tiền” của Quốc Hội. Bà bảo rằng nếu thẩm quyền này của Hạ viện bị vi phạm thì cả hệ thống hiến pháp ta rã! Cho nên bà phán chính phủ Obama không được phép “du di” ngân sách như họ muốn! Chính phủ Obama đã kháng cáo bản án này nhưng chưa được đưa lên tới Tối Cao Pháp Viện thì ông Obama đã hết nhiệm kỳ.

Như vậy thì đảng Dân chủ năm nay có hy vọng sẽ được tòa án Washington, DC đồng ý, như đảng Cộng Hòa hồi 2015?

Cũng không chắc. Vì hồi 2015 ông Obama không tuyên bố tình trạng khẩn trương. Và Tối cao pháp viện đã đưa ra mấy phán quyết gần đây cho thấy ông Trump có thể vững thế.

Một bản án mà Tối Cao Pháp Viện phán năm ngoái đã chấp thuận cho chính phủ Trump dùng chính sách di dân khó khăn với dân chúng một số quốc gia, đặc biệt là người Hồi Giáo. Các tòa án cấp dưới đều bác bỏ chính sách này, nhưng tháng Sáu vừa qua, Tối Cao Pháp Viện đã cho ông Trump thắng với tỷ số 5-4.

Năm vị thẩm phán phe đa số lý luận rằng hiến pháp và luật pháp trao cho vị tổng thống quyền hành trên những vấn đề như di dân và an ninh quốc gia; trong đó có quyền quyết định một người ngoại quốc vào nước Mỹ có hại cho an ninh quốc gia hay không. Các vị thẩm phán đa số nêu quy tắc “tôn kính” quyền quyết định của người đứng đầu hành pháp.

Nếu quy tắc trên vẫn được nêu ra, thì ông Trump có thể thắng khi vụ này đưa lên tới Tối cao pháp viện. Các vị thẩm phán bảo thủ mới được tăng cường với ông Brett M. Kavanaugh.

Nhưng người ta khó đoán được lá phiếu của ông Chánh Án Tối Cao John Roberts. Ông Roberts đã chấp nhận lý luận của chính phủ Trump khi từ chối không xóa bỏ lệnh về người di dân Hồi Giáo, vì coi đây là một vấn đề di dân mà không phải tôn giáo. Nhưng ông tỏ ra rất độc lập với chính quyền, kể cả những người cùng đảng Cộng Hòa với ông. Ông đã hai lần “cứu” đạo luật y tế của Tổng Thống Obama, dù đảng Cộng Hòa chỉ muốn xóa hết.

Trong vụ Đảng Dân chủ kiện lệnh ban hành tình trạng khẩn trương của ông Trump, ông Roberts sẽ đóng vai trọng tài giữa Hành Pháp và Lập Pháp. Ông có thể đồng ý với Hành Pháp nếu dựa trên nguyên tắc nói rằng ông tổng thống được trao quyền điều khiển quốc gia, cho nên ông ta là người có thẩm quyền nhất để nói tình trạng quốc gia có bị nguy hiểm hay không.

Ngược lại, ông Roberts cũng có thể theo tinh thần một án lệ nổi tiếng năm 1952, thời Tổng Thống Harry Truman. Lúc đó Mỹ đang dự cuộc chiến tranh Hàn Quốc, và ông Truman ban bố tình trạng khẩn trương, ra lệnh “trưng thu” một số nhà máy thép ở Youngstown, để bảo vệ nguồn vật liệu chiến tranh, trước mối lo công nhân đình công sẽ gây đình trệ.

Trong vụ này, Tối Cao Pháp Viện đã ngăn cản Tổng Thống Truman không cho phép ông dùng tình trạng khẩn trương. Tòa án lý luận rằng khi Quốc hội đã từ chối không hành động một điều gì (ở đây là việc trưng thu các nhà máy) thì hành pháp không có quyền làm điều đó.

Nếu áp dụng tinh thần của phán quyết Youngstown, thì chánh án Roberts có thể sẽ nghiêng về phía bên đứng kiện, là đảng Dân Chủ. Vì trong vụ Youngstown, Quốc Hội chỉ không ra lệnh tịch thu nhà máy thôi, còn trong vụ xây tường bây giờ quốc hội đã minh xác họ không chấp nhận chi tiền để xây tường!

Tất cả sẽ chờ Chánh Án John Roberts.


Ngô Nhân Dụng
Người Việt

Huawei, mối đe dọa cho an ninh quốc gia của Việt Nam


Trang kinh tế của Nhật Bản Nikkei, vào ngày 14/2/2019 đưa tin nói rằng Tổng giám đốc tập đoàn công nghệ viễn thông Hoa Vĩ của Trung Quốc, phụ trách khu vực Việt Nam, ông Phạm Quân, nói ông tin rằng Hoa Vĩ sẽ thắng thầu việc cung cấp loại công nghệ 5G cho hệ thống truyền thông tại Việt Nam.

Bà Mạnh Vãn Chu, Giám đốc tài chính của Hoa Vi, sau khi làm thủ tục tại ngoại hầu tra. Canada 12/2018.


Nhấp vào nút play (►) dưới đây để nghe
Trong khi đó Hoa Vĩ lại đang gặp rất nhiều khó khăn tại các quốc gia phát triển như Úc, Châu Âu, Bắc Mỹ.

Hoa Vĩ, trên giấy tờ là một công ty tư nhân của Trung Quốc, được thành lập vào năm 1987 tại Thẩm Quyến, Trung Quốc. Thành lập công ty này là một viên sĩ quan kỹ sư của quân đội giải phóng Trung Quốc.

Hoa Vĩ đã phát triển rất nhanh, không chỉ có mặt ở các nước đang phát triển mà còn tham gia vào các vụ đấu thầu cung cấp trang thiết bị viễn thông cho các quốc gia phát triển ở Châu Âu, Bắc Mỹ, Úc châu.

Nhưng trong khoảng vài năm trở lại đây Hoa Vĩ bị các quốc gia này tình nghi rằng dù là công ty tư nhân nhưng thực chất Hoa Vi có liên hệ mật thiết với nhà nước của Đảng Cộng sản Trung Quốc, và vì thế có khả năng Đảng Cộng sản Trung Quốc lợi dụng việc Hoa Vĩ cung cấp trang thiết bị cho các nước trên để cài đặt các thiết bị do thám.

Hoa Vĩ luôn phủ nhận việc này, nhưng áp lực lo ngại do thám từ các quốc gia này không giảm đi mà ngày càng tăng.

Kỹ sư công nghệ thông tin Hoàng Ngọc Diêu, làm việc tại Úc nói với đài RFA:

“Nó có những biểu hiện rất đáng nghi ngờ là cài đặt những con chip để thu gặt những thông tin riêng tư. Vì nó đã liên quan đến an ninh quốc gia như vậy cho nên phải cân nhắc chứ không chỉ tính đơn thuần về kinh tế. Vì thế ở Úc Hoa Vi không được chính phủ Úc cho phép triển khai hệ thống 5G tại Úc nữa.”

Vào tháng 8/2018 chính phủ Úc chính thức cấm Hoa Vĩ tham gia vào việc cung cấp thiết bị viễn thông cho nước này. Chính phủ Úc viện cớ rằng Hoa Vĩ có liên hệ mật thiết với chính phủ Trung Quốc, mà theo luật pháp Úc, việc một công ty có quan hệ mật thiết với một chính phủ nước ngoài sẽ nằm trong sự quan ngại và điều tra về an ninh quốc gia.

Vì nó đã liên quan đến an ninh quốc gia như vậy cho nên phải cân nhắc chứ không chỉ tính đơn thuần về kinh tế.

-Kỹ sư Hoàng Ngọc Diêu
Tờ báo chuyên về tài chính Financial Times dẫn nguồn tin từ Anh nói rằng vào tháng 7/2018, cơ quan nghiên cứu chống tin tặc của nước này nói rằng họ không thể bảo đảm việc chống tin tặc và do thám xung quanh những thiết bị của Hoa ĩi ở Anh.

Tại Canada, chính phủ của Thủ tướng Justin Trudeau cũng đang chịu áp lực rất lớn là phải loại bỏ Hoa Vĩ ra khỏi cơ sở hạ tầng viễn thông của nước này vì mối lo ngại gián điệp.

Luật sư Vũ Đức Khanh từ Canada cho RFA biết:

“Quan điểm của các đảng chính trị cũng như những nhà nghiên cứu về an ninh ở Canada đều cho rằng việc cấm Hoa Vi là điều nên làm, vì điều đó ảnh hưởng đến an ninh và mối quan hệ sâu sắc giữa Canada và Mỹ. Ngay cả hệ thống phòng thủ chung cho cả Bắc Mỹ gọi là Norad, rất có quan hệ đến vấn đề viễn thông.”

Canada đang đứng giữa Mỹ và Trung Quốc trong vụ căng thẳng kinh tế chính trị liên quan đến Hoa Vĩ từ tháng 12/2018 khi Ottawa bắt giữ bà Mạnh Vãn Chu, Giám đốc tài chính của Hoa Vi để dẫn độ sang Mỹ, với lý do là công ty này lẫn tránh việc cấm vận kinh tế Iran do Mỹ dẫn đầu.

Theo đánh giá của luật sư Vũ Đức Khanh, rất chắc chắn rằng Canada sẽ theo chân Úc, châu Âu, Mỹ để cấm Hoa Vĩ, và một quyết định quan trọng về công ty này sẽ được đưa ra vào giữa tháng ba tới đây.

Tại Mỹ, vào tháng 8/2018 chính phủ đã ra lệnh cấm các cơ quan chính phủ sử dụng các điện thoại do Hoa Vĩ sản xuất.

Hình minh hoạ. Logo của Hoa Vi trên một toà nhà của Hoa Vi ở tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc hôm 18/12/2018 AFP
Đến tháng 2/2019, Đại học Berkerley tại California đã hủy bỏ một chương trình nghiên cứu do Hoa Vĩ cung cấp tài chính, mặc dù trường đại học của tiểu bang California này thường bị khó khăn về tài chính.

Theo thống kê của một hãng tin tại Trung Đông, cho đến cuối năm 2018 có các quốc gia sau đây đã cấm, hoặc đang tính tới việc cấm Hoa Vĩ cung cấp thiết bị hạ tầng viễn thông: Mỹ, Canada, Úc, New Zealand, Ý, Đức, Ấn Độ, và Anh.

Tại Việt Nam, trong bản tin của tờ Nikkei, nói rằng ông Phạm Quân, Tổng giám đốc Hoa Vi Việt Nam, dẫn lời Bộ trưởng Bộ thông tin và truyền thông của Việt Nam Nguyễn Mạnh Hùng nói rằng Việt Nam mở cửa đối với tất cả các nhà cung cấp.

Chúng tôi có tìm cách liên hệ với ông Nguyễn Mạnh hùng để bình luận nhưng không được.

Tờ báo về kinh tế tại Sài Gòn là Thời báo kinh tế Sài Gòn có trích dịch lại bản tin của Nikkei, đồng thời làm một cuộc trưng cầu ý kiến độc giả về việc có nên chọn Hoa Vĩ làm nhà cung cấp thiết bị 5G cho Việt Nam hay không. Sau hai ngày, kết quả trưng cầu ý kiến cho thấy tuyệt đại đa số độc giả của tờ báo này không chấp nhận Hoa Vi (92%).

Luật sư Trần Quốc Thuận, nguyên chánh văn phòng Quốc hội Việt Nam, hiện sống tại Sài Gòn, cho RFA biết quan ngại của ông về Hoa Vĩ:

“Tôi thì tôi nghĩ rằng Việt Nam có đa dạng việc kinh doanh mua bán thế này thế kia thì cũng phải đừng để họ cài chip hoạt động gián điệp, làm nguy hại tới an ninh quốc gia, phải ngăn chận ngay từ đầu. Tôi nghĩ là bên Mỹ và bên châu Âu đã lên tiếng về an ninh quốc gia thì Việt Nam cũng nên lắng nghe. Nếu những nước đó họ chứng minh được thì Việt Nam cũng nên tẩy chay. Còn như mới nghi ngờ thì cũng phải làm sao cho dân an tâm, chứ không thể chỉ nói đây là kinh doanh. Kinh doanh này ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, và sự riêng tư nữa.”

Theo luật sư Vũ Đức Khanh và kỹ sư Hoàng Ngọc Diêu, Việt Nam ở một cái thế khác so với các quốc gia phát triển, vì ít sự lựa chọn hơn và bị áp lực quá mạnh từ Trung Quốc, cả về chính trị lẫn kinh tế.

Tôi nghĩ là bên Mỹ và bên châu Âu đã lên tiếng về an ninh quốc gia thì Việt Nam cũng nên lắng nghe.

-Luật sư Trần Quốc Thuận.
Sự lệ thuộc vào Trung Quốc hiện nay lại được nhiều người Việt Nam lo lắng hơn nữa trong lĩnh vực an ninh mạng. Trong một lần trao đổi với chúng tôi, Tiến sĩ Nguyễn Huy Vũ, một chuyên viên kinh tế sống ở Na Uy lo ngại rằng nếu các đại công ty về internet của phương Tây, như Facebook và Google rút ra khỏi Việt Nam thì các công ty Trung Quốc sẽ thế chân vào, và các công ty Trung Quốc này sẽ không bị những cản trở như phương Tây trong việc do thám, thu thập thông tin cá nhân người dùng

Luật sư Vũ Đức Khanh, đồng thời cũng là Phó Tổng thư ký Đảng Dân chủ Việt Nam, nói với RFA:

“Tôi vẫn tin rằng có những người cộng sản chân chính tại Việt Nam không bao giờ có ý tưởng thần phục Trung Quốc.”


An ninh quốc gia tại Việt Nam cho tới hiện nay vẫn là một khái niệm gây tranh luận, trong đó nhiều nhà hoạt động xã hội và môi trường bị bắt bỏ tù về những hoạt động cũng như phát biểu của mình bị nhà cầm quyền xem là nguy hại tới an ninh quốc gia, nhưng giới bất đồng chính kiến thì cho rằng không đúng.

Nay nếu vấn đề an ninh quốc gia được nhà nước Việt Nam đưa ra cùng với quan ngại về nghi án gián điệp của Hoa Vĩ trên khắp thế giới, thì hẳn điều này dễ dàng được mọi người Việt Nam với những quan điểm chính trị khác nhau cùng đồng ý.


Kính Hòa
RFA

‘Người nghèo vay tiền… cất ống nứa’?


Một trong những nơi đầu tiên mà ông Nguyễn Xuân Phúc chọn làm việc trong ngày đầu tiên sau đợt nghỉ Tết âm lịch vừa qua là Ngân hành Chính sách xã hội (tên giao dịch tiếng Anh là Vietnam Bank for Social Policies - VBSP).

VBSP phải vừa cho vay, vừa hướng dẫn làm giàu, “không để người nghèo vay tiền cất ống nứa, bỏ gác bếp”.

Tại đó, ông Phúc chỉ đạo VBSP rằng, bởi ngân hàng này là “cánh tay nối dài của đảng, nhà nước đến người nghèo, đối tượng chính sách” nên VBSP phải vừa cho vay, vừa hướng dẫn làm giàu, “không để người nghèo vay tiền cất ống nứa, bỏ gác bếp” (1).

Chẳng lẽ ở Việt Nam có những người nghèo “vay tiền cất ống nứa, bỏ gác bếp”, thậm chí điều này phổ biến tới mức ông Phúc phải nhắc nhở VBSP? Nghèo mà “vay tiền cất ống nứa, bỏ gác bếp” rõ ràng là phi thường, lịch sử nhân loại từ cổ chí kim hẳn chưa từng có!

***

Năm 1995, chính quyền Việt Nam thành lập một ngân hàng chuyên “phục vụ người nghèo”. Tuy nhiên Ngân hàng Phục vụ người nghèo chỉ soạn thảo chính sách hỗ trợ người nghèo, nhận ngân sách rồi giao cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank) thực hiện các “nghiệp vụ” liên quan đến “phục vụ người nghèo”.

Lúc đầu (1988), Agribank nổi tiếng vì là doanh nghiệp nhà nước dạng đặc biệt, đứng đầu hệ thống ngân hàng thương mại bởi có tổng khối lượng tài sản lớn nhất Việt Nam. Sau này, Agribank nổi tiếng vì đứng đầu về tỷ lệ nợ xấu (nợ không có khả năng thu hồi cả vốn lẫn lãi).

Từ thập niên 2000 đến nay, lãnh đạo các cấp của Agribank (từ Tổng Giám đốc, Phó Tổng giám đốc của toàn bộ hệ thống Agribank trở xuống) bắt đầu xuất hiện trong các đại án kinh tế. Đại án kinh tế nhiều như nấm và đại án nào, thiệt hại của Agribank cũng nằm trong khoảng từ vài trăm… tỉ đến vài ngàn… tỉ.

Agribank họat động theo kiểu như thế thì làm gì còn cửa nào “phục vụ người nghèo”. Năm 2002, chính quyền Việt Nam quyết định tách toàn bộ “nghiệp vụ” của Ngân hàng Phục vụ người nghèo ra khỏi Agribank, đổi tên ngân hàng này thành Ngân hàng Chính sách xã hội (VBSP), có bộ máy riêng, các chi nhánh rải đều trên toàn quốc.

Bởi được xem là một trong những công cụ nhằm “không để ai bị bỏ lại phía sau” trên con đường thực hiện “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, “xóa đói, giảm nghèo” một cách… bền vững, VBSP được cấp thêm vốn, không cần đạt tỉ lệ dự trữ bắt buộc, không phải mua bảo hiểm cho các khoản tiền gửi, miễn thuế và nộp ngân sách.

Theo quảng cáo của VBSP thì ngân hàng này có tới 23 chương trình cho vay. Bởi mục tiêu cao cả của VBSP, một số chương trình cho vay được các định chế tài chính quốc tế hỗ trợ vốn: Cho vay để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ được Ngân hàng Tái thiết Đức – KfW – hỗ trợ. Phát triển lâm nghiệp được Ngân hàng Thế giới – WB – hỗ trợ (2).

Năm 2017, nhân dịp kỷ niệm 15 năm ngày thành lập, VBSP loan báo, tổng vốn đã xấp xỉ 180 ngàn tỉ, đã cho vay 169 ngàn tỉ. Nhờ sự hiện diện của VBSP, có tới 31,8 triệu lượt gia đình nghèo và đối tượng chính sách được vay vốn và hơn 4,5 triệu gia đình đã vượt qua ngưỡng nghèo.

VBSP được tặng Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng Huân chương Lao động hạng Nhất. Còn Chính phủ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì tặng bằng khen của Thủ tướng cho 29 tập thể, cá nhân “đạt thành tích xuất sắc trong triển khai chương trình tín dụng chính sách” (3).

Cả nhà nước lẫn chính phủ đều không nhớ Kết luận của Thanh tra chính phủ. Theo đó, VBSP vướng hàng loạt sai phạm: Cho vay không đúng đối tượng. Sử dụng vốn vay sai mục đích. Vi phạm các qui định về đấu thầu khi thực hiện các dự án đầu tư phục vụ người nghèo, từ chọn thầu tới thanh toán (trả nhiều hơn khối lượng thực tế) (4)…



Cả nhà nước lẫn chính phủ đều không thấy, người nghèo ở Việt Nam… “quên” rằng, hệ thống chính trị, hệ thống công quyền Việt Nam đã thiết lập và dùng một khoản ngân sách không nhỏ để duy trì định chế VBSP “phục vụ” họ, giải thoát họ khỏi đói nghèo, giữ cho con họ khỏi thất học, thân nhân họ khỏi uổng tử chỉ vì không có tiền chạy chữa,...

Tại sao mỗi khi cần tiền để trang trải các khoản chi phí đột nhiên phát sinh lúc thắt ngặt như chôn cất người thân, kể cả khi cần một khoản vốn rất nhỏ để mưu sinh, người nghèo ở Việt Nam lại đi tìm du đãng, vay với lãi suất… 365%/năm (5)? Tại sao du đãng ở Việt Nam sinh sôi, nảy nở, lộng hành như hiện nay?

Thống kê – quảng bá thành tích của VBSP, sao không tìm, tính cho đủ số cá nhân, gia đình dùng tất cả mọi thứ mình có để trả lãi vẫn không sạch nợ “tín dụng đen”, cuối cùng trốn chui, trốn nhủi nhưng hiếm khi thoát, bị du đãng làm nhục, thậm chí bị bắt, bị tra tấn đến tàn phế, mất mạng? VBSP không có chút trách nhiệm nào trước thực trạng này?

***

Trước khi ông Phúc đến thăm VBSP chừng mươi ngày, cả mạng xã hội lẫn hệ thống truyền thông chính thức từng xôn xao về chuyện một thanh niên ở Bình Dương, liệng vào công thự của một phường ở thị xã Thuận An cái ba lô với 100 triệu đồng trong số 107 triệu đồng mà anh ta đã… cướp.

Trong thư gửi công an, nhờ hỗ trợ hoàn lại tài sản cho nạn nhân, anh ta kể rằng, bởi không có tiền, khi vợ sanh, anh ta phải vay “tín dụng đen”, lãi mẹ đẻ lãi con, tuyệt vọng vì không có cách nào thoát khỏi thòng lọng của “tín dụng đen”, anh ta đành làm cướp để mua lại sự an ổn cho gia đình của mình và chỉ dám “mượn” đủ số anh ta cần.

Ông Phúc có biết gì về hiện trạng người nghèo bị cuốn vào vòng xoáy “tín dụng đen” hay không? Có! Năm 2015, lúc trao Huân chương Lao động hạng Nhất cho VBSP và tặng 29 bằng khen của ông cho các cá nhân, tập thể của VBSP, ông Phúc từng khẳng định, VBSP chính là công cụ đẩy lùi tệ nạn cho vay nặng lãi.

Mới đây, khi đến làm việc với VBSP, ông Phúc nhấn mạnh, VBSP tạo điều kiện cho người nghèo tiếp cận tín dụng, “đẩy lùi tín dụng đen”. VBSP với Thống đốc Ngân hàng Nhà nước làm Chủ tịch Hội đồng Quản trị là biểu tượng thể hiện sự quan tâm của hệ thống chính trị, hệ thống công quyền đến người nghèo, đối tượng chính sách.

Trước vô số thảm nạn vì người nghèo thiếu tất cả những sự hỗ trợ cần thiết, cho dù Bộ Công an vừa thề “triệt phá tín dụng đen” (7), có người bình thường nào dám khơi khơi chỉ đạo: “Không để người nghèo vay tiền cất ống nứa, bỏ gác bếp”! Đó là lý do để buộc phải nhìn nhận, Thủ tướng Việt Nam quả là… phi thường!


Trân Văn
Blog VOA

Làm thế nào thoát cơn ‘khủng hoảng’ văn hóa đọc?


Từ ngày 15 đến 17-2-2019, Hội sách Mùa Xuân được tổ chức ở Hà Nội. Hoạt động văn hóa này nói riêng, cùng với sự bùng nổ ngành xuất bản nói chung, đã mang lại cảm giác rằng sách đang là một hình ảnh tích cực trong việc phát triển xã hội. Thực tế thảm hơn vậy và thảm hơn được nghĩ: Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ đọc sách kém nhất thế giới...

Từ hướng Nhà Thờ Đức Bà tới đường Hai Bà Trưng, bên trái là 20 gian hàng sách. Hình minh họa. [photo by Ngô Thế Vinh]

Theo tổng kết của Cục Xuất bản, năm 2018, ngành xuất bản tung ra gần 32.000 cuốn sách mới với hơn 390 triệu bản, tăng 20,6% so với năm 2017; đạt doanh thu 2.506 tỷ đồng; nộp ngân sách 187,15 tỷ đồng (tăng 71% so với năm 2017); lợi nhuận sau thuế của các nhà xuất bản đạt khoảng 212,34 tỷ đồng - tăng 11,5% so với năm 2017 (VietnamNet 26-1-2019). Tổng quát, “năm 2018, lượng sách ra thị trường tăng trên 20%, nhiều nhà xuất bản doanh thu cao, tất cả các đơn vị đều được đầu tư vốn, cơ sở vật chất và nhân sự đảm bảo hoạt động” (Zing 18-1-2019). Không chỉ thị trường sách, hoạt động thư viện cũng có vẻ “khởi sắc”. Hội thảo “Phát triển và đổi mới hoạt động thư viện trong thời kỳ mới” tổ chức tại Thư viện Quốc gia ngày 5-12-2018 cho biết, Việt Nam hiện có một thư viện quốc gia, 63 thư viện tỉnh, 663 thư viện huyện và 3.257 thư viện xã; cùng 16.727 phòng đọc sách làng, thôn, bản; gần 400 thư viện thuộc các trường cao đẳng và đại học; 25.915 thư viện trường phổ thông; 100 thư viện thuộc các bộ ngành, viện nghiên cứu; hơn 500 thư viện và khoảng 4.500 phòng đọc sách thuộc lực lượng vũ trang…

Sách in nhiều và thư viện mọc khắp nơi nhưng người đọc ở đâu? World Culture Score Index cho biết Ấn Độ là quốc gia hàng đầu thế giới hiện nay về “chỉ số đọc”, với trung bình 10 tiếng 42 phút mỗi tuần; Thái Lan thứ nhì với trung bình mỗi tuần 9 tiếng 24 phút… Dân Malaysia đọc trung bình 12 cuốn/năm. Trong khi đó, tại Việt Nam, trung bình mỗi người đọc tổng cộng chỉ 4 cuốn/năm mà con số này bao gồm cả sách giáo khoa! Trung tâm nghiên cứu Việt Nam và Đông Nam Á cho biết thêm, có đến 26% dân số Việt Nam không bao giờ đọc sách, 44% thỉnh thoảng đọc và chỉ 30% đọc thường xuyên. Sách chất chồng chất đống, các hội chợ sách đông nghịt, nhưng sách vẫn nằm ngoài đường hơn là vào nhà, sách ngủ trên kệ thư viện hơn là trên tay. Đi hội chợ sách cũng cứ như đi hội chợ hoa. Ngắm nhiều hơn mua. Hiện tượng tréo cẳng ngỗng này cho thấy sách được bán là sách gì và sách thư viện là sách thế nào? Một cách khách quan, có thể điểm lại vài nguyên nhân khiến người Việt ngán sách.

Yếu tố lười đọc như một “hiện tượng thời đại” là không thể bỏ qua. Chưa bao giờ người ta lười đọc sách đến như vậy. Tình trạng này xảy ra ngay tại Mỹ, nơi sách được phát hành nhiều nhất thế giới. Với người Việt, máy tính bảng, điện thoại, Facebook đã trở thành “tác nhân” bồi thêm vào tâm lý “chán” sách. Đọc ngắn, thậm chí cực ngắn, đang trở thành một thói quen phổ biến. Ngay cả sinh viên cũng “sợ” đọc sách. Tuy nhiên, đổ thừa cho thiết bị số là không hoàn toàn chính xác. Sinh viên các nước khu vực, Thái Lan hay Singapore, vẫn ôm sách đọc mỏi tay. Vấn đề ở chỗ học đường trung học và giảng đường đại học Việt Nam không tạo ra được một không khí học thuật. Sự thất bại của giáo dục Việt Nam là ngành giáo dục đã không mang lại được một không khí học thuật tự do và tìm kiếm tri thức tự do để từ đó tạo cho người học cảm hứng đọc sách và bồi bổ kiến thức từ sách. Sinh viên đến lớp nghe giảng như học trò phổ thông. Giảng viên đại học “dạy chữ” như giáo viên phổ thông. Chẳng có gì để kích thích hứng khởi tìm hiểu và nâng cao kiến thức. Tâm lý lười đọc càng thêm lười – một hiệu ứng lười mang tính lây lan.

Nguyên nhân thứ hai là các nhà xuất bản. Thử vào vài nhà sách lớn ở Sài Gòn, sẽ thấy “bội thực” với những đầu sách tương tự về nội dung. Quanh đi quẩn lại cũng “làm thế nào để khởi nghiệp”, “7 bước đi đến thành công”, “8 cách để làm giàu”, “9 phương pháp mang lại hạnh phúc”, “10 bài học thất bại đáng giá” (các đề tài này dù được khai thác mạnh nhưng thành công ở đâu vẫn không thấy gõ cửa và cũng chẳng có thất bại nào được rút ra, không chỉ đối với ngành sách mà với cả quốc gia!). Các chủ đề khác được ưa chuộng là hồi ký; kỹ năng sống và kinh nghiệm sống; học làm người (chủ yếu in lại sách cũ trước 1975); quản trị kinh doanh… Sự trùng đề tài khiến độc giả không chỉ khó khăn để chọn lựa mà còn làm họ ngán. Sự “đánh hơi” thị trường của các công ty sách không đủ độc đáo để tạo ra chỗ đứng riêng biệt cho từng công ty và mang lại sức bền để đi đường dài. Có khi “thắng” được một cuốn đã là mừng hết lớn. Sự cạnh tranh khốc liệt còn dẫn đến bát nháo, đặc biệt sách dịch, cuối cùng đưa đến một tâm lý thị trường phổ biến: “Bà để bà ngắm chứ bà không mua!”. Sách in nhiều nhưng bán được bao nhiêu và được người đọc đón nhận hay không, rõ ràng, không phải là hiện tượng nhất thời. Nó là một thực trạng có khuynh hướng kéo dài. Cần nhắc lại, năm 2014, trong 64 nhà xuất bản thì chỉ có 4 nhà làm ăn có lời và nộp thuế đầy đủ!

Nguyên nhân thứ ba là sự can thiệp của cấp quản lý. Ngày 15-3-2017, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định phê duyệt Đề án phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, “khẳng định quan điểm phát triển văn hóa đọc là một trong những nội dung quan trọng của sự nghiệp phát triển văn hóa, giáo dục của đất nước”. Tiếp đó, ngày 24-2-2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành thêm Quyết định số 284/QĐ-TTG chọn ngày 21-4 hàng năm là Ngày Sách Việt Nam, cũng nhằm mục đích khuyến đọc. Như cách điều hành và quản lý đặc sệt màu sắc XHCN trên mọi lĩnh vực, sách, làm sách, đọc sách cũng đã bị “định hướng”. Tuy nhiên, thực tế cho thấy chẳng “định hướng” nào tốt hơn là buông “bàn tay lông lá” của các “quyết định” ra khỏi lĩnh vực xuất bản. Cho đến nay, công ty tư nhân vẫn buộc phải “liên kết” với nhà xuất bản mới có thể phát hành sách chứ không thể tự do làm sách; và nhà xuất bản thì phải chịu sự kiểm duyệt nhà nước. Làm thế nào có thể tạo ra và phát triển một nền “văn hóa đọc” khi sự hứng thú đọc bị giới hạn trong khuôn khổ hạn hẹp bởi yếu tố kiểm duyệt chính trị?

Sự thò mũi kiểm duyệt và thao túng nội dung xuất bản đã dẫn đến hậu quả là giới làm sách không dám đầu tư đường dài, chỉ nhắm vào các thể loại “mì ăn liền” với những chiến dịch “đánh nhanh rút lẹ” để đảm bảo an toàn nguồn vốn lẫn doanh thu. Khả năng định hướng, về xu hướng lẫn thẩm mỹ, cho thị trường của giới làm sách đã bị triệt tiêu bởi sự “định hướng” chính trị của các cơ quan nhà nước. Bất chấp sự thật rằng ngày nay người ta có thể dễ dàng tìm kiếm “sách cấm” trên mạng, bộ máy quản lý vẫn kiểm soát tuyệt đối nội dung sách in và sẵn sàng ban hành lệnh cấm hoặc thu hồi bất cứ quyển sách nào không “phù hợp” vì “có những chi tiết cần được thẩm định lại”, dù việc “thẩm định” một tác phẩm là việc của thị trường, của người đọc, của giới phê bình, và không nhà nước nào có quyền thay mặt làm điều đó cả! Từ Cung đàn số phận của Lộc Vàng, Một cơn gió bụi của Trần Trọng Kim, Petrus Ký - Nỗi oan thế kỷ của Nguyễn Đình Đầu, đến The Spy Who Loved Us của Thomas Bass… Từ hồi ký, sách sử, sách dịch, biên khảo… Tất cả đều bị kiểm duyệt. Thị trường sách cứ thế không biết “đi đâu về đâu”, không dám đặt ra chiến lược dài hạn, và cuối cùng không thể kích thích được tâm lý ham đọc trong xã hội.

Có thể có người đặt câu hỏi rằng, trong bối cảnh thiết bị kỹ thuật số đang đè bẹp thói quen đọc và như vậy cho dù không bị vòng kim cô kiểm duyệt chụp lên đầu đi nữa thì liệu văn hóa đọc có thể hồi sinh được nổi không? Câu trả lời nên dành cho giới làm sách. Nếu được “trả lại” tự do – một nền văn hóa tự do mà miền Nam trước 1975 từng được thụ hưởng và gặt hái những kết quả rực rỡ, giới làm sách hẳn sẽ biết họ phải làm gì và làm như thế nào để phát triển, và đặc biệt, để giúp độc giả lấy lại niềm hứng khởi đọc cùng sự tự do chọn lựa đọc.


Mạnh Kim
Blog VOA

Chính sách Hoa kiều của Bắc Kinh


Tháng Sáu mang ý nghĩa khác nhau cho mỗi người hay mỗi quốc gia. Tháng Sáu năm nay đánh dấu tưởng niệm 30 năm biến cố Thiên An Môn [1]. Vào mỗi đầu tháng Sáu kể từ năm 1989 đến nay, chính quyền Trung Quốc đã tìm đủ mọi cách để ngăn chặn mọi thông tin hay ảnh hưởng có thể vang vọng từ biến cố đó đến người dân của họ, đặc biệt là các thế hệ trẻ sinh trưởng sau này. Họ đã cố tẩy xóa hoàn toàn biến cố này và viết lại lịch sử. Họ đã phần nào đó thành công, ít nhất là cho đến nay, khi đại đa số người dân hoặc không hề hay biết hoặc không muốn nghĩ đến.

Chủ tịch Trung Quốc, Tập Cận Bình.

Vào tháng Sáu năm 2015, sinh viên du học Tony Chang thuộc trường Đại học Kỹ thuật Queensland dự định tham gia biểu tình tại thành phố Brisbane, Queensland để tưởng niệm biến cố Thiên An Môn và cũng dự tính tham gia ủng hộ cuộc thăm viếng của Đức Đạt Lai Lạt Ma đến Úc [2]. Cùng lúc đó, tại quê nhà của Chang ở Shenyang, đông bắc Trung Quốc, các nhân viên an ninh của nhà nước Trung Quốc đã đến gặp mặt bố mẹ của Chang để cảnh báo về các hành động của Chang, nhất là sự tham gia của Chang vào phong trào vận động dân chủ cho Trung Quốc tại Úc. Bố mẹ Chang tất nhiên rất là lo âu vì đây không phải là lần đầu tiên. Chang đã từng bị bắt giam vào năm 2008 lúc chỉ mới 14 tuổi vì đã dám treo các bảng hiệu trên các trụ đường ở Shenyang cổ võ độc lập cho Đài Loan. Sáu năm sau, Chang lại bị rắc rối với lực lượng an ninh lần nữa vì các hoạt động đối kháng của mình. Chang, và cả bố mẹ, đều bị quan sát và theo dõi. Vì thế mà Chang đã quyết định đi du học tại Úc.

Đó là cung cách đối xử của guồng máy cai trị của nhà nước Trung Quốc đối với các nhà vận động dân chủ hay các nhà đối kháng, cũng như với gia đình của họ, cho dầu họ có còn ở trong nước hay không.

Đối phó và loại trừ ảnh hưởng các nhà dân chủ và các tiếng nói phản biện chỉ là một trong các mục tiêu chính yếu của Trung Quốc, nhất là với thành phần hải ngoại. Theo giáo sư chính trị học Clive Hamilton, với hơn 50 triệu Hoa kiều khắp thế giới, trong đó có hơn một triệu đang sinh sống tại Úc, Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã phát triển một kế hoạch phức tạp và nhiều mặt, được thi hành bởi nhiều cơ quan được trang bị nguồn lực dồi dào [3]. Lịch sử, mục tiêu, kế hoạch và chiến thuật của chương trình này được một học giả người gốc Hoa hiện đang cư ngụ tại Tân Tây Lan tên là James Jiann Hua To đã trình bày chi tiết trong luận án tiến sĩ của mình qua các tài liệu mật mà ông đã tiếp cận [4]. Đây là ‘một hoạt động khổng lồ bao gồm sự kết hợp và hợp tác của Hoa kiều trong mọi tầng xã hội, điều khiển cách hành xử và quan niệm của họ bằng cách kích thích hoặc phản kích thích để thích hợp với tình huống và hoàn cảnh cấu trúc mà ĐCSTQ mong muốn’. Hamilton cho rằng ĐCSTQ muốn sử dụng Hoa kiều để tác động lên xã hội Úc, làm cho người Úc cảm thông với Trung Quốc, qua đó giúp họ bá chủ ở châu Á và cuối cùng là thế giới.

Để đạt được mục tiêu trên, Bắc Kinh cần chứng tỏ Trung Quốc chủ trương trổi dậy trong hòa bình. Đây là điều họ rêu rao gần hai thập niên qua. Họ cần chứng tỏ rằng họ có thể hội nhập tốt với thế giới mà không tạo ra phản ứng ngược nào có thể gây cản trở cho mục tiêu này. Để làm được việc đó, lãnh đạo Bắc Kinh, song song với chủ trương sử dụng quyền lực cứng, khi cần, thì đã triển khai các phương hướng phát huy và sử dụng quyền lực mềm ở khắp nơi, khi có thể. Họ hiểu rõ rằng quyền lực cứng có nhiều giới hạn của nó và sẽ không thể bền vững được. Do đó nên các năm đầu của thế kỷ 21, họ đã lên kế hoạch triển khai và phát huy quyền lực mềm ở khắp nơi, từ châu Á, Âu, Mỹ, Phi, Úc và qua các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và ngoại giao [5].

Bắc Kinh đã triển khai và thực hiện kế hoạch này một cách sâu sắc và rộng khắp trong nhiều năm, với bao nguồn lực quốc gia đổ vào để bảo đảm thành công. Thế nhưng giới chính trị và tình báo Tây phương, ngay cả CIA hay FBI của Hoa Kỳ, cũng thất bại trong việc tìm hiểu và định hình các mục tiêu thâm sâu và lâu dài của Bắc Kinh. Các bài viết và sách nghiên cứu của các học giả uy tín hàng đầu về Trung Quốc như Perry Link, Andrew Nathan, Elizabeth Economy, hay Minxin Pei v.v…, kể từ biến cố Thiên An Môn trở đi, cũng không làm loay chuyển bao nhiên đến suy nghĩ chung của phần lớn người dân khắp thế giới, nhất là giới trí thức Tây phương, rằng sự trổi dậy của Trung Quốc là đáng quan ngại. Giới trí thức, nhất là trí thức Tây phương, tự bản thân sở hữu tư duy độc lập, với suy nghĩ phê phán lẫn phóng khoáng. Giới trí thức, học giả luôn muốn duy trì và chứng minh tư duy khách quan và khoa học của mình. Đây là điểm mạnh và hay của họ, nhưng cũng chính nó làm cho họ thiên vị, nhất là khi các bằng chứng mới xuất hiện.



Mãi cho đến khi Tập Cận Bình trổi lên, và quyền hành ngày càng tập trung vào cá nhân họ Tập, cũng như các quyết định và hành động mang tính hung hăng của Bắc Kinh, đặc biệt tại Biển Đông, thì mới thức tỉnh nhiều người. Lúc đó nhiều bằng chứng về âm mưu trổi dậy không phải trong hòa bình mà là bằng phương thức do Bắc Kinh định đoạt đã dần dần tác động lên tư duy của nhiều người. Nó đã đem lại những cuộc tranh luận cần thiết về bản chất trổi dậy của Trung Quốc trong xã hội Tây phương, nhất là trong giới khoa bảng, học thuật. Kể từ năm 2014, với các tác phẩm của James To, như nói trên, hay của Zheng Wang “Không bao giờ được quên quốc nhục”, và nhất là của tiến sĩ Michael Pillsbury, một học giả, tình báo và chuyên gia về an ninh quốc phòng hàng đầu của Hoa Kỳ, qua tác phẩm “Một trăm năm chạy đua” (mà tôi đã có dịp chia sẻ nhiều lần trong các bài trên diễn dàn và Blog của VOA trước đây), các nghiên cứu nghiêm túc và phân tích hàn lâm này đã dần dần tạo ảnh hưởng lên giới trí thức, chuyên gia và truyền thông của Tây phương, đặc biệt tại Anh, Úc, Mỹ, Tân Tây Lan và Canada.

Ngay cả như thế, sự ảnh hưởng lên, và thay đổi, tư duy của một người luôn luôn là một sự trăn trở, khó khăn, và mất thời gian. Xu hướng chung của con người, ngay cả những người cấp tiến và cầu tiến, là không muốn mình sai lầm, không muốn chấp nhận là mình sai lầm. Tại Úc, những chuyên gia về Trung Quốc lên tiếng cảnh báo sự can thiệp ngoại quốc cũng chỉ là những tiếng nói hiếm hoi và lẻ loi. Điển hình trong số này là giáo sư John Fitzgerald, một trong các chuyên gia hàng đầu không chỉ về học thuật mà còn kinh nghiệm thực tiễn làm việc lâu năm tại Trung Quốc; hay John Garnaut, một ký giả nặng ký chuyên về Trung Quốc và sau này trở thành cố vấn truyền thông cho Thủ tướng Úc Malcolm Turnbull; và gần đây giáo sư Clive Hamilton. Khi thẳng thắn lên tiếng, họ cũng bị những chuyên gia hay trí thức khác, vì bất đồng quan điểm, cách đánh giá hay kinh nghiệm, phê bình và kể cả dán nhãn hiệu cho họ là bài Trung Quốc, là phân biệt chủng tộc, hay thổi phồng quan ngại quá đáng [6, 7].

Trong cuộc tranh luận về ảnh hưởng của Trung Quốc tại Úc, giáo sư Fitzgerald đã trình bày các bằng chứng và lý luận khá thuyết phục. Fitzgerald cho biết ĐCSTQ quan tâm sâu xa đến giá trị và quyền lợi của họ khi họ vươn tới tìm cách quản lý và điều khiển cộng đồng người Hoa và các cơ quan truyền thông Hoa ngữ tại hải ngoại [8]. Nhưng đây không phải là chế độ Trung Quốc đầu tiên thực hiện chính sách này. Quản lý các vấn đề Hoa kiều đã bắt đầu có từ thời nhà Thanh, khi họ gửi một số ủy viên Hoàng gia sang Úc để xem xét điều kiện sống và làm việc tại Úc năm 1887. Ủy ban hoàng gia đến Úc lần thứ hai là vào năm 1906 với cùng mục tiêu. Họ đã mở văn phòng sứ quán tại Melbourne, lúc đó là thủ đô của Úc, vào năm 1909, để quản lý các vấn đề liên quan đến Hoa kiều, ngoài vấn đề giao thương giữa hai quốc gia. Sau nhà Thanh thì chính phủ Quốc Dân Đảng của Trung Quốc từ thập niên 1930 và 1940 vẫn tiếp tục cử người chính thức để đại diện cho các thương gia, sinh viên và công nhân tại sứ quán của họ.

Cũng theo Fitzgerald thì chính quyền Cộng sản Trung Quốc vẫn tiếp tục truyền thống này, nhưng mục tiêu chiến lược của họ có khác. Mục tiêu hàng đầu của chương trình ngoại giao của Trung Quốc tại Úc là “Đảm bảo sự trung thành của người Úc gốc Hoa đối với các giá trị, mục đích, mục tiêu, chính sách, hành vi và sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc”. Điều này có nghĩa là làm sao các Hoa kiều xây dựng các mối liên hệ cộng đồng, tham dự và ủng hộ các hoạt động dân sự và văn hóa. Nhưng nó cũng hàm nghĩa là bí mật theo dõi, đột nhập và phá sập những ai được nhìn nhận là kẻ thù của đảng, bao gồm các tổ chức tôn giáo, các nhà hoạt động dân chủ, các nhà cải cách hiến pháp, ký giả, các nhà làm phim, giới nghệ thuật, và những nhân vật truyền thông trong cộng đồng lưu vong. Những người tuy không gây đe dọa sống còn đối với Trung Quốc nhưng có những hoạt động gây bất ổn đối với ĐCSTQ là cũng phải loại trừ. Và nó cũng có nghĩa làm sao điều khiển được, kể cả mua đứt, các cơ quan truyền thông của cộng đồng người Hoa như báo chí, phát thanh, và các phương tiện truyền thông khác tại Úc và những nơi khác, cũng như quyến rũ các cơ quan truyền thông quốc tế chính mạch giới hạn hoặc hủy bỏ các chương trình Hoa thoại mà nội dung đụng chạm đến ĐCSTQ.
Các hành động bí mật này, từ việc theo dõi những nhà hoạt động như Tony Chang và sử dụng bố mẹ của Chang để áp lực Chang ngưng hoạt động tại Úc, cho đến sự xâm nhập vào cộng đồng người Hoa trên toàn Úc, và các cơ quan truyền thông của Hoa kiều v.v…, là điều mà người Úc chỉ mới biết đến trong vòng hai năm nay khi các cơ quan truyền thông Úc điều tra và phanh phui chủ trương này. Hẳn nhiên giới tình báo Úc, nhất là cơ quan ASIO, theo dõi và biết rõ điều này lâu nay.

Vậy ASIO đã làm gì với các thông tin này, và quyền hành của họ trong vấn đề này ra sao, và các nhà hành pháp, lập pháp và truyền thông đã có chiến lược đối phó ra sao trước các âm mưu của Bắc Kinh?

Xin mời quý bạn đọc theo dõi bài tiếp theo vào kỳ tới.


(Úc Châu, 15/02/2019)

Phạm Phú Khải
Blog VOA
Tài liệu tham khảo:

1. Alan Taylor, “Tiananmen Square, 25 Years Ago”, The Atlantic, 4 June 2014.
2. Nick McKenzie, Richard Baker, Sashka Koloff and Chris Uhlmann, “The Chinese Communist Party's power and influence in Australia”, Four Corners, ABC, 29 March 2018.
3. Clive Hamilton, “Silent Invasion: China’s Influence in Australia”, Hardie Grant Books, 2018; chương 3, ‘Qiaowu and the Chinese Diaspora’.
4. James Jiann Hua To, Qiaowu: Extra-territorial policies for the overseas Chines, Leiden: Koninklijke Brill, 2014.
5. Esther Pan, “China’s Soft Power Initiative”, Council on Foreign Relations, 18 May 2006.
6. Clive Hamilton, “I expected to be attacked as racist – just not by Tim Soutphommasane”, The Sydney Morning Herald, 18 March 2018.
7. John Fitzgerald, “China influence: in defence of parliamentary sovereignty”, The Interpreter, Lowy Institute, 19 April 2018.
8. John Fitzgerald, “Loyalty through links and control: The long history of Chinese diaspora diplomacy”, The Interpreter, Lowy Institute, 11 May 2016.

Hội đồng châu Âu gửi văn bản cho các tổ chức XHDS Việt Nam


Lần đầu tiên trong lịch sử mối quan hệ Liên minh châu Âu (EU) với chính quyền Việt Nam nói chung và với giới xã hội dân sự độc lập - bao gồm những người đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam - nói riêng, một văn bản hành chính của Văn phòng Chủ tịch Hội đồng châu Âu (cơ quan chính trị cao nhất EU) đã được gửi đến 17 tổ chức xã hội dân sự độc lập Việt Nam, phúc đáp bản kiến nghị ngày 18/1/2019 của khối xã hội dân sự độc lập về phản ứng tình trạng chính quyền Việt Nam vi phạm nhân quyền trầm trọng và đề nghị hoãn phê chuẩn Hiệp định Thương mại Tự do EU-Việt Nam (EVFTA).

Trang đầu của lá thư thay mặt ông Donald Tusk gởi các tổ chức xã hội dân sự Việt Nam. (Hình: Phạm Chí Dũng cung cấp)

Ủng hộ các tổ chức xã hội dân sự Việt Nam

Văn bản trên mang số SGS19/001167, ký ngày 12 tháng 2 năm 2019 bởi một viên chức có trách nhiệm, truyền đạt ý kiến của Chủ tịch Hội đồng châu Âu Donald Tusk, trong đó nhấn mạnh: “Các vấn đề nhân quyền vẫn liên tục được EU nêu ra với Việt Nam, kể cả ở cấp cao nhất. Đối thoại Nhân quyền EU-Việt Nam tới đây cũng là một dịp để chúng tôi tiếp tục việc này, và sẽ đề cập đến khuôn khổ pháp lý của Việt Nam đối với quyền tự do biểu đạt, tự do hiệp hội, tự do tụ tập, tự do tôn giáo tín ngưỡng, và trường hợp của cá nhân những nhà hoạt động nhân quyền”.

Chủ tịch Hội đồng châu Âu cũng cho biết nhà nước Việt Nam “đã nhiều lần nhắc lại cam kết thúc đẩy tiến bộ nhanh chóng” trong lĩnh vực liên quan đến quyền lao động, và “EU chắc chắn sẽ theo dõi sát sao bất kỳ diễn tiến nào trong lĩnh vực này”.

Cuối thư, Hội đồng châu Âu xác quyết việc họ ủng hộ các tổ chức xã hội dân sự Việt Nam tiếp tục nỗ lực đấu tranh để bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền trong nước.

Văn bản của Văn phòng Chủ tịch Hội đồng châu Âu gửi cho Tổ chức Theo dõi Nhân quyền quốc tế và 17 tổ chức xã hội dân sự độc lập, trong đó có những tổ chức trong nước như Hội Bầu Bí Tương Thân, Hội Cựu Tù nhân Lương tâm, Hội Nhà báo Độc lập, Defend the Defenders, Văn phòng Công lý và Hòa bình, Luật Khoa tạp chí, Hội đồng Liên tôn và một số tổ chức tôn giáo khác.

Sự công nhận mặc nhiên

Nguyễn Anh Tuấn - một nhà hoạt động nhân quyền có nhiều kinh nghiệm quốc tế vận cho biết trước đây EU thường chỉ trả lời thư kiến nghị của những tổ chức xã hội dân sự bằng hình thức thư ghi nhận ý kiến và cám ơn. Nhưng văn bản của EU gửi các tổ chức xã hội dân sự Việt Nam vào ngày 12/2/2019 là một trường hợp đặc biệt vì đó không phải là một bức thư cám ơn, mà là một công văn mang tính thông báo tình hình và thể hiện thái độ tôn trọng hơn hẳn với giới hoạt động nhân quyền ở Việt Nam. EU thường sử dụng văn bản hành chính để làm việc với các đối tác, và trong trường hợp này, đó là sự công nhận mặc nhiên của EU đối với vị thế chính trị - xã hội của các tổ chức xã hội dân sự độc lập ở Việt Nam, bất chấp chính quyền Việt Nam chưa từng thừa nhận cũng như đã cố tình quên lãng quyền tự do lập hội được quy định bởi hiến pháp 1992.

Rõ ràng vào đầu năm 2019, vai trò và vị thế của giới tổ chức xã hội dân sự độc lập ở Việt Nam đã vươn lên một tầm cao mới trong con mắt cộng đồng quốc tế.

Vào trung tuần tháng 1 năm 2019 khi Hội đồng châu Âu chuẩn bị một cuộc họp để bỏ phiếu về khả năng có phê chuẩn EVFTA và sau đó trình cho Nghị viện châu Âu hay không, một bản kiến nghị khẩn cấp của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền quốc tế (Human Right Watch) cùng 17 tổ chức xã hội dân sự trong và ngoài Việt Nam gửi đến Nghị viện châu Âu, Hội đồng châu Âu và các cơ quan liên quan, yêu cầu EU hoãn thông qua EVFTA vì chính quyền Việt Nam đã không làm bất cứ điều gì để cải thiện nhân quyền, và ‘nhân quyền trên hết’ - điều kiện cần của Nghị viện châu Âu - cho tới nay đã hoàn toàn bị chính thể độc trị ở Việt Nam phớt lờ.



Ngay sau đó, cuộc họp của Hội đồng châu Âu đã quyết định hoãn phê chuẩn EVFTA, tạo nên một cú số lớn đối với chính thể Việt Nam - giới chóp bu mà cho tới gần thời điểm đó vẫn tự tin với kết quả ‘EVFTA sẽ sớm được ký kết và phê chuẩn’ cùng một luồng dư luận trong nội bộ đảng về ‘châu Âu cần Việt Nam hơn Việt Nam cần châu Âu’, đặc biệt sau cuộc điều trần EVFTA tại Brussels của Bỉ vào tháng 10 năm 2018 mà sau đó Ủy ban châu Âu đã chuẩn thuận EVFTA và gửi tờ trình cho Hội đồng châu Âu để xem xét phê chuẩn, khiến Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cùng hệ thống tuyên giáo và báo đảng đồng ca về ‘thắng lợi EVFTA’.

Nhưng thái độ chủ quan thái quá đã phải trả giá. Những tổ chức xã hội dân sự trong và ngoài Việt Nam - giới mà chính quyền luôn coi thường ‘chỉ có một nhúm người’ và hoàn toàn không phải là đối trọng chính trị của đảng CSVN, đã làm nên một chiến thắng ngoạn mục nhưng được tích lũy bởi chiều sâu hệ thống: bản kiến nghị yêu cầu hoãn EVFTA đã có tác động đáng kể đến EU và dẫn đến quyết định hoãn EVFTA.

Thắng lợi này đã dẫn ra một định đề ‘sáng mắt sáng lòng’ đối với đảng CSVN: nếu ở trong nước, đảng có thể huy động hàng trăm ngàn công an để bóp nghẹt quyền làm người của người dân, đàn áp dã man các cuộc biểu tình và đình công, bắt bớ giới đấu tranh dân chủ nhân quyền, thì khi ra sân chơi quốc tế lại là một câu chuyện khác hẳn. Dù chỉ là ‘một nhúm người’, nhưng giới tổ chức xã hội dân sự với hành động đấu tranh cho quyền lợi của người dân lại có sức ảnh hưởng quốc tế và hiệu quả quốc tế vận cao hơn rất nhiều so với Bộ Ngoại giao và các tổ chức ‘cánh tay nối dài của đảng’ chỉ biết mị dân và dối trá về nhân quyền.

Quyết định hoãn EVFTA của Hội đồng châu Âu là bằng chứng rõ ràng nhất cho tới nay về việc Liên minh châu Âu không còn đáng bị xem là yếu thế và nhu nhược trong con mắt của chính quyền Hà Nội, và quyết định này là sự tuân thủ một cách triệt để và kiên định tinh thần bản nghị quyết nhân quyền của Nghị viện châu Âu ban hành vào tháng 11 năm 2018.

Quyết định hoãn EVFTA cũng là một cảnh báo gián tiếp đối với chính quyền Việt Nam: không chịu cải thiện nhân quyền một cách thực tâm, thực chất và mang tính chứng minh được, sẽ chẳng có EVFTA nào tự động chui vào dạ dày của những kẻ chỉ biết ăn không biết làm.

Và nếu những kẻ đó vẫn chỉ biết ăn mà không biết làm, thậm chí quốc hội mới của châu Âu sau tháng 5 năm 2019 cũng sẽ không tái xem xét hiệp định này cho những kẻ chỉ biết đàn áp đồng bào của mình.

Vận hành cơ chế tham vấn xã hội dân sự


Sau vụ EVFTA bị hoãn, có lẽ giới chóp bu Việt Nam đã phải nhìn nhận Xã hội dân sự không chỉ là một thực thể, mà còn là một thực thể không hề yếu ớt trong cuộc chiến nhân quyền với chính quyền.

Văn bản của EU thông báo tình hình nhân quyền - EVFTA cho các tổ chức xã hội dân sự Việt Nam không những là một sự công nhận thực thể trên, mà còn là sự thể hiện công khai một phương châm và phương pháp làm việc của EU: nhấn mạnh vai trò tham vấn của các tổ chức xã hội dân sự như một quy định nằm trong khuôn khổ Hiệp định EVFTA mà phía Việt Nam đã ký. Không cần chờ đến khi EVFTA được triển khai (chưa biết khi nào), ngay vào lúc này đây EU đang vận hành cơ chế tham vấn ấy với tiêu chí ‘nhân quyền trên hết’.

Cơ chế vận hành mang tính hành chính và tôn trọng trên cũng có nghĩa là nếu trong thời gian tới EVFTA được ký kết, phê chuẩn, bỏ phiếu thông qua và đi vào triển khai, những cuộc họp của EU với các cơ quan của chính phủ Việt Nam về các dự án thành phần và tiểu thành phần trong hiệp định này sẽ có thể có mặt những tổ chức xã hội dân sự về lao động, môi trường và nhân quyền - như một yếu tố thúc đẩy và đảm bảo tính minh bạch hóa các chương trình và dự án, gia tăng phản biện của cộng đồng và nhân dân và tăng cường tính hiệu quả của hiệp định để hạn chế đến mức tối thiểu hành vi lạm dụng, lợi dụng, lũng đoạn và tham nhũng của giới quan chức Việt Nam trong quá trình thực hiện Hiệp định EVFTA.


Phạm Chí Dũng
Blog VOA

40 năm sau cuộc chiến, VN đang trở thành gì của Trung Quốc?


Việt Nam là thuộc địa Trung Quốc? Không phải. Là chư hầu? Không đúng. Là quốc gia vệ tinh? Cũng sai. Vậy Việt Nam đang là gì với Trung Quốc? Khó có thể định nghĩa chính xác tính chất mối quan hệ Việt Nam-Trung Quốc kể từ sau khi hai nước bang giao bình thường sau cuộc chiến biên giới 1979. Có điều ai cũng thấy Việt Nam đang bị nhuộm đỏ trước hiểm họa “ngoại xâm mềm” bằng con đường kinh tế, từ Trung Quốc.

Tưởng niệm chiến tranh biên giới 1979 - 2016.

Từng ngày từng giờ, cơn sóng thủy triều đỏ Trung Quốc lan rộng và phủ kín Việt Nam, từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau (chính xác là 54/63 tỉnh-thành). Theo Viện nghiên cứu Trung Quốc thuộc Viện hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, nếu như trong 9 năm kể từ khi bình thường hóa (tháng 11-1991 đến tháng 12-1999), Trung Quốc có 76 dự án với tổng số vốn đầu tư là 120 triệu USD, thì 10 năm sau, đã có 657 dự án với tổng số vốn hơn 2,6 tỷ USD. Riêng về FDI (đầu tư nước ngoài trực tiếp), từ cuối năm 1991 đến nay, FDI Trung Quốc đổ vào Việt Nam liên tục tăng và tăng mạnh 10 năm trở lại đây, từ 572,5 triệu USD năm 2007 lên 2,17 tỷ USD năm 2017, trở thành nước thứ tư trong số các quốc gia có vốn FDI đăng ký tại Việt Nam (tạp chí Tài Chính 1-1-2019).

Trung Quốc hiện diện khắp nơi, đến mức gần như ngành nghề nào cũng có mặt, từ kinh doanh hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp ở Hải Phòng; kinh doanh bất động sản ở Tiền Giang; sản xuất giày ở Đồng Nai; luyện-cán thép ở Thái Bình; sản xuất tinh bột wolfram ở Quảng Ninh; linh kiện điện tử ở Đà Nẵng; ván ép ở Long An; đến gia công in phun, đồ họa, sản phẩm quảng cáo, dịch vụ quảng cáo ở Sài Gòn; và đặc biệt công nghiệp điện than (trong 27 quốc gia có dự án nhiệt điện than nhận đầu tư từ Trung Quốc, Việt Nam xếp thứ hai sau Bangladesh về công suất được cam kết đầu tư với 13.380MW, xếp thứ tư về tổng giá trị với 3,6 tỷ USD, tính đến tháng 7-2018) – dù rằng công nghiệp này gây ô nhiễm cực kỳ nghiêm trọng.

Trung Quốc còn thâm nhập dữ dội vào thị trường bất động sản. Hà Nội, Đà Nẵng, Đồng Nai, Long An, Tiền Giang… chỗ nào cũng có mặt giới đầu tư bất động sản Trung Quốc, đặc biệt các dự án chung cư thuộc khu “đất vàng”. Tháng 4-2017, tập đoàn China Fortune Land Development mua lại cổ phần trong dự án Đại Phước Lotus của VinaCapital với giá 65,3 triệu USD (Đại Phước Lotus là dự án khu dân cư có tổng diện tích 198,5 triệu hecta thuộc tỉnh Đồng Nai, giáp Sài Gòn). Tờ The Leader (19-9-2017) cho biết, tập đoàn Hong Kong Land cũng mua 64% cổ phần dự án nhà ở nằm trong Khu đô thị mới Thủ Thiêm thuộc Công ty CP Đầu tư hạ tầng kỹ thuật TP. HCM; trong khi đó, Alpha King Real Estate Development JSC mua dự án khu phức hợp Saigon One Tower…

Trong 9 tháng đầu năm 2018, người Trung Quốc vọt lên đầu bảng tỷ lệ người nước ngoài mua nhà ở Sài Gòn. Không chỉ mua nhà, đất đai và khu nghỉ mát, Trung Quốc còn mua doanh nghiệp. Báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, giới đầu tư Trung Quốc đã thực hiện 1.029 lượt góp vốn mua cổ phần tại các doanh nghiệp Việt Nam với tổng vốn hơn 800 triệu USD, chỉ trong năm 2018. Cùng với làn sóng đầu tư là làn sóng du lịch. Mỗi tuần có 500 chuyến bay chở du khách Trung Quốc sang Việt Nam. Hiện có đến 10 hãng hàng không khai thác 30 đường bay từ 20 địa điểm Trung Quốc đến Việt Nam...

Đầu tư và du lịch giúp kinh tế tăng trưởng mà sao phải lo? Bởi vì, không như giới đầu tư các nước khác, sự có mặt Trung Quốc kéo theo nhiều điều không bình thường. Tháng 8-2018, Ủy ban tỉnh Khánh Hòa đã phải gửi văn bản khẩn, “đề nghị các bộ, ngành trung ương, đặc biệt Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có giải pháp quản lý hoạt động thanh toán qua công nghệ thanh toán điện tử”, nhằm chặn đứng sự thất thu thuế từ du khách Trung Quốc.

Dự án tuyến đường sắt cao tốc Cát Linh­Hà Đông là một ví dụ khác. Dự án có tổng đầu tư 552 triệu USD (thời giá năm 2008) trong đó vốn ODA Trung Quốc là 419 triệu USD. Dự kiến công trình hoàn thành trong thời gian từ tháng 8-2008 đến tháng 11-2013 nhưng ì ạch mãi đến cuối năm 2015 mới xong (đến nay, đầu năm 2019, vẫn còn trong giai đoạn chạy thử nghiệm). Cái giá của sự chậm tiến độ là 339 triệu USD cộng thêm! Không chỉ vậy, tổng thầu Trung Quốc còn nợ các nhà thầu phụ Việt Nam đến 554 tỷ đồng. Tương tự, trong dự án Nhà máy gang thép Lào Cai với tổng đầu tư khoảng 340 triệu USD (Việt Nam góp 55%), một nhà thầu Trung Quốc cũng quịt tiền. Sau khi ký hợp đồng mua vật liệu và thuê công nhân Việt Nam san ủi mặt bằng, nhà thầu phụ này lặng lẽ biến mất! Dù vậy, Trung Quốc vẫn có ưu thế giành thầu và chiếm nhiều dự án trọng điểm chẳng hạn các nhà máy nhiệt điện. Có quá bất thường không?



Điều không bình thường là có rất nhiều công nhân Trung Quốc được thoải mái vào Việt Nam mà không cần hộ chiếu-visa. Con chuột cũng khó có thể lọt vào cửa khẩu huống chi hàng chục ngàn người! Cách đây 10 năm, năm 2009, tờ VietnamNet từng thực hiện phóng sự về những ngôi làng Trung Quốc mọc tại Việt Nam. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam thường bày tỏ “bất bình” trước sự “ngang nhiên” tuyên xưng chủ quyền của Trung Quốc đối với biển đảo Việt Nam nhưng về sự ngang nhiên xuất hiện của hàng chục ngàn người Trung Quốc ngay trên đất Việt Nam thì gần như không ai lên tiếng hoặc hành động gì, đến mức sự bất thường này được phép đương nhiên tồn tại. Cuối năm 2015, tại Đà Nẵng, hai cửa hàng do người Trung Quốc làm chủ thậm chí đã ngang ngược “tuyên xưng chủ quyền” bằng cách không bán hàng cho người Việt. Người Việt đang mất chủ quyền ngay trên chính mảnh đất quê hương mình? Điều bất thường nhất trong những điều không bình thường là một số khu công nghiệp Trung Quốc đã được bảo vệ như thể chúng nằm trên đất Trung Quốc. Cho đến thời điểm này, chẳng người Việt Nam nào “không phận sự” được phép vào “cấm thành” Formosa!

Điều rất không bình thường, so với quan hệ kinh tế với các nước khác, là cách thức quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc. Hãy đọc một đoạn trong bài viết “Đầu tư trực tiếp của Trung Quốc tại Việt Nam trong 10 năm qua” của tiến sĩ Nguyễn Phương Hoa (người hồi tháng 6-2018 đã được bổ nhiệm Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Trung Quốc kiêm Phó Tổng biên tập Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc):

“Cùng với tăng cường xây dựng niềm tin chính trị, lãnh đạo hai nước luôn chú trọng đến xây dựng mối quan hệ kinh tế hiệu quả, thiết thực và đang được cụ thể hóa bằng những kế hoạch phát triển gắn kết hai nền kinh tế như “Hai hành lang, một vành đai”, “một trục hai cánh”, “hợp tác Vịnh Bắc bộ mở rộng”; hướng đến cân bằng trong cán cân thương mại; tăng đầu tư của Trung Quốc tại Việt Nam...”. Cách viết này, của một “chuyên gia” thuộc Viện hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, cho thấy một điều: quan hệ kinh tế Việt Nam với Trung Quốc còn được “hòa tan” vào quan hệ chính trị, liên quan đến vấn đề thể chế và chính sách đối ngoại “đặc biệt”. Nó giúp phần nào giải thích được những bất thường nói ở trên.

Cần nhắc lại, cách đây chỉ vài tháng, vào tháng 9-2018, khi tiếp Triệu Lạc Tế - Ủy viên Bộ Chính trị-Trưởng ban Kiểm tra kỷ luật Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói rằng quan hệ Việt-Trung “đang ở thời điểm tốt đẹp nhất trong lịch sử”! Trước đó, tháng 1-2017, trong chuyến công du Trung Quốc sau Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 12, Nguyễn Phú Trọng cùng Tập Cận Bình cũng đã ra thông cáo chung, xác định hai quốc gia “đều là nước xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo, có chế độ chính trị tương đồng, con đường phát triển gần gũi, có tiền đồ tương quan, chia sẻ vận mệnh chung”; khẳng định quan điểm hai bên là “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” trên tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”.

Bắc Kinh có là “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” của Việt Nam? Chắc chắn là không. Hà Nội đang trở thành gì đối với Trung Quốc? Dựa vào các phát biểu và tuyên bố chung chỉ có thể định tính được phần nào mối quan hệ hai nước, nhưng dựa vào những con số cụ thể thì có thể thấy rõ, Việt Nam đang lệ thuộc nghiêm trọng vào Trung Quốc. 40 năm sau khi thâm nhập biên giới Việt Nam bằng quân sự, Trung Quốc đang đổ bộ kín mít đất nước Việt Nam bằng những đoàn quân kinh tế hùng hậu. 40 năm sau khi Việt Nam đánh đuổi quân xâm lược Trung Quốc, Việt Nam vẫn rất khó khăn tấn công sâu vào lãnh thổ nước này bằng con đường kinh thương. Việt Nam liên tục nhập siêu từ Trung Quốc. Con số mới nhất (11 tháng đầu năm 2018) là 21,6 tỷ USD (xuất sang Trung Quốc 38,1 tỷ USD trong khi nhập lại 59,7 tỷ USD).

Năm 1979, Hà Nội đã có thể dạy lại Bắc Kinh bài học mà Trung Quốc muốn dạy cho Việt Nam, nhưng sau 40 năm, Hà Nội dường như chẳng học được thêm gì cả, ngoài việc trở thành “đồng chí tốt” của kẻ thù. Sau 40 năm, Việt Nam chẳng là gì so với sức mạnh kinh tế lẫn quân sự mà Trung Quốc đang sở hữu. Biển Đông đang bị gặm nhấm lần mòn. Chủ quyền biên cương đang bị đe dọa. Cả “chủ quyền” kinh tế cũng bị thao túng. Thật chẳng tự hào gì khi Việt Nam đang là con nợ của Bắc Kinh. Trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn (3-9-2018), tác giả Vũ Quang Việt cho biết, ước tính nợ Việt Nam đối với Trung Quốc, tính đến năm 2018, (có thể) là hơn 6 tỷ USD. Bắc Kinh đang nắm Hà Nội trong lòng bàn tay? Riêng với cái nhìn của người dân Việt Nam, có vẻ như Hà Nội chẳng nắm được gì của Bắc Kinh cả! Với thực trạng này, ước vọng thoát Trung của người dân Việt xem ra là rất xa vời. Điều này có đáng để nghĩ và lo lắng cho số phận quốc gia?


Mạnh Kim
Blog VOA

Diện mạo của… độc lập, chủ quyền!


Ông Phạm Hồng Tung, một Giáo sư, Tiến sĩ về Sử học, Viện trưởng Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển của Đại học Quốc gia Hà Nội, vừa lên tiếng phản bác những facebooker như Nguyễn Như Phong, Ngô Nguyệt Hữu,… là lưu manh, kích động công chúng chỉ trích ông (1).

Một cuộc tuần hành chống Trung Quốc tại Việt Nam năm 2014.

Nguyễn Như Phong lưu manh như thế nào?

Facebooker này đã đề nghị tống cổ ông Tung ra khỏi hàng ngũ sử gia Việt Nam, bởi không thể nào chấp nhận suy nghĩ của ông Tung – nhân vật giữ vai trò Chủ biên môn sử trong Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể: Giới sử học Việt Nam nên bàn bạc với giới sử học Trung Quốc để thống nhất quan điểm, nội dung... rồi mới dạy cho học sinh về những vấn đề có liên quan đến lịch sử Việt – Trung. Phong nhấn mạnh, không thể để một người như ông Tung đứng trên bục giảng. Bộ trưởng Giáo dục – Đào tạo cần phải bày tỏ chính kiến về suy nghĩ của ông Tung (2)!

Còn Ngô Nguyệt Hữu kích động công chúng ra sao?

Hữu bày tỏ sự lo ngại rằng dường như ông Tung có “vấn đề nghiêm trọng” về “tư duy tiếp cận lịch sử” nên mới khuyên, đề cập về cuộc chiến cách nay 40 năm giữa Việt Nam và Trung Quốc, cần tránh dùng những từ như “giặc”, “khát máu”,... vì những từ này chỉ bộc lộ định kiến, áp đặt, thiếu khách quan, thiếu tính thuyết phục, trong khi đang rất cần hòa giải từ lịch sử. Hữu nhấn mạnh, lịch sử là nhật ký của một quốc gia, một dân tộc, thời điểm Trung Quốc bắn giết người Việt, Trung Quốc đích thị là giặc, là khát máu. Tại sao đề nghị không gọi những kẻ đốt phá, cướp đất của mình là chúng, là tàn bạo (3).

Chẳng lẽ chất vấn ông Tung, rằng tại sao ông âm mưu liên kết, chủ trương tìm kiếm sự đồng thuận với ngoại bang về quan điểm mới dạy lịch sử vệ quốc cho hậu bối lại bị xem là… lưu manh? Không lẽ chỉ nhận định, suy nghĩ của ông Tung là tư duy nô lệ, cho rằng chỉ Việt gian mới ve vuốt ngoại bang, sợ hãi lịch sử đến như vậy, rồi lên án việc dùng uyển ngữ giảm nhẹ sự hy sinh của tiền nhân để đổi lấy điều viển vông “hoà giải không kích động hận thù”, khuyến cáo ông Tung không thể dẫn dụ hậu sinh theo lối đó lại là… “kích động công chúng”?

***

Trước làn sóng gọi mình là “sử nô”, trên trang facebook cá nhân có tên là Phạm Tứ Kỳ, ông Tung biện bạch thêm rằng: Che giấu, xuyên tạc lịch sử là có tội với tiền nhân nhưng sử dụng lịch sử để kích động hận thù là có tội với thế hệ tương lai. Ông Tung post kèm một tham luận mà ông sẽ trình bày tại “Hội thảo Khoa học Quốc gia: 40 năm nhìn lại cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc”, kèm cam kết “sẵn sàng đón nhận mọi trao đổi, góp ý nghiêm túc nhưng không chấp nhận những công kích hoặc chửi bới thiếu văn hóa”.

Đã có khá nhiều facebooker vào trang facebook của ông Tung góp nhiều ý. Chẳng hạn Mạc Yên cho rằng, dạy theo “phương châm hòa giải” là dạy học trò làm chính trị chứ không phải học sử, môn sử sẽ không giáo dục lòng yêu nước, ý thức dân tộc độc lập. Phía Trung Quốc chỉ mong người Việt tự trang bị tâm thế “hòa giải” để họ yên tâm tiến hành các cuộc chiến tàn bạo khác. Đó cũng là lý do Viet Nghia Trần tin rằng, học sinh không thấu cảm được, chẳng thà không dạy, để chúng tự tìm hiểu còn hơn làm chúng hoang mang hoặc bị lạc hướng.

Hoc Tieu thì nêu thắc mắc, tại sao ông Tung chỉ chủ trương dạy sử theo hướng “hòa giải, hòa bình, hữu nghị” đối với hai cuộc chiến tranh ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc mà không đề nghị dạy sử theo hướng đó về cuộc chiến 20 năm với Việt Nam Cộng hòa? Tương tự, Thanh Hoa hỏi: Chúng ta đối với ngoại bang – Trung Quốc ra sao? Chúng ta đối với đồng bào miền Nam (Việt Nam Cộng hòa) ra sao sau khi cuộc chiến kết thúc? Như vậy có nhất quán hay không? Chưa kể chúng ta luôn xác định Pháp, Mỹ là “giặc”, thêm mắm, thêm muối khi kể tội ác nhưng đối với Trung Quốc lại khác, tại sao?

Giống như Hoc Tieu, Thanh Hoa, Sơn Nguyễn hỏi trổng: Bọn nào viết sử theo kiểu kích động hận thù với Pháp, Mỹ và Việt Nam Cộng hòa nhất? Nguyễn Ngọc Quyết thì đặt ra hàng loạt câu hỏi với ông Tung: Việt Nam vốn là một quốc gia độc lập, dạy sử như thế nào thuộc thẩm quyền của Việt Nam. Tại sao giới sử học hai nước cần ngồi lại với nhau để thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản trong dạy sử cho học sinh. Ai cho giới sử học quyền thỏa thuận dạy cái gì? Ngoài nhiệm vụ nghiên cứu, tìm ra sự thật lịch sử giới sử học còn nhiệm vụ gì khác?

Cho dù những góp ý, trao đổi như đã kể hết sức nghiêm túc, không có bất kỳ biểu hiện nào là thiếu văn hóa nhưng ông Tung không trả lời bất kỳ ai.

***

Tuần này, song song với việc hệ thống truyền thông chính thức được phép “ôn cố” về cuộc chiến tranh vệ quốc cách nay 40 năm, ở Hà Nội còn có “Hội thảo Khoa học Quốc gia: 40 năm nhìn lại cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc” với những sử gia như Phạm Hồng Tung.

Có gì mới ở đó? Ngoài quan điểm viết sử, dạy sử theo hướng “hòa giải, hòa bình, hữu nghị” đối với Trung Quốc, còn một điểm khác, trước giờ không mới nhưng luôn đúng, ông Vu Duong Ninh, một sử gia kỳ cựu, viết trên facebook về hội thảo này: Các bạn nên biết tổ chức một sự kiện, chịu bao gậy chỉ huy, mỗi lúc một khác. Nên thông cảm với Viện Hàn lâm, có tổ chức sau 40 năm còn hơn không. Suy ra từ đường phố Hà Nội: Đèn xanh, đèn đỏ, đèn vàng / Giao thông hỗn loạn, liệu đàng mà đi (4).

40 năm – dù lúc nói, lúc nín, khi nói thì úp úp, mở mở từng khiến người Việt bất bình, nghi ngại nhưng có một thực tế là nhiều nhân chứng về cuộc chiến vệ quốc, về tội ác xâm lược nếu chưa chết thì cũng đã già yếu. 40 năm – với chủ trương cùng ngồi, cùng thảo luận với các sử gia Trung Quốc để xác định nên dạy sử cho các thế hệ hậu sinh của Việt Nam thế nào đã đặt một dấu chấm than rất to cho độc lập, chủ quyền, ý thức dân tộc!


Trân Văn
Blog VOA
 

Top ↑ Copyright © 2016. Tiến Bộ - All Rights Reserved
Back To Top ↑