Tin Tức Cập Nhật 24/7

Nhân sỹ kêu gọi chính phủ không giữ im lặng trước tin đồn sức khỏe ông Trọng


Học sinh cầm ảnh chân dung của Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng (giữa) trong một chuyến thăm của nhà lãnh đạo Việt Nam tới Phnom Penh hôm 25/1/2019. Một nhóm các nhân sỹ đã kêu gọi các lãnh đạo của Việt Nam minh bạch về tình hình sức khỏe của ông Trọng giữa những tin đồn trên mạng.

Một nhóm các nhân sỹ kêu gọi chính phủ Việt Nam đưa ra phản ứng trước các tin đồn về bệnh tình của Tổng bí thư-Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng trong “Lời kêu gọi cảnh giác” gửi đến nhân dân cả nước và các nhà lãnh đạo.

Trong bức thư ngỏ có tựa đề “Lời kêu gọi cảnh giác” đề ngày 19/4, nhóm nhân sỹ được biết tiếng, gồm Huỳnh Tấn Mẫn, Lê Công Giàu, Huỳnh Kim Báu và Giáo sư Tương Lai, cho rằng mọi người dân Việt Nam trong những ngày qua đang “hết sức lo lắng theo dõi những tin đồn lan rất nhanh, rất rộng về bệnh tình của người lãnh đạo cao nhất đang đảm đương trọng trách Tổng bí thư của Đảng và Chủ tịch nước.”

Các thông tin từ mạng xã hội và các trang báo điện tử từ bên ngoài Việt Nam hôm 14/4 cho biết ông Trọng bị “xuất huyết não” và phải nhập viện ở Kiên Giang khi đang đi thăm tỉnh này.

Cho đến lúc này, chính phủ Việt Nam vẫn chưa lên tiếng phủ nhận hay khẳng định các thông tin trên và ông Trọng cũng chưa xuất hiện trước công chúng kể từ ngày 14/4.

Các báo trong nước không đưa bất cứ thông tin nào về tình hình sức khỏe của ông Trọng, nhưng cho biết ông Trọng đã gửi điện mừng nhân dịp ông Kim Jong Un được bầu lại làm Chủ tịch Ủy ban Quốc vụ CHDCND Triều Tiên và sau đó gửi điện chia buồn tới Tổng thống Sri Lanka về các vụ đánh bom chết chóc xảy ra hôm Chủ nhật Lễ Phục sinh.

“Cả bộ máy truyền thông từ trung ương đến địa phương đều giữ một sự im lặng quá khó hiểu, nếu chưa muốn nói là vô trách nhiệm với dân,” các nhân sỹ viết trong lời kêu gọi được chia sẻ rộng rãi trên Facebook trong những ngày qua.


Giáo sư Tương Lai, người đồng ký tên vào bức thư, nói với VOA rằng dư luận Việt Nam, từ thành phố đến nông thôn, đều nghĩ rằng “những tin đồn về ông Trọng bị trọng bệnh là đúng.”

Nguyên viện trưởng Viện Xã hội học Việt Nam nói “những tin đồn đó đều logic cả chứ không phải là không có cơ sở” khi đưa ra ví dụ về việc ông Trọng đã không đón tiếp đoàn nghị sỹ Mỹ do TNS Patrick Leahy dẫn đầu.

Như VOA đã đưa tin, ông Trọng tuần trước đã không đón tiếp phái đoàn TNS Mỹ đến thăm Việt Nam như lịch trình được công bố bởi ông Leahy hôm 12/4.

Càng bưng bít thông tin, càng gây thêm sự nhiễu loạn trong tâm trạng xã hội, đẩy tới sự mất lòng tin của mọi tầng lớp nhân dân với đảng cầm quyền.

"Lời kêu gọi cảnh giác" do nhóm các nhân sỹ trong nước đồng ký tên
Những đồn đoán “có cơ sở” đó đã dẫn tới những phán đoán gây hoang mang trong xã hội trong khi chính phủ và Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục giữ im lặng, theo GS Tương Lai, người từng là một thành viên trong Tổ Tư vấn của Thủ tướng Võ Văn Kiệt.

“Ai sẽ thay thế đây? Người đó sẽ là thế nào? Có tiếp tục là những người mà Trung Quốc đã nắm thóp được như là Nông Đức Mạnh hay Nguyễn Phú Trọng trong hai nhiệm kỳ vừa qua không? Nỗi lo của người ta là ở chỗ ấy.”

Sự tiếp nối chính trị là một quá trình hỗn độn và có khả năng bị mất ổn định ở Việt Nam, theo nhận định của Asia Times trong một bài viết ra ngày 22/4 với tiêu đề “Người đứng đầu Việt Nam (Nguyễn Phú) Trọng đang trong những giờ cuối của cuộc đời?”

Theo nhận định của Giáo sư Carl Thayer trong một bài viết ra hôm 22/4, nếu TBT Trọng bị bệnh nặng (hoặc không hoàn toàn bình phục để làm việc toàn thời gian), Việt Nam vẫn có thể tránh được một cuộc khủng hoảng kế nhiệm bằng cách bỏ đi việc kiêm nhiệm hai chức vụ Tổng Bí thư và Chủ tịch nước và bổ nhiệm một người “trông coi” tạm thời cho mỗi chức vụ.

Tình hình sức khỏe của các lãnh đạo cao nhất nhà nước Việt Nam được coi là “bí mật quốc gia” theo quy định của Luật Bảo vệ bí mật nhà nước được thông qua vào tháng 11 năm ngoái.

GS Tương Lai cho rằng việc "bảo vệ bí mật quốc gia" đối với thông tin về sức khỏe của các lãnh đạo là “lố bịch” và “phản dân chủ.”

TBT Trọng được Tổng thống Mỹ Donald Trump mời tới thăm Washington trong năm nay và đó là vì sao chính phủ Việt Nam phải có trách nhiệm dập tắt các tin đồn và thông báo về tình trạng sức khỏe của ông Trọng.

Carl Thayer, GS Đại học New South Wales

Trong Lời Kêu gọi cảnh giác, các nhân sỹ cho rằng: “Càng bưng bít thông tin, càng gây thêm sự nhiễu loạn trong tâm trạng xã hội, đẩy tới sự mất lòng tin của mọi tầng lớp nhân dân với đảng cầm quyền và nhà nước vẫn tự xưng là của dân, do dân và vì dân vốn đã bị khủng hoảng trầm trọng nay càng dày thêm sự đổ vỡ trong nghi ngờ và phẫn nộ.”

GS Thayer của Đại học New South Wales, cũng là một chuyên gia về Việt Nam, cho rằng TBT Trọng được Tổng thống Mỹ Donald Trump mời tới thăm Washington trong năm nay và đó là vì sao chính phủ Việt Nam phải có trách nhiệm dập tắt các tin đồn và thông báo về tình trạng sức khỏe của ông Trọng.

Giải thích về lời kêu gọi cảnh giác đối với nhân dân, GS Tương Lai nói “khi một ghế quyền lực bị bỏ trống thì tình hình dễ biến động và bên ngoài sẽ kéo vào.”

“Chính đây là thời cơ cho các thế lực ngoại bang sát nách biến những toan tính bẩn thỉu bằng những hành động bất ngờ và thâm hiểm,” theo Lời kêu gọi cảnh giác của 4 nhân sỹ.

GS Tương Lai nói rằng “thế lực ngoại bang sát nách” ở đây không ngoài ai khác mà là kẻ thù truyền kiếp của Việt Nam, tức Trung Quốc. Ông cho biết lời kêu gọi trên nằm để người dân cảnh giác với việc đó cũng như thức tỉnh lòng yêu nước của người dân trong hoàn cảnh này.


VOA

Bí mật nào khiến ngân sách quý 1/2019 ‘có thặng dư’?


Từ năm tài khóa 2016, Chính phủ và Bộ Tài chính đã quyết định “ém” mà không đưa phần chi trả nợ gốc vào mục bội chi ngân sách, cố ép tỷ lệ bội chi/GDP giảm xuống để làm đẹp báo cáo.

Từ năm tài khóa 2016, Chính phủ và Bộ Tài chính đã quyết định “ém” mà không đưa phần chi trả nợ gốc vào mục bội chi ngân sách, cố ép tỷ lệ bội chi/GDP giảm xuống để làm đẹp báo cáo.

Thành tích mới thời ‘cướp đường đoạt ghế’

Chính phủ của thủ tướng ‘Cờ Lờ Mờ Vờ’ và ‘mỗi tỉnh là một đầu tàu kinh tế’ lại vừa đạt được một thắng lợi chính trị trong nội bộ đảng đang cướp đường đoạt ghế đến đại hội 13: kết thúc quý 1, chi ngân sách quốc gia thấp hơn thu ngân sách quốc gia 6.000 tỷ đồng, tương đương khoảng 250 triệu USD.

Nếu những con số trên được phản ánh trung thực và có thể tin cậy được, đây là quý hiếm hoi mà ngân sách Việt Nam không những không bị bội chi mà còn có được một chút dôi dư - điều trở nên kỳ diệu khi so sánh với mức bội chi ngân sách thời sếp của Nguyễn Xuân Phúc là Nguyễn Tấn Dũng, bình quân 5 - 6% GDP, tức luôn vượt hơn mức 5% mà Liên hiệp quốc quy định là ‘mức nguy hiểm’. Nạn tham nhũng và chi xài lãng phí vô giới hạn là hai đặc trưng trên bản mặt của thủ tướng thời đó.

Nguyễn Xuân Phúc có những quyết tâm riêng của ông ta. Sau khi chính thức thay thế ‘anh Ba X’ bị rớt đài với một trong những nguyên do chính là thành tích điều hành kinh tế vừa yếu kém vừa ‘chẳng biết gì’ về tài chính khiến bội chi ngân sách năm nào cũng như năm nào đều đội mồ sống dậy, thời của Phúc đã siết lại được phần nào kỷ luật thu chi ngân sách bằng chủ trương tiết kiệm chi thường xuyên (phần chi lương và phụ cấp cho đội ngũ công chức gần 3 triệu người), tiết giảm chi đầu tư phát triển, giảm biên chế…

Mức bội chi ngân sách được ‘quyết tâm’ kéo giảm’ xuống còn dưới 5% GDP, thậm chí lạc quan hơn thì dưới 3% GDP, tức vào khoảng 200.000 tỷ đồng.

Nhưng làm thế nào để kéo giảm tỷ lệ bội chi trong khi tỷ lệ chi thường xuyên trong tổng chi ngân sách vẫn chiếm đến 70 - 80 % mà không hề thuyên giảm, bất kể số thu ngân sách đang có chiều hướng đụng trần và sụt giảm mà đã khiến đảng cầm quyền lẫn chính phủ cuống quýt tìm cách đè đầu dân tăng nhiều loại thuế như VAT (giá trị gia tăng), thuế sử dụng đất và đủ các sắc thuế mang tính ‘kiến tạo’ khác mà bị người dân chửi rủa ‘chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy’…?

Trong khi đó, đội ngũ công chức không những không giảm mà còn phình to hơn đến gần 100 ngàn người từ thời ông Phúc trở thành thủ tướng. Còn phần chi đầu tư phát triển, mà về thực chất là chi cho các công trình hạ tầng cơ sở như giao thông, xây dựng cơ bản, trụ sở hành chính, bảo tàng, tượng đài… có bị cắt giảm phần nào, nhưng không phải là do “thành ý” của chính phủ mà bởi ngân sách đã khốn đốn đến mức chính giới quan chức chính phủ và quốc hội đã phải thừa nhận không còn biết tìm đâu ra tiền cho đầu tư phát triển nữa, hoặc do thực tế chậm giải ngân vốn đầu tư phát triển.

Vậy là như dân gian đương đại truyền khẩu ‘trong cái khó ló cái… khôn vặt’. Một trong những đặc trưng nổi bật của Thủ tướng Phúc mà đã không có ở thủ tướng Dũng là thiên bẩm về… số học.

Thủ thuật mới: ‘đá’ nợ gốc khỏi cơ cấu bội chi

Từ năm 2016, Nguyễn Xuân Phúc đã bắt đầu quan tâm đến GDP và cách làm sao để chỉ số giá trị tổng sản lượng quốc gia này chỉ có tăng khá đến tăng mạnh mà không thể tụt dốc. Hẳn đó là nguồn cơn vì sao trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam, theo nhiều đánh giá độc lập, vẫn ậm ạch và thực chất đã lao vào chu kỳ suy thoái kinh tế năm thứ 11 liên tiếp kể từ năm 2008, GDP vẫn được báo cáo quá sức hồng hào với tỷ lệ gần 7% và trên cả 7%. Tổng cục Thống kê đã trở thành một công cụ đầu sai ‘ngoan hiền dễ bảo’ cho những tính toán số học quá khó tin như thế.

Sau đó, thậm chí Thủ tướng Phúc còn manh dạn yêu cầu Tổng cục Thống kê ‘dưa kinh tế ngầm vào GDP’. Nguyên tắc là quá đơn giản của học sinh cấp 1: chỉ cần ước tính ‘kinh tế ngầm’ (nền kinh tế phi chính thức, bao gồm cả buôn lậu) khoảng 20- 30% GDP hiện hữu là sẽ có GDP tương lai vọt đến gần 300 tỷ USD, thừa sức đưa việt Nam trở thành ‘một trong những trung tâm kinh tế mới nổi trên thế giới’.

Cũng từ năm 2016, Thủ tướng Phúc đã quan tâm và chỉ đạo một vấn đề mà có lẽ vào thời Nguyễn Tấn Dũng đã chẳng nghĩ ra: không tính chi trả nợ gốc vào bội chi ngân sách nhà nước từ năm tài khóa 2016.

Đó là lý do tại sao từ năm tài khóa 2016, Chính phủ và Bộ Tài chính đã quyết định “ém” mà không đưa phần chi trả nợ gốc vào mục bội chi ngân sách, cố ép tỷ lệ bội chi/GDP giảm xuống để làm đẹp báo cáo, cùng với sự toa rập của một quốc hội mà chắc chắn thừa biết cái nguyên tắc đương nhiên phải tính nợ gốc vào cơ cấu bội chi, nhưng chỉ biết ‘gật’. Đó cũng là một bí mật riêng có của một chính thể độc đảng và độc quyền về công bố báo cáo thu chi ngân sách, bất chấp yêu cầu về minh bạch tài chính ngân sách của Liên hiệp quốc và các tiêu chuẩn hướng tới một nền kinh tế thị trường đúng nghĩa - điều mà chính thể này đang rất thèm muốn có được để được vay các nguồn tài chính ưu đãi từ quốc tế.

Đến năm tiếp theo - 2017, tỷ lệ bội chi ngân sách lập tức được kéo giảm đầy bất ngờ và kỳ lạ.

Cần nhắc lại, kế hoạch của chính phủ chi trả nợ gốc và lãi năm 2017 là khoảng 260 ngàn tỷ đồng, trong đó phần nợ gốc có thể chiếm khoảng 2/3 trong số đó, tức khoảng 170 ngàn tỷ đồng.

Với dự toán bội chi ngân sách năm 2017 là khoảng 250 ngàn tỷ đồng, nếu tính cả phần chi trả nợ gốc vào bội chi ngân sách năm 2017, con số bội chi thực sự sẽ lên đến khoảng 420 ngàn tỷ đồng, chiếm đến khoảng 8-9% GDP (so với GDP năm 2017 khoảng 210 - 220 tỷ USD) tức còn cao hơn hẳn mức bội chi kỷ lục “thời Nguyễn Tấn Dũng” vào năm 2013 là 6,6% GDP.

Cũng với thủ thuật ‘ém nợ gốc’như thế, năm 2018 đã được hệ thống tuyên giáo và báo đảng tung hô ‘lần đầu tiên sau 13 năm, ngân sách thặng dư 400 tỷ đồng’.

Còn năm 2019 thì sao?

Vẫn trên 5%?

2019 lại là năm ‘bản lề’ của công cuộc ‘xác định cán bộ cấp chiến lược cho đại hội 13’ - một đại hội của đảng cầm quyền mà nếu còn xảy ra thì sẽ vào năm 2021. Cuộc đua đến đại hội này ngày càng trở nên quyết liệt và sắc máu, mà ngoài truyền thống tung hê đơn thư tố cáo nội bộ trên mạng xã hội cùng hiệu ứng đáng sợ của chiến dịch ‘đốt lò’, thì bất cứ kết quả nào được xem là khả quan về thành tích điều hành kinh tế - ngân sách cũng ghi điểm cho quan chức cao nhất trong Bộ Chính trị có cơ hội điều hành kinh tế là Nguyễn Xuân Phúc.

Nhưng vào quý 1 năm 2019, ngân sách Việt Nam phải trả nợ 4 tỷ USD, tương đương khoảng hơn 90.000 tỷ đồng. Nếu tỷ lệ nợ gốc/tổng nợ phải trả vẫn khoảng 2/3, con số nợ gốc mà ngân sách Việt Nam phải trả vào quý 1 năm 2019 là 60.000 tỷ đồng. Mà như vậy, không thể có chuyện ngân sách ‘có thặng dư 6.000 tỷ đồng’, mà đã bội chi gấp 10 lần con số đó trong quý 1 năm 2019, biến ‘thành tích’ của Thủ tướng Phúc thành nỗi bất hạnh cho cá nhân ông ta, nhưng trên hết là cả một dân tộc bị đè đầu bóp họng để có tiền trả nợ.

Để nếu mức bội chi ngân sách 60.000 tỷ đồng của quý 1 được mặc định cho nguyên năm 2019, tỷ lệ bội chi ngân sách 2019 sẽ vẫn là một bản sao trung thành của thời Nguyễn Tấn Dũng: trên 5%.


Phạm Chí Dũng
Blog VOA

Qui hoạch: Trọng tội khó dung nhưng ai tính?


Cho dù trong vòng một tháng, ông Nguyễn Xuân Phúc, Thủ tướng Việt Nam, hai lần lên tiếng, yêu cầu chính quyền thành phố Hà Nội “làm rõ” vấn nạn 2.000 héc ta ở huyện Mê Linh bị bỏ hoang suốt mười năm vừa qua nhưng không ai tin vấn nạn này sẽ được giải quyết tới nơi, tới chốn (1).

Xe cộ giờ tan tầm Hà Nội.

Mê Linh vốn là một huyện thuộc tỉnh Vĩnh Phúc, đến giữa năm 2008 được sáp nhập vào thành phố Hà Nội. Giờ, sau mười năm, Mê Linh trở thành một trong nhiều bằng chứng sống động về dã tâm của kế hoạch “Điều chỉnh, mở rộng địa giới hành chính Thủ đô” từ từ 921 cây số vuông thành 3.324 cây số vuông.

***

Mười năm trước, giống như nhiều chuyên gia, nhân sĩ ở cả bên trong lẫn bên ngoài Việt Nam, ông Võ Văn Kiệt – cựu Thủ tướng Việt Nam – phản đối kịch liệt việc mở rộng Hà Nội. Trong một thư ngỏ gửi các đại biểu Quốc hội lúc ấy, ông Kiệt lên án chủ trương “mở rộng Hà Nội” là quá vội vàng.

Ông Kiệt lưu ý “mở rộng Hà Nội” chỉ là ý tưởng nảy sinh trong quá trình thực hiện đồ án “Quy hoạch Vùng Thủ đô”, chưa được nghiên cứu thấu đáo, song Thủ tướng lúc ấy – ông Nguyễn Tấn Dũng – đã đem ra… trình Quốc hội. Ông Kiệt nhấn mạnh, quy hoạch đô thị là một lĩnh vực đa ngành, tiếp cận và xử lý nhiều phạm trù tri thức, tác động nhiều chiều đến nhiều mặt của cuộc sống và ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát triển chung của quốc gia, thành ra mở rộng đến đâu, mở rộng như thế nào, mở rộng để làm gì,… phải phối hợp nhiều ngành để nghiên cứu nghiêm túc mới mong có được một dự báo đủ căn cứ, đáng tin cậy, có viễn kiến. Ông Kiệt còn dùng chính thực tế “phát triển đô thị” ở Viẹt Nam sau “đổi mới” để nhắc nhở về hàng loạt khiếm khuyết có thể dẫn tới “khủng hoảng đô thị” và kêu gọi các đại biểu Quốc hội lúc ấy ngẫm nghĩ, hành động thận trọng (2).

Đầu tháng 5 năm 2008, Thư ngỏ vừa kể đã được hệ thống truyền thông chính thức tại Việt Nam công bố rộng rãi như một trong những biểu thị đồng phản kháng của báo giới. Ở đầu Kỳ họp thứ ba của Quốc hội khóa 12 – diễn ra trong suốt tháng 5 năm 2008 – chỉ có 45% đại biểu Quốc hội tán thành chủ trương “mở rộng Hà Nội”.

Tuy nhiên ngay sau đó, Đoàn Đại biểu của các địa phương tại Quốc hội liên tục tổ chức họp riêng để “quán triệt” về “chủ trương lớn – mở rộng Hà Nội” của đảng. Ngày 29 tháng 5 – Nghị quyết “mở rộng Hà Nội” được đem ra biểu quyết lần thứ hai. Lần này, có 458/475 đại biểu… nhất trí. Tỉ lệ tán thành khoảng 93% (3).

***

Nay, hậu quả đã rõ! Các viên chức hữu trách ở Mê Linh chính thức phân trần với công chúng: 2.000 héc ta đất bị bỏ hoang tại huyện này là do… “chủ trương lớn – mở rộng Hà Nội”. Đất ở Mê Linh được gom, khoảng 60 dự án phát triển đô thị được trình, được duyệt trước khi Mê Linh thôi thuộc Vĩnh Phúc để trở thành một phần của… Thủ đô!

“Chủ trương lớn – mở rộng Hà Nội” khiến một số cá nhân, doanh nghiệp hăm hở “đi tắt, đón đầu” song đó lại là đường cụt. Tuy Mê Linh đã thuộc Hà Nội nhưng thị trường bất động sản đóng băng suốt từ đó đến nay. Không ít cá nhân, doanh nghiệp đã phá sản hoặc dở sống, dở chết vì nợ nần. Hệ thống ngân hàng chao đảo do cho vay nhưng không thu hồi được cả vốn lẫn lãi, nợ xấu mà hệ thống ngân hàng phải ôm trở thành ác mộng của cả quốc gia. Nông dân mất đất canh tác, không còn sinh kế, suốt mười năm ngóng tiền bồi thường vì “nhà đầu tư” chưa trả. Đâu chỉ có Mê Linh! Theo một thống kê của Sở Kế hoạch – Đầu tư thành phố Hà Nội thì “chủ trương lớn – mở rộng Hà Nội” còn cho chào đời 51 dự án chỉ thu hồi đất rồi bỏ hoang ở huyện Hoài Đức, 48 dự án ở quận Nam Từ Liêm, 25 dự án ở quận Hoàng Mai, 23 dự án ở quận Bắc Từ Liêm…

Năm ngoái, nhân dịp kỷ niệm mười năm thực hiện “chủ trương lớn - mở rộng Thủ đô”, ông Trần Huy Ánh – Kiến trúc sư, thành viên Hội Kiến trúc sư Việt Nam – chia sẻ rằng, mười năm vừa qua, Hà Nội chỉ rất thành công trong phát triển bất động sản, còn kết quả của chiến lược phát triển đô thị một cách bền vững thì rất hạn chế. Đường sá nhiều hơn nhưng không ai dám nói chuyện đi lại dễ dàng hơn. Hệ thống thoát nước chưa đáp ứng được trước những thách thức của biến đổi khí hậu, chưa có kịch bản nào mang tính chiến lược trong vấn đề thoát nước. Các cao ốc mọc lên như nấm chỉ khiến người ta lo ngại nhiều hơn về sự cân đối của hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng đô thị, hạ tầng xã hội. Chẳng hạn trẻ em đến trường thiếu an toàn hơn cách nay mười năm, người ta mất nhiều thời gian hơn cho việc đưa trẻ đến trường. Nguy cơ lây nhiễm vì bệnh viện quá tải cao hơn (5)...

Cũng từ năm ngoái, sai lầm của “chủ trương lớn – mở rộng Thủ đô” bắt đầu được báo giới Việt Nam đề cập. Viễn cảnh đại đô thị trải dài từ tả ngạn sông Hồng đến sát khu vực trung du phía Bắc mà “chủ trương lớn – mở rộng Thủ đô” vẽ ra, hóa ra chỉ kích hoạt được làn sóng đầu tư bất động sản lớn chưa từng có. Việc thu hồi hàng trăm ngàn héc ta đất để giao cho các dự án bất động sản đã khiến cuộc sống, sinh hoạt của 180.000 gia đình nông dân bị lộn ngược. Ngay cả tờ Nhân Dân – Cơ quan ngôn luận của Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN – cũng than: …Chưa ai thấy được chuyển biến nào đáng kể của năm khu đô thị vệ tinh. Rồi Thủ đô sẽ lại kỷ niệm hai mươi năm ngày mở rộng. Mười năm nữa Hà Nội sẽ ra sao? Sẽ mở rộng hay thu hẹp? Nhiều người bảo sao cũng được, miễn là được ăn sạch, thở sạch và không tắc đường (6)...

***

“Chủ trương lớn – mở rộng Thủ đô” không phải do ngu dốt. Đó là một nỗ lực nhằm tạo điều kiện cho một số cá nhân, một số nhóm trục lợi bất chấp hậu quả. Vấn nạn 2.000 héc ta ở huyện Mê Linh bị bỏ hoang suốt mười năm vừa qua chỉ là một trong nhiều khía cạnh của thảm họa “mở rộng Hà Nội”.

Giống như trước nay, yêu cầu “làm rõ” của ông Phúc có vô số điểm chưa rõ và điểm chưa rõ đáng bận tâm nhất là có “làm rõ” và truy cứu trách nhiệm của những cá nhân có liên quan, buộc những cá nhân này phải trả giá hay không? Có “làm rõ” cả trách nhiệm của ông Nguyễn Phú Trọng, lúc đó là Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội không?

Nếu “làm rõ” vẫn chỉ là vô số lần từng làm mà chưa bao giờ thật sự rõ, “làm rõ” mà không truy đến tận căn, không trị tận gốc thì Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương đảng CSVN hết khóa này tới khóa khác sẽ còn tiếp tục thản nhiên, thông qua – ban hành những “chủ trương lớn” tương tự và Quốc hội hết khóa này tới khóa khác sẽ còn tiếp tục “nhất trí”, trong trường hợp lương tâm của nhiều đại biểu còn đủ sức để cựa quậy, đảng sẽ tiếp tục “quán triệt” để cuối cùng cũng đạt được sự đồng thuận cao.


Trân Văn
Blog VOA

Chuyển giao quyền lực ở Việt Nam trước vấn đề sức khỏe của ông Trọng hiện nay


Ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tuyên thệ nhậm chức Chủ tịch nước. 23/10/2018.


Nhấp vào nút play (►) dưới đây để nghe

Chính trường Việt Nam những ngày qua được giới quan sát cho là “nóng lên” liên quan những đồn đoán về tình trạng sức khỏe của Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng. Đài RFA có cuộc trao đổi với nhà quan sát tình hình Việt Nam, Tiến sĩ Phạm Chí Dũng để tìm hiểu về sự chuyển giao quyền lực ở Việt Nam sẽ ra sao trong bối cảnh sắp diễn ra Đại hội Trung ương 10 và Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) XIII vào năm 2021 ?

Trước hết, Tiến sĩ Phạm Chí Dũng nhận định về thông tin Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc sẽ tham dự Diễn đàn “Vành đai-Con đường” lần thứ 2 tại Bắc Kinh, Trung Quốc từ ngày 25 đến ngày 27 tháng 4 vừa được Bộ Ngoại Giao Việt Nam thông báo vào ngày 22 tháng 4:

Tiến sĩ Phạm Chí Dũng: Việc cử Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đi dự Diễn đàn “Vành đai-Con đường” ở Trung Quốc thì đã vô hình trung gián tiếp xác nhận những thông tin đồn đoán trước đó, nhưng có cơ sở về chuyện trước khi đi Mỹ thì ông Nguyễn Phú Trọng sẽ đi Trung Quốc và dự diễn đàn này. Và việc cử ông Nguyễn Xuân Phúc đi Trung Quốc cũng là một dấu chỉ gián tiếp xác nhận về tình trạng ông Nguyễn Phú Trọng có vấn đề về sức khỏe, theo rất nhiều những đồn đoán trong những ngày vừa qua. Đồng thời, cũng cho thấy đây chính là thêm một dấu hiệu chuyển giao quyền lực nữa từ Nguyễn Phú Trọng sang những quan chức cấp thấp hơn, chẳng hạn như ông Nguyễn Xuân Phúc, tức là phải ủy quyền cho một quan chức nằm trong “tam trụ” đi dự Diễn đàn “Vành đai-Con đường”.

Trước đó đã có một chỉ dấu về chuyện chuyển giao quyền lực của ông Nguyễn Phú Trọng cho những quan chức khác trong việc tiếp đón khách nước ngoài là tiếp một đoàn khách quan trọng của Thượng Nghị viện Mỹ, do Thượng Nghị sĩ Leahy dẫn đầu đến Việt Nam làm việc. Và, người tiếp ông Leahy và đoàn Thượng Nghị sĩ Mỹ không phải là ông Nguyễn Phú Trọng mà là Thường trực Ban Bí thư Trần Quốc Vượng.

Do đó có thể nói toàn bộ những dấu chỉ đó cho thấy quả thực ông Nguyễn Phú Trọng có vấn đề về sức khỏe, thậm chí là không nhẹ nhàng một chút nào đối với vấn đề sức khỏe của ông Trọng.

RFA: Sắp tới đây, Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ tổ chức Hội nghị Trung ương 10. Trong tình huống ông Nguyễn Phú Trọng có vấn đề về sức khỏe và Hội nghị Trung ương 10 tiến hành không có sự tham dự của ông Nguyễn Phú Trọng thì sẽ thế nào?

Tiến sĩ Phạm Chí Dũng: Hội nghị Trung ương 10 là hội nghị thường niên tiếp theo Hội nghị Trung ương 9, được tổ chức vào cuối tháng 12/2018. Hiện nay chỉ biết Hội nghị Trung ương 10 theo truyền thống sẽ diễn ra trước kỳ họp Quốc Hội giữa năm, bắt đầu từ ngày 20/05/2019 cho nên chưa biết nội dung của nghị trình Hội nghị Trung ương 10 gồm những gì. Nhưng chắc chắn sẽ có những nội dung quan trọng, trong đó sẽ bàn tới vấn đề như cơ cấu cán bộ cấp chiến lược để chuẩn bị cho Đại hội Đảng CSVN XIII, diễn ra trong năm 2021.

Tuy nhiên trong tình hình ông Trọng bệnh tật thì có khả năng Hội nghị Trung ương 10 nếu có diễn ra theo lịch trình thì cũng sẽ không tập trung một cách đầy đủ vào những nội dung cần có của nó, chẳng hạn như vấn đề cơ cấu cán bộ cấp chiến lược hay công việc “đót lò” (chống tham nhũng).

Và ngay trước Hội nghị Trung ương 10 thì thân phận của ông Nguyễn Phú Trọng sẽ phải đối mặt với một thách thức rất lớn, là cựu Chủ tịch nước Lê Đức Anh vừa từ trần và theo nguyên tắc của Đảng thì ông Nguyễn Phú Trọng sẽ làm Trưởng ban Lễ tang trong đám tang của cựu Chủ tịch nước Lê Đức Anh. Bây giờ người ta đang trông chờ xem quốc tang của ông Lê Đức Anh sẽ được chủ trì bởi trưởng ban lễ tang nào, là ông Nguyễn Phú Trọng hay là một người khác? Và nếu không phải là ông Nguyễn Phú Trọng thì lại thêm một chỉ dấu nữa, thêm một bằng chứng nữa cho thấy quả thực vấn đề sức khỏe của ông Trọng đang rất lớn. Nhiều thông tin còn cho rằng ông Trọng đang nằm trong chỗ được gọi là Khoa Tích cực Điều trị, số hiệu là A11 của Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, ở Hà Nội.

RFA: Giả sử có hai tình huống sẽ xảy ra trong Đại hội Đảng CSVN XIII diễn ra trong năm 2021. Trong tình huống thứ nhất, sức khỏe ông Nguyễn Phú Trọng được hồi phục, khỏe mạnh và thời điểm đó ông 77 tuổi. Có khả năng nào ông Nguyễn Phú Trọng sẽ được tín nhiệm và được tiếp tục bầu chọn cho vị trí đương nhiệm hiện giờ hay không?

Tiến sĩ Phạm Chí Dũng: Có hai khả năng và đều tùy thuộc vào những văn bản do bên phía ông Trọng, cụ thể là Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, một trong những người được coi là thân tín của ông Trọng soạn thảo ra. Một là, nếu trong Điều lệ Đảng tiếp tục ghi “theo quy định có những trường hợp đặc biệt”, nhưng lại không giải thích trường các hợp đặc biệt đó là như thế nào. Những trường hợp đặc biệt như vậy sẽ được coi là trường hợp được đặc cách về mặt tuổi tác, về mặt sức khỏe hay ví dụ như có khái niệm mà ông Trọng đã sáng tác ra trước đây là “không tham vọng quyền lực” hay bảo đảm những yếu tố “người Bắc có lí luận”…Những trường hợp đặc biệt như thế là hoàn toàn có thể sửa đổi Điều lệ Đảng, sửa đổi những quy định dưới Điều lệ Đảng liên quan đến việc bầu cử tại các Đại hội Đảng cao cấp để cho ông Trọng có thể “ngồi” tiếp và “ngồi” mãi. Đây là một cơ sở có thể thay đổi.

Nếu không bị thách thức bởi vấn đề sức khỏe thì nhiều khả năng, người ta đang thấy ông Trọng không những giữ chức vụ tới cuối nhiệm kỳ Đại hội Đảng CSVN XII, mà còn tiếp tục “ngồi” ở Đại hội Đảng CSVN XIII và có thể tiếp tục sau đó nữa như một dạng “Hoàng đế Tập Cận Bình” ở Trung Quốc

-TS. Phạm Chí Dũng
Cơ sở thứ hai là làm theo cách của Tập Cận Bình, ở Trung Quốc: Sửa đổi Hiến Pháp. Hồi năm 2018, ông Tập Cận Bình có lẽ có những tác động đủ mạnh mẽ và đủ ma mãnh tới toàn bộ Quốc Hội của Trung Quốc để khiến cho toàn bộ Quốc Hội Trung Quốc đã phải gật đầu với một quy định chưa có tiền lệ là bỏ Quy định giới hạn 2 nhiệm kỳ đối với vai trò Chủ tịch nước. Do vậy, vô hình trung cho thấy ông Tập Cận Bình nếu muốn thì có thể ngồi tại ghế Chủ tịch nước kiêm Tổng Bí thư suốt đời và trở thành “Hoàng đế Tập Cận Bình”.

Ông Nguyễn Phú Trọng, ở Việt Nam cũng có thể giống như vậy. Và nếu không bị thách thức bởi vấn đề sức khỏe thì nhiều khả năng, người ta đang thấy ông Trọng không những giữ chức vụ tới cuối nhiệm kỳ Đại hội Đảng CSVN XII, mà còn tiếp tục “ngồi” ở Đại hội Đảng CSVN XIII và có thể tiếp tục sau đó nữa như một dạng “Hoàng đế Tập Cận Bình” ở Trung Quốc.

RFA: Như vậy trong tình huống thứ hai ngược lại, tại thời điểm đó mà sức khỏe của ông Nguyễn Phú Trọng không thể đảm đương chức vụ được nữa thì chuyện gì sẽ xảy ra và khi đó các ứng cử viên sáng giá nào có thể thay thế nắm giữ hai chức vụ quan trọng Tổng Bí thư và Chủ tịch nước?

Tiến sĩ Phạm Chí Dũng: Cho đến Đại hội Đảng CSVN XIII, nếu tình hình lúc đó ông Nguyễn Phú Trọng không thể bảo đảm sức khỏe để cống hiến lâu dài cho Đảng và cho dân tộc thì chắc chắn ông Trọng phải buông rời quyền lực và trở thành một “Thái Thượng hoàng”, một dạng cố vấn hay lui về hoàn toàn để cố gắng làm “người tử tế” giống ông Nguyễn Tấn Dũng. Và lúc đó sẽ xuất hiện một số khuôn mặt mới. Cho tới nay đang xuất hiện cho cương vị Tổng Bí thư tại Đại hội Đảng CSVN XIII bao gồm:

 Bốn ứng cử viên có thể được chọn thay thế đảm nhiệm chức vụ của ông Nguyễn Phú Trọng. RFA edited 
Người sáng giá nhất được cho là ông Trần Quốc Vượng, Thường trực Ban Bí thư, người được cho là tin cậy và thân tín của ông Nguyễn Phú Trọng.

Thứ hai là Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Phạm Minh Chính, cũng là người được ông Trọng đưa lên giữ vị trí Thứ trưởng Bộ Công An và Bí thư tỉnh Quảng Ninh.

Thứ ba là Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, có lẽ là một trường hợp đặc biệt vì ông Phúc nắm khối Hành pháp và hiện nay ông Phúc về mặt thực lực, quyền bính cũng như được coi là mạnh mẽ về kinh tài thì Nguyễn Xuân Phúc là người nổi bật hơn cả. Thế nhưng, về mặt nội bộ thì lại có những thông tin cho rằng ông Nguyễn Xuân Phúc không được lòng ông Nguyễn Phú Trọng bằng như hai ông Trần Quốc Vượng và Phạm Minh Chính.

Còn một nhân vật khác phải kể đến, dù chỉ là một nhân vật trung dung nhưng đang giữ chức vụ mà ông Nguyễn Phú Trọng đã từng đảm nhiệm là Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân. Mặc dù, bà Kim Ngân được coi là nhân vật yếu thế nhất trong số những gương mặt ứng cử viên cho Tổng Bí thư ở Đại hội Đảng CSVN XIII hiện nay.

Thế nhưng thật ra sau biến cố xảy ra đối với ông Nguyễn Phú Trọng tại Kiên Giang thì tình hình chuyển giao quyền lực, đột biến quyền lực và khoảng trống quyền lực đã xuất hiện. Khoảng trống quyền lực này là rất lớn. Hai “cái ghế” vừa Tổng Bí thư vừa Chủ tịch nước do Nguyễn Phú Trọng đang để lộ ra, nếu không muốn nói là để lại. Như chúng ta biết theo quy luật vật lý “nước chảy chỗ trũng” thì khoảng trống quyền lực càng lớn, có nghĩa là chỗ trũng sẽ càng lớn và nước chảy càng mạnh. Do đó ngay bây giờ, tôi tin rằng đã bắt đầu một cuộc đua rất mạnh mẽ, rất sôi nổi, rất quyết thắng và có lẽ không kém cạnh gì về các thủ thuật chính trị để tranh giành những vị trí và khoảng trống quyền lưc do ông Nguyễn Phú Trọng để lại ngay tại thời điểm này, chứ không còn chờ cho đến Đại hội Đảng CSVN XIII nữa.

RFA: Một số những nhân sĩ trí thức kêu gọi cảnh giác yếu tố Trung Quốc vì họ lo ngại trong tình huống sức khỏe của ông Trọng không tốt, có thể có bàn tay của Trung Quốc nhúng vào trong cuộc đua thay thế cho vị trí của ông Trọng. Tiến sĩ Phạm Chí Dũng nghĩ sao?

Tiến sĩ Phạm Chí Dũng: Chắc chắn là sẽ có bàn tay của Trung Quốc. Không chỉ ở Đại hội Đảng CSVN XIII mà đã có tiền lệ từ nhiều Đại hội trước đó. Đã có những thông tin rằng thậm chí Trung Quốc có thể can thiệp nhân sự cấp Bộ Chính trị ở Việt Nam. Tuy nhiên, chưa có những bằng chứng có thể kiểm chứng được vấn đề này. Và rất nhiều dư luận đã bức bối về chuyện Bộ Chính trị Việt Nam khá là thiếu bản lĩnh để cho Trung Quốc can thiệp sâu vào công tác nhân sự.

Tại Đại hội Đảng CSVN XIII có lẽ trong tình cảnh rối ren về mặt nhân sự ở Việt Nam và ngay lúc này đây, tôi nghĩ rằng Trung Quốc đã đặc biệt quan tâm đến vấn đề sức khỏe của Nguyễn Phú Trọng và quan tâm tới tương lai hậu Nguyễn Phú Trọng sẽ như thế nào đối với Bộ Chính trị Việt Nam và đặc biết đối với vấn đề “tam trụ” hoặc “tứ trụ” của Việt Nam tại Đại hội Đảng CSVN XIII.

Chắc chắn là Trung Quốc sẽ có những sự can thiệp tác động nhất định và cũng không loại trừ có những tác động theo dạng răn đe, khủng bố tinh thần và tâm lý, và đe dọa quân sự giống như vụ Giàn khoan Hải Dương 981 đưa vào Biển Đông hồi tháng 5 năm 2014, hoặc là việc điều động một số binh đoàn, sư đoàn, quân đoàn tập trung ở biên giới phía Bắc vào những năm đó. Thế thì chắc chắn sẽ có những tác động và những tác động đó sẽ diễn ra trên nhiều mặt bao gồm ngoại giao, chính trị và cả kinh tế nữa.

RFA: Trong thời gian gần đây, với những kêu gọi Việt Nam cần đẩy mạnh hơn nữa trong cải cách thể chế để tiến bộ và phát triển nhanh hơn và tại Đại hội Đảng CSVN XIII cho dù ông Trọng hay những nhân vật khác nắm giữ chức vụ cao nhất là Tổng Bí thư và Chủ tịch nước thì có hy vọng nào cho Việt Nam sẽ thay đổi với tam quyền phân lập được rõ ràng hơn kể từ sau Đại hội Đảng năm 2021?

Tiến sĩ Phạm Chí Dũng: Thực ra hy vọng để Việt Nam cải cách thể chế, trong đó có cải cách thể chế theo yêu cầu của phương Tây đang xuất hiện trong năm 2019 này, phụ thuộc vào các hiệp định thương mại quốc tế mà Việt Nam đang đuổi.

Một là Hiệp định Đối tác Tòa diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) mà đã ký kết và đang triển khai vào đầu năm 2019. Đây là hiệp định đặt nặng về quyền lợi của người lao động và công đoàn độc lập mà Việt Nam phải bảo đảm.

Hiệp định thứ hai là Hiệp định Thương mại Tự do Châu Âu-Việt Nam (EVFTA) và nếu như Việt Nam chịu cam kết cải thiện một số điều kiện nhân quyền theo gói yêu cầu cải thiện nhân quyền mà Nghị viện Châu Âu đã ban hành vào tháng 11/2018 thì có nhiều khả năng Hiệp định khung về EVFTA sẽ được Nghị viện mới của Châu Âu chấp thuận cho kết và phê chuẩn trong mùa hè này. Nhưng tôi muốn nhấn mạnh dù cho ký kết Hiệp định khung EVFTA thì cũng chỉ là hiệp định khung về pháp lý thôi. Còn sau đó, hiệp định được coi là có lợi ích thương mại trực tiếp đối với Việt Nam là Hiệp định Bảo hộ Đấu tư Thương mại Châu Âu-Việt Nam (EVIBA) mới là quan trọng nhất. Cả hai Hiệp định EVFTA và EVIBA đều đề cập tới những vấn đề cải thiện nhân quyền mật thiết tới Việt Nam như là việc ký 3 Công ước Quốc tế còn lại về lao động của Tổ chức Lao động Quốc tế, việc Việt Nam phải ban hành Luật về Hội một cách thực chất và bảo đảm việc thừa nhận, công nhận môi trường cho các tổ chức xã hội dân sự độc lập ở Việt Nam hoạt động, việc Việt Nam phải ban hành Luật Biểu tình và đồng thời phải trả tự do cho tất cả tù nhân lương tâm cũng như phải tôn trọng tự do báo chí và tôn trọng chính sách tham vấn các tổ chức xã hội dân sự cho các chính sách phát triển EVFTA…Nếu như Việt Nam cải thiện vấn đề này thì có hy vọng sẽ có một không gian mở hơn cho dân chủ ở Việt Nam.

Tôi cho là đa số tập thể Bộ Chính trị hiện nay vì quyền lợi và sinh mạng chính trị của họ và kể cả những tài sản thuộc thân nhân của họ chủ yếu nằm ở phương Tây thì họ sẽ dễ thỏa hiệp hơn với phương Tây về vấn đề cải cách thể chế và cải thiện dân chủ nhân quyền. Và do đó sẽ là cơ hội mở để cho dân chủ nhân quyền và vấn đề tam quyền phân lập, cũng như nhà nước pháp quyền mới của việt Nam chứ không phải nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa được hình thành, ra đời trong khoảng sau năm 2020

-TS. Phạm Chí Dũng
Và nếu như trong thời gian tới mà ông Nguyễn Phú Trọng hồi phục sức khỏe hoặc cho dù ông Trọng không hồi phục sức khỏe nhưng vẫn nhận được lời mời của Tổng thống Donald Trump thăm Hoa Kỳ trong năm 2019 đối với một quan chức khác được Nguyễn Phú Trọng cho đầy đủ thẩm quyền để có thể bàn bạc với ông Trump về thương mại và quân sự thì có thể không gian dân chủ ở Việt Nam sẽ còn được mở rộng hơn nữa. Tại vì những yêu cầu của ông Trump không nhấn mạnh về vấn đề nhân quyền nhưng đặc biệt nhấn mạnh vào vấn đề kinh tế thị trường, mà theo đúng nghĩa đen của kinh tế thị trường là một trong những yếu tố hiện nay, những nhu cầu cao nhất mà Việt Nam đang theo đuổi do có kinh tế thị trường thì Việt Nam tiếp cận được những nguồn vốn vay với lãi suất ưu đãi và thời gian ân hạn từ các tổ chức tài chính tín dụng có tiếng của quốc tế như Quỹ IMF, Ngân hàng Thế giới hay Ngân hàng Phát triển Á Châu và một số tổ chức tín dụng tài trợ khác.

Tôi nghĩ rằng đây là một năm có thể thay đổi ở Việt Nam về vấn đề dân chủ và thậm chí đặt ra những tiền đề về cải cách thể chế. Và kịch bản đến năm 2020 và năm 2021sẽ tùy thuộc phần lớn vào sức khỏe của ông Nguyễn Phú Trọng. Nếu trường hợp ông Trọng hồi phục được sức khỏe thì ông sẽ tiếp tục “ngồi” đến cuối năm 2020 để chuẩn bị cho Đại hội Đảng CSVN XIII. Lúc đó tôi cho là độ mở của dân chủ và vấn đề cải cách thể chế tương đối hạn hẹp, không lớn lắm so với một não trạng bảo thủ như của ông Trong. Nhưng trong trường hợp ông Trong không đủ duy trì sức khỏe để “ngồi” tiếp và phải chuyển giao quyền lực cho những nhân vật khác thì tôi tin rằng các nhân vật còn lại trong Bộ Chính trị hiện nay đều mang khuynh hướng rất thực dụng và cũng dễ tránh xa những cạm bẫy của Trung Quốc.

Tôi cho là đa số tập thể Bộ Chính trị hiện nay vì quyền lợi và sinh mạng chính trị của họ và kể cả những tài sản thuộc thân nhân của họ chủ yếu nằm ở phương Tây thì họ sẽ dễ thỏa hiệp hơn với phương Tây về vấn đề cải cách thể chế và cải thiện dân chủ nhân quyền. Và do đó sẽ là cơ hội mở để cho dân chủ nhân quyền và vấn đề tam quyền phân lập, cũng như nhà nước pháp quyền mới của việt Nam chứ không phải nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa được hình thành, ra đời trong khoảng sau năm 2020.

RFA: Chân thành cảm ơn Tiến sĩ Phạm Chí Dũng dành thời gian cho cuộc phỏng vấn này với Đài RFA.


Hòa Ái
RFA

Ông Trọng “giả chết bắt quạ” hay “lộng giả thành chân”?


Hình minh họa. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (trái), Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng (giữa) và Phó Thủ tướng (lúc đó) Nguyễn Xuân Phúc nâng cốc ở văn phòng Đảng Cộng sản ở Hà Nội hôm 5/11/2015

Tựu chung lại có hai xu hướng đối nghịch nhau. Xu hướng thứ nhất, cho rằng, ông Trọng giả vờ ốm để phản lệnh (cancel) chuyến đi “triều cống” cuối tháng Tư này trước khi ông vượt Đại Tây Dương sang bàn chuyện lớn với Mỹ vào mùa hè đang tới. Xu hướng thứ hai, đó là ông Trọng ốm thật. Cây quyền trượng trong tay Tổng – Chủ sau ngày 14/4 không bao giờ trở lại được như xưa nữa.

Tin mới nhất chiều 22/4/2019 từ Bộ Ngoại giao Việt Nam hỗ trợ cho giả thuyết ông Trọng tránh đi Bắc Kinh. Theo thông báo của Bộ Ngoai giao, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc sẽ dẫn đầu phái bộ Việt Nam tham dự Diễn đàn “Vành đai và Con đường” (BRF) tại Bắc Kinh, từ ngày 25—27/4 tới đây.

Con số 37 nguyên thủ và người đứng đầu chính phủ (trong đó có 10 nước ASEAN) sẽ có mặt tại BRF nói lên thái độ thận trọng của các nước, nhất là châu Âu đối với cái gọi là “sáng kiến vành đai con đường” (BRI).

 Bản đồ các dự án hạ tầng cơ sở mà Trung Quốc xây dựng ở các nước trong sáng kiến Vành Đai Con Đường AFP 
Và việc ông Trọng né qua Bắc Kinh dự thượng đỉnh quảng bá cho BRI, một món hàng đang ngày càng trở thành ế ẩm của Tập chủ tịch càng làm cho giả thuyết “giả chết bắt quạ” lâu nay có phần nổi trội hơn trong dư luận ở Việt Nam.

Trở lại việc Tổng – Chủ đã tới vùng “đất dữ” của Ba Ếch là câu chuyện “xưa nay hiếm”. Trong nhiệm kỳ rưỡi này, ông Trọng đã bay vào Nam đôi ba lần. Lần này, cực chẳng đã, ông có “chuyến kinh lý Kiên Giang”, nhưng ở lại lâu hơn không tiện, mà muốn rút sớm thì chỉ còn cách đập bệnh bỏ về giữa chừng.

Mà đập bệnh như vừa qua rõ ràng là “nhất cử lưỡng tiện”, vừa rút quân được sớm, mà lại rút êm. Nhưng điều quan trọng hơn, như tin chiều 22/4 cho thấy, ông Trọng tránh được cuộc “khấu đầu” tại Bắc Kinh theo một kế hoạch được lên khuôn từ trước.

“Cancel” được chuyến đi Tầu lần này là một phép thử lớn. Thứ nhất, Tổng – Chủ có yêu cầu được “rửa mặt” thực sự trước phản ứng trong nước và quốc tế, rằng ông là một “Petit Tầu”. Thứ hai, Tổng – Chủ muốn làm một cú đảo chiều xem Trung Quốc sẽ hành xử ra sao nếu ông phản lệnh trên thực tế. Thứ ba, ông cần làm rõ, giàn khoan Đông Phương 13/2 hiện nay ngoài cửa Vịnh Bắc bộ liệu có phải là “thanh gươm Damocles” treo lơ lửng trong thời gian ông ở Mỹ?

Nhất là với quyết định đã lấy trong nội bộ, Việt Nam rồi đây sẽ “giãn Trung” mạnh hơn nhưng vẫn muốn duy trì quán tính lịch sử “sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Tràng Khanh”. Hai tháng Ba và Tư vừa qua, Việt Mỹ đã bang giao tấp nập. Mà phía Mỹ cũng không hề dấu diếm, tấp nập như thế là để chuẩn bị cho chuyến thăm Whashington của Nguyễn Phú Trọng.

Tuy nhiên, “lộng giả thành chân” vẫn là một giả thuyết đối nghịch với kịch bản ốm vờ, được nhiều “fan” ủng hộ. Ông Trọng ốm thật, chứ không phải đóng kịch. Và rõ ràng, quyền lực của Tổng – Chủ không thể nói là không suy suyển sau cú cảm mạo vào đúng ngày sinh nhật lần thứ 75 của ông. Dù sao mặc lòng, thực hư của biến cố 14/4 tại Kiên Giang vẫn rối tinh rối mù như chính nền chính trị tối như bưng của Việt Nam.

 Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch Nguyễn Phú Trọng thăm Kiên Giang hôm 14/4/2019 AFP
Nếu giả thuyết “ông Trọng ốm thật” là đúng thì rõ ràng đằng sau việc ông ngã bệnh có bàn tay của Bắc Kinh. Không khó để nhẩm một con tính, có bao nhiêu lãnh đạo Hà Nội trước đây từng phấn khích quá đà trong quan hệ với Hoa Kỳ đều “thân bại danh liệt”. Vậy lần này, ông Trọng không phải là ngoại lệ, nhất là khi bang giao Việt – Trung trong vòng hơn một năm qua có chiều hướng xấu đi.

Đấy là chưa nói, dàn lãnh đạo mới thế chân ông Trọng, từ lâu đã được Bắc Kinh chuẩn bị khá chu đáo theo một kế hoạch đơn tuyến và bí mật tuyệt đối. Ngoại trừ trường hợp Trưởng ban Tổ chức Trung ương Phạm Minh Chính “nghĩa lộ” hơi sớm, do những “trải nghiệm rất ấm cúng” (nguyên văn lời của Chính) mỗi lần gặp lại Đào Nhất Đào. Thị Đào này là mụ đàn bà từng bện cái dây thòng lọng BRI chuẩn bị cột vào cổ dân Việt Nam.

Kế tiếp, ông Trọng ngã bệnh còn do hội chứng “tuân thủ hay chống lại” một số văn kiện mà Trung Quốc đã chuẩn bị đâu vào đấy. Ký hay không ký đợt này là một quyết định hệ trọng. Lịch sử sẽ coi kẻ mở đường cho BRI vào Việt Nam, mà trước mắt là “lót ổ” cho 3 đặc khu đang bị toàn dân phản đối, là tội đồ, là Hán nô. Dù đá được quả bóng sang chân ông Phúc, nhưng chủ trương vẫn là chủ trương của Bộ Chính trị.

Cái đảng của ông Trọng, ông Phúc trên thực tế đã tước mất quyền của người dân có tiếng nói đối với các vấn đề hệ trọng liên quan đến vận mệnh của quốc gia – dân tộc. Vì vậy, dư luận trong nước đang nín thở chờ đợi. Tới đây, ông Phúc, thay mặt ông Trọng, vẫn phải bày tỏ quan điểm trước “thiên triều”: BRI là bẫy nợ hay là cái phao cứu sinh đối với Việt Nam?

Từ lâu, “lưỡi gỗ” trong các văn kiện ngoại giao Trung – Việt dường như đã bỏ qua mệnh đề “sự phát triển của nước này là cơ hội của nước kia” (Tuyên bố chung khi ông Trọng thăm Trung Quốc từ 10—13/11/2017). Tuy vậy, liên quan đến xa lộ Bắc Nam, ông Trọng và ông Phúc buộc phải công khai chủ trương “bật đèn xanh” hay ngược lại, “không chấp thuận” các nhà thầu Trung Quốc chuyên bỏ thầu thấp nhưng đội vốn lên cao, với thời gian kéo dài và chất lượng không bảo đảm.

Vật cược ở đây là lợi ích quốc gia – dân tộc, chứ không phải là cái ghế của hai ông và các đồng chí cùng cánh hẩu. Trước sự lựa chọn ngặt nghèo như vậy, không chỉ ông Trọng mà có khi đi Bắc Kinh về, nếu ông Phúc có bị ngã bệnh thì điều đó cũng không có chi là lạ.


Nguyễn Viết Trung
RFA

‘Luật về Hội’ ở Việt Nam có thoát kiếp ‘luật phản động’?


Công nhân tại một khu công nghiệp ở Bình Dương trong một lần đình công đòi tăng lương nhưng không được tổ chức công đoàn của nhà nước bảo vệ. (Hình: Getty Images)

Năm 2019 đang chứng kiến lần đầu tiên nhà cầm quyền Việt Nam buộc phải chuyển dần từ cơ chế độc tài sang “mị dân chủ” – một giai đoạn bắt buộc phải xảy ra trước khi tiến đến thời kỳ “bán dân chủ” để hướng tới tương lai dân chủ hoàn toàn cho dải đất hình chữ S quằn quại áp bức – đó là buộc phải “lấp ló” Luật lập Hội sau 6 năm.

EVFTA (Hiệp Định Thương Mại Tự Do Châu Âu-Việt Nam) là chất xúc tác chính yếu cho giai đoạn chuyển đổi từ độc tài toàn trị sang “mị dân chủ,” theo cách không thể nào cưỡng lại.

Không còn cách nào khác

“Luật về Hội” (tên gọi sau này của Luật lập Hội) là một trong những nhân tố kích thích dân chủ hóa, dù ngay vào lúc này và trong năm 2020 vẫn rất có thể chỉ là sắc thái mị dân mà nhà cầm quyền Việt Nam “kiến tạo” để đối phó với EU (Liên Minh Châu Âu), liên quan đến số phận còn đang chuông treo mành chỉ của EVFTA.

“Dự án Luật về hội đã được Ban Cán Sự Đảng chính phủ báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính Trị” – được thông báo bởi Bộ Trưởng Bộ Tư Pháp Lê Thành Long tại phiên họp thứ 33, Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội vào ngày 10 Tháng Tư, 2019 – là nhượng bộ tiếp theo của chính thể độc đảng Việt Nam trước EU.

Ngay trước đó, lần đầu tiên giới chóp bu Việt Nam chịu xuống thang trước yêu cầu của EU về việc ký kết 3 công ước quốc tế còn lại về lao động, liên quan đến Tổ Chức Lao Động Quốc Tế (ILO), trong đó đặc biệt là công ước quốc tế về quyền tự do thành lập công đoàn độc lập của người lao động (cách gọi của chính quyền Việt Nam là “công đoàn cơ sở”).

Những dấu hiệu nhượng bộ trên xuất hiện trong và ngay sau chuyến đi Châu Âu vào cuối Tháng Ba, năm 2019, của bà Nguyễn Thị Kim Ngân – Chủ tịch Quốc Hội Việt Nam, sau cuộc gặp với Chủ Tịch Ủy Ban Thương Mại Quốc Tế của Liên Minh Châu Âu (EU) là Bernd Lange – một cơ quan tham mưu rất quan trọng về các hiệp định thương mại quốc tế và có vai trò quan trọng không kém Hội Đồng Châu Âu.

Việc Luật về Hội đã được Ban Cán Sự chính phủ làm tờ trình xin ý kiến Bộ Chính Trị cho thấy nhiều khả năng dự luật này, cùng 3 công ước quốc tế còn lại về lao động, sẽ được “đảng quyết định tất cả” để sau đó đưa ra kỳ họp Quốc Hội, Tháng Năm 2019, cho các đại biểu Quốc Hội đồng loạt “gật.”

“Gật giả”

Vào cuối năm 2013, sau cuộc hội đàm của ông Trương Tấn Sang (chủ tịch nước) với Tổng Thống Obama tại Tòa Bạch Ốc với chủ đề chính về triển vọng người Mỹ chấp thuận cho Việt Nam tham gia vào hiệp định Đối Tác Kinh Tế Xuyên Thái Bình Dương (TPP), chính quyền Việt Nam bắt đầu lấp ló trả tự do cho một ít tù nhân lương tâm và đưa dự thảo “Luật lập Hội” (tên của dự luật này vào thời điểm đó) ra hội thảo để “chuẩn bị thông qua và ban hành.”

Nhưng hứa hẹn và cam kết luôn là động tác đầu môi chót lưỡi của giới quan chức cao cấp Việt Nam. Có vẻ như ngay cả Tổng Thống Obama cũng không biết rõ cách hứa hẹn như vậy thật ra chẳng có giá trị gì.

Trong thực tế, chính quyền Việt Nam chỉ thả hạn chế tù nhân lương tâm, trong số đó có những người bị tống xuất đi Mỹ mà không cho ở lại Việt Nam, còn Luật lập Hội thì chỉ làm vài động tác “hội thảo,” “lấy ý kiến,” “chuẩn bị thông qua,” nhưng đã chẳng có gì thực chất mà chỉ như một thể thống trí trá, giả dối và lưu manh.

Từ năm 2013 đến năm 2016, cứ mỗi cuối năm dự thảo Luật lập Hội lại được Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội và một số hội đoàn nhà nước mang ra “xào lại” theo ý chỉ của đảng.

Vào quý 4 năm 2016, dự thảo Luật lập Hội được đổi thành dự thảo “Luật về Hội” và tiến gần nhất đến ranh giới thông qua vào đầu kỳ họp Quốc Hội vào cuối Tháng Mười, 2016.

Nhưng ngay sau cuộc gặp giữa Đinh Thế Huynh – Thường trực Ban Bí Thư – và Ngoại Trưởng Hoa Kỳ John Kerry tại Washington, DC vào buổi sáng ngày 25 Tháng Mười, 2016, Dự Luật về Hội mới bất ngờ bị Quốc Hội Việt Nam hoãn lại.

Đó cũng là bối cảnh Thượng Viện Mỹ đã tuyên bố thẳng thừng sẽ không họp hành gì về TPP trong năm 2016. Điều đó cũng có nghĩa là TPP, nếu còn đôi chút tương lai để được xem xét và thông qua, sẽ phải bị treo lại thêm ít nhất một năm nữa. Ngay lập tức, tác động tiêu cực trên đã khiến chẳng cần đảng phải chỉ đạo, Quốc Hội Việt Nam cũng mau mắn “hoãn bỏ phiếu thông qua TPP.”

Chỉ đến cuối năm 2017 khi CPTPP (Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương, thay thế cho Hiệp định TPP) được các nước chính thức thông qua, trong đó có nội dung bắt buộc về công đoàn độc lập và quyền tự do lập công đoàn tự do của người lao động, chính quyền Việt Nam mới một lần nữa lấp ló Luật về Hội, nhưng cũng chỉ treo ở đó để chờ tín hiệu từ cuộc mặc cả về EVFTA và cả “thẻ vàng hải sản” từ phía EU.

Có còn là “luật phản động”?


Dự thảo Luật về Hội của chính quyền Việt Nam – được “kế thừa” từ nghị định số 45 của chính phủ Việt Nam về quản lý hội đoàn – thực chất là thế nào?

Vào Tháng Mười, năm 2016, một số nghiên cứu và phân tích từ xã hội dân sự đã cho thấy nghị định số 45 có nhiều vết tích được cho là lấy từ nguồn gốc những văn bản pháp quy về cùng đối tượng quản lý ở Trung Quốc. Sau đó, một bàn tay bí mật nào đó ở Việt Nam đã cố tình sao chép các quy định của Trung Quốc vào dự thảo mới nhất của luật về Hội để trình cho Quốc Hội.

Khi đó, nhiều người nghĩ ngay bàn tay bí mật trên chính là Bộ Công An, cơ quan chưa bao giờ có một chút thiện chí với những quyền căn bản của người dân. Hầu như chắc chắn là như thế.

Nhiều thông tin cho biết bộ này, mặc dù không có vai trò chủ trì soạn thảo Dự luật về Hội như Bộ Nội Vụ, nhưng lại là tổng đạo diễn đối với những kịch bản phân loại các tổ chức xã hội dân sự độc lập vào loại “đối kháng” hay “đối lập ôn hòa,” cùng những bổ sung vào luật mang màu sắc đặc trưng của áp chế độc tài.

Dự luật về Hội cũng bởi thế tựa như một loại quả táo tẩm thuốc độc. Dự luật này được tung ra với nhiều điều khoản không chỉ quá thiên về hoạt động quản lý nhà nước mà còn để lộ quá rõ ràng ý đồ “siết” đối với xã hội dân sự, trong đó có những quy định “Không được nhận tài trợ, liên kết với tổ chức nước ngoài,” “Người nước ngoài ở Việt Nam không được lập hội,” “Lãnh đạo hội phải được nhà nước phê chuẩn.” Điều 4 dự thảo này còn quy định mọi hội đoàn phải “được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký thành lập, công nhận điều lệ và người đứng đầu.”

Thậm chí quy định về việc không cho người nước ngoài được lập hội lại khá giống với quy định tương tự ở Trung Quốc và gần giống với nước Nga thời Putin.

Trong một cuộc tọa đàm về Dự luật về Hội tại Liên Hiệp Các Tổ Chức Khoa Học Kỹ Thuật ở Hà Nội, một luật sư nhân quyền đã phải tố cáo Dự Luật về Hội là “luật phản động.”

Sẽ “gật thật”?

Từ đầu năm 2017, trong khi TPP vẫn ngổn ngang mà không có Mỹ, EVFTA đã xuất hiện trong bối cảnh “thế nước đang lên” – điều được giới tuyên giáo Việt Nam ca tụng, nhưng cũng là bối cảnh một nền ngân sách đang nhanh chóng vì cạn kiệt, một nền kinh tế đang lao vào năm suy thoái thứ 10 liên tiếp kể từ năm 2008, một xã hội nhiều mầm mống phản kháng và khủng hoảng, một nền chính trị xung đột tứ bề và nạn sứ quân hoành hành khắp nơi, chưa kể hàng năm Việt Nam phải trả hàng chục tỷ đô la nợ nước ngoài…

Giờ đây chưa có gì để hy vọng vào TPP, chính thể Việt Nam chỉ còn EVFTA là hiệp định thương mại mang lại lợi lộc nhiều nhất ứng với đà xuất siêu của Việt Nam sang Châu Âu lên đến $25 tỷ mỗi năm – gần bằng giá trị nhập siêu lên đến $30 tỷ hàng năm (chỉ tính theo đường chính ngạch, chưa kể khoảng $20 tỷ nhập siêu theo đường tiểu ngạch) của Việt Nam từ Trung Quốc.

Cũng như TPP, việc ban hành Luật về Hội, ký 3 công ước quốc tế còn lại về lao động, công nhận Công đoàn độc lập và công nhận Xã Hội Dân Sự là những điều kiện quan trọng của EU mà chính quyền Việt Nam phải đáp ứng để được tham gia vào EVFTA.

Bởi thế sẽ khác khá nhiều với quá khứ “gật giả,” vào lần này có thể là “gật thật.”

Vào năm 2019, việc giới quan chức Việt Nam phải cam kết với EU về những điều kiện cải thiện nhân quyền liên quan EVFTA, cùng lúc ở trong nước đảng chỉ đạo cho tái hiện Luật về Hội phát ra ít nhất 2 chỉ dấu quan trọng.

-Thế và lực hiện nay của chính quyền Việt Nam là yếu hơn khá nhiều so với 6 năm trước.

-Trong bối cảnh “vận nước đang lên” như thế, một lực đẩy bình thường của EU vẫn có thể khiến tảng đá bảo thủ phải dịch chuyển.

Vấn đề còn lại là lực đẩy trên sẽ được duy trì trong bao lâu, hoặc gia tăng đến mức độ nào để có thể bẩy hẳn tảng đá bảo thủ khỏi sức ì không còn quá lớn của nó, mang lại chí ít kết quả về một Luật về Hội cởi mở, tiến bộ, công nhận Xã Hội Dân Sự và Công Đoàn Độc Lập chứ không bị xem là “luật phản động”!


Phạm Chí Dũng
Người Việt

Sri Lanka: Thành phần khủng bố Hồi Giáo nổ bom Lễ Phục Sinh để báo thù cho vụ tấn công ở New Zealand


Gia đình nạn nhân cuộc tấn công ở Sri Lanka than khóc người thân. (Hình: AP Photo/Eranga Jayawardena)

COLOMBO, Sri Lanka (AP) – Bộ Trưởng Quốc Phòng Sri Lanka hôm Thứ Ba, 23 Tháng Tư, nói rằng cuộc tấn công vào ngày Lễ Phục Sinh, nhắm vào các nhà thờ, khách sạn cũng như các nơi khác là để “trả thù” cho vụ nổ súng thảm sát ở hai đền thờ Hồi Giáo tại New Zealand hồi tháng qua. Trong lúc đó, thành phần khủng bố ISIS cũng lên tiếng nhận trách nhiệm về cuộc tấn công vừa qua.

Lời phát biểu của ông Ruwan Wijewardene được đưa ra chỉ một thời gian ngắn trước khi nhóm ISIS lên tiếng cho hay họ chính là thủ phạm các vụ nổ bom trong và bên ngoài thủ đô Colombo khiến hơn 320 người thiệt mạng. Tuy nhiên cả ông Wijewardene hay ISIS đều không đưa ra bằng chứng gì để hỗ trợ cho việc này.

Giới chức công lực Sri Lanka trước đó lại cho hay đây là hành động của một nhóm Hồi Giáo quá khích, ít người biết tới, tại quốc gia này.

Ông Wijewardene cũng xác định cơ quan tình báo được báo động về âm mưu tấn công, nhưng tin tức này chỉ được phổ biến bên trong một nhóm nhỏ các giới chức trách nhiệm.

Văn phòng của thủ tướng New Zealand, bà Jacinda Ardern, đưa ra bản thông cáo nói rằng cuộc điều tra của Sri Lanka “vẫn còn trong giai đoạn khởi đầu” và chính quyền New Zealand “chưa thấy có tin tức gì cho rằng tấn công ở Sri Lanka là để trả thù cho tấn công ở New Zealand.”

Tại Sri Lanka, giới hữu trách loan báo giới nghiêm trên toàn quốc sẽ khởi sự vào lúc 9 giờ tối Thứ Ba. Quân đội Sri Lanka cũng được trao thêm quyền hạn bắt giữ người để điều tra.

Ông Wijewardene nói số người chết trong các vụ tấn công nay lên tới 321 người, với 500 người bị thương.

Tin tức được loan truyền rộng rãi trên mạng xã hội ở Sri Lanka cho thấy hôm 11 Tháng Tư, ông Priyalal Disanayaka, phó tổng giám đốc cảnh sát quốc gia Sri Lana, gửi thư cho bốn giám đốc cơ quan tình báo ở quốc gia này, cảnh báo rằng một nhóm Hồi Giáo quá khích, có tên là National Towheed Jamaar, với người lãnh đạo là Zahran Hashmi, đang chuẩn bị để mở ra cuộc tấn công vào một số “nhà thờ quan trọng” ở đảo quốc này.


Người Việt

30/04: VNCH để lại nhiều di sản quý cho ngày nay và tương lai


Đáng lẽ bài này được dành cho ngày 30/4 năm tới (2020), nhưng tác giả muốn viết sớm một năm để nhớ dĩ vãng buồn vào mỗi dịp tháng Tư, và nhắc lại những thành tựu không thể phủ nhận của 21 năm Việt Nam Cộng hòa (1954-1975) có thể thành bài học quý giá cho Việt Nam bây giờ và trong tương lai.

Người Sài Gòn - ảnh chụp năm 1962 của Michael Ochs    
Trước tiên, di sản lớn nhất của VNCH đã để lại cho thế hệ sau 1975 phải nói đến là nền âm nhạc phong phú, đa dạng và chan chứa tình tự dân tộc và văn hóa dân gian.

Bất chấp chủ trương diệt tận gốc rễ của chính quyền mới sau tháng 4/1975, nét văn hóa bất diệt này vẫn tồn tại ở miền Nam và sau đó lan dần ra miền Bắc. Ban đầu chỉ có một số nhỏ bài hát được phép trình diễn chính thức, nhưng danh sách này lớn dần và đến nay thì hình như không có lệnh cấm giới hạn nữa.

Phong trào nhạc Bolero, hay còn được gọi là "nhạc vàng" tràn ngập bây giờ là ví dụ hùng hồn nhất.

Nhưng trong giới hạn của bài này, chúng tôi chỉ muốn đề cập đến các di sản chính khác về giáo dục, kinh tế, chính trị hành chính và xã hội.

Tự hào tuổi trẻ và nền giáo dục Miền Nam

Đọc xong vài quyển sách gợi chuyện cũ, tưởng như đã được rũ sạch nỗi ấm ức cái "hội chứng Việt Nam" (Vietnam syndrome) từ lâu về một đất nước phú cường văn minh như Nam Hàn phải có trong giấc mơ cho xứ mình.

Thật sự từ trên 40 năm nay, sau khi du học ở tuổi 18 rồi ra trường, sống và đi làm nhiều nơi, tôi vẫn chưa tỉnh hay thoát ra khỏi "NÓ". Tôi chưa giải tỏa được nỗi ấm ức của "giấc mơ xưa" ở tuổi thanh xuân. Tôi từng có những giấc mơ đội đá vá trời và lòng tự tin nhưng suốt đời vẫn chưa tìm thấy chốn "dung thân" để phục vụ lý tưởng tuổi trẻ.

Đã từng về làm việc ở Sài Gòn từ đầu thập niên 2000 cho đến 2014, tôi thấy hàng ngày sự phồn thịnh hơn của xã hội về vật chất so với những ngày tuổi trẻ miền Nam của tôi, nhưng tôi vẫn tò mò tìm hiểu nơi đám người tuổi trẻ hiện nay, xem họ có chia sẻ cái "phần hồn ngày xưa" của đám anh em chúng tôi đã lớn lên trong cùng thành phố này.

Chúng tôi lớn lên trong khung cảnh của một đất nước loạn ly, nhưng may mắn còn được hấp thụ một nền giáo dục, tuy mang tiếng "từ chương" lý thuyết nhưng vẫn có một giá trị tối thiểu nào đó được chứng minh sau này khi đàn chim non miền Nam chúng tôi tốt nghiệp trung học, bay ra khắp các chân trời thế giới đã ghi lại nhiều thành tích trong các trường đại học Âu Mỹ.

Chúng tôi còn may mắn lớn lên trong một nền lễ giáo cổ truyền Việt Nam còn sót lại, tôn trọng các giá trị gia đình cao đẹp từ ngàn xưa, những tin yêu vào tình đời tình người vẫn còn mạnh mẽ.

Nhất là thời kỳ "vàng son" 1955-63 của nền Đệ nhất Cộng hòa trong thanh bình thịnh vượng của một VNCH dân chủ tương đối.

Đáng nói nhất là đám thiếu niên tuổi 15-16 thuở chúng tôi đã manh nha một lòng yêu nước mãnh liệt, muốn góp tay xây dựng một đất nước phú cường bằng sự chăm chỉ học hành trau dồi kiến thức, mơ tưởng đến một nền kinh tế hùng mạnh, một xã hội ấm no công bằng.

Chúng tôi chỉ có ý nghĩ đơn giản như đại đa số thanh thiếu niên trong các nước Á châu khác lúc ấy, là sẽ cố gắng học hành hay làm việc để xây dựng đất nước bằng một nền kinh tế vững chắc. Đó là lưu dấu kỷ niệm đậm đà nhất của tuổi thanh niên mới lớn ở miền Nam.

Sau này, khi có dịp về sống ở Sài Gòn rồi ngồi trầm ngâm hàng giờ bên ly cà phê ở quán Continental, tôi ngỡ ngàng xem từng đoàn xe máy phóng như đua chung quanh Nhà hát Thành phố -Trụ sở Hạ nghị viện VNCH trước 1975 - của những người trẻ tuổi bây giờ.

Giới trẻ VN đang hướng về tương lai

Họ la hét ầm ĩ, có vài cô mặc thiếu vải nhún nhảy tự nhiên trên băng sau của những chiếc xe máy Honda đắt tiền kiểu mới nhất, ăn mừng trận bóng tròn vừa thắng Thái Lan hay Malaysia. Họ hét to "Việt Nam vô địch" như thể hiện ý chí chiến thắng đó giống các nhóm khán giả đông đảo thường la to mỗi lần có mặt trên những sân vận động.

Nhóm đua xe đông quá và dường như tạo thành sức sống mãnh liệt cho cái thành phố quá tải của đất nước được mệnh danh là "non trẻ" này, khi các nhóm trẻ từ 20 đến 40 tuổi được ước tính chiếm 40% dân số, vẫn là một ẩn số lớn về xã hội và chính trị.

Những người trẻ bay lượn trong phố đêm trên những "mô tô bay" như biểu hiện của tự do, của văn minh còn được tìm thấy cho tuổi trẻ của mình trong đất nước đó. Tôi chợt hiểu tại sao họ thường "đi bão, xuống đường" tràn ngập với những rừng cờ đỏ, băng rôn hay tô son vẽ mặt đậm màu quốc kỳ để chào mừng một trận vừa thắng "kẻ địch".

Bên trên những chiếc xe máy tốc độ giúp cái hừng khí ngắn ngủi chợt tìm thấy, lòng yêu nước được dịp tỏ rõ qua những sự kiện thể thao. Đam mê còn lại đó cùng những ly bia đầy giúp họ xóa đi cái vô cảm hàng ngày với những vấn đề lớn hơn của xã hội, và bớt đi cái mặc cảm thiếu trách nhiệm với một đất nước tụt hậu thua kém láng giềng. Họ có vẻ ít nghĩ xa như vậy.

Những người lớn tuổi xưa cũ của thành phố này thường tỏ lộ u hoài, nói với tôi là họ nhớ lại các thế hệ cùng tuổi như chúng tôi dạo 1960-1970. Ngay chính Chủ tịch Quốc hội đương nhiệm, Nguyễn Thị Kim Ngân, vốn gốc tỉnh Bến Tre thời VNCH, cũng phải tâm sự lên tiếng khen nền giáo dục cũ của miền Nam.

Những ý nghĩ vụn này đã tạo dịp cho tôi được sống lại những tự hào của một thời tuổi trẻ trong thành phố Sài Gòn, được hưởng nền giáo dục VNCH, với lý tưởng mộng mị cho một Việt Nam hùng mạnh tương lai.

Ra đi du học mong trau dồi kiến thức với tâm huyết hừng hực của một thanh niên tuổi 20, và sau này lúc ra đời làm việc ở nhiều nơi trên thế giới, vẫn mang trái tim phục vụ tuổi 30 dù mái tóc đã điểm sương.

Nồng nhiệt đón người Mỹ trở lại Sài Gòn: Vợ của diễn viên Hollywood, bà Pamela Hasselhoff bắt tay các cô gái Việt Nam trong lễ đón chiếc phi cơ của United Airlines, Boeing 747-400 trong chuyến bay thương mại đầu tiên của một hãng hàng không Hoa Kỳ trở lại Tân Sơn Nhất tháng 12/2004

Và cùng với người Sài gòn bấy giờ, tôi vẫn thấy bừng lên sức sống với giấc mơ xưa: Biết đâu sẽ có một ngày?

Di sản cộng hòa cho Việt Nam nay là gì?

A. VNCH và thành công kinh tế thị trường

Dù chưa được quen thuộc nhiều với các định chế kinh tế và tài chính quốc tế hay các nền kinh tế tư bản lớn, VNCH đã biết sớm theo các qui luật của nền kinh tế thị trường và nhất là nhấn mạnh vai trò khu vực tư nhân.

Điều này tương phản hoàn toàn với nền kinh tế VN bây giờ, sau 44 năm thống nhất, vẫn loay hoay với lý thuyết "kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa" mà không ai chứng minh được.

Các thay đổi lớn sau ba thập niên Đổi Mới từ những năm 1986-1989 đã giúp VN có một bộ mặt tương đối phồn thịnh ở các thành thị, nhưng đi dần vào bế tắc nếu không có các cải cách thể chế song hành với cải cách kinh tế ở giai đoạn tới. So sánh thời kỳ 21 năm dưới VNCH với thời gian ít hơn một nửa so với 44 năm của nước VN thống nhất, hai di sản kinh tế nổi bật của VNCH là:

Cách mạng Xanh

Đặc biệt là chính sách "Cải Cách Điền Địa" dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa được tiếp nối bởi "Người Cày Có Ruộng" dưới thời Đệ Nhị Cộng Hòa, nhằm lấy lại các mảnh ruộng bao la nằm tập trung trong tay một số nhỏ đại điền chủ từ thời Pháp thuộc, phát đất rộng rãi cho các tầng lớp nông dân và khuyến khích tự do trồng trọt, nhất là lúa gạo, để miền Nam tự cường.

Ngoài ra, và quan trọng nhất, là những năm về sau Chính phủ VNCH đã cho áp dụng một chính sách qui mô cho gieo hạt lúa mới "Thần Nông" trên toàn vùng đồng bằng Cửu Long, làm tăng gia đột biến năng suất trồng lúa và mức sản xuất gạo của đất nước, đưa đến cả khả năng xuất cảng gạo bắt đầu vào năm 1974. Đây là thành tích kinh tế đáng kể của VNCH khi cuộc chiến tương tàn cũng đi vào giai đoạn ác liệt nhất.

Nước VN thống nhất sau tháng 4/1975 mới chỉ nhận ra tầm quan trọng của chính sách sản xuất lúa gạo tự do với Đổi Mới từ năm 1986 khi đến bờ vực của nạn đói, lúc không sản xuất đủ gạo ăn và dân chúng bắt đầu phải trộn cơm với bo bo từ những năm 1980.

Từ khi chính phủ trung ương ở Hà Nội thay đổi chính sách bằng "ngòi bút" từ nghị quyết năm 1986 cho phép dùng giá cả và sản xuất tự do, di chuyển gạo từ vùng thừa sang vùng thiếu, đã làm lại cuộc "cách mạng xanh" nói trên của VNCH, khởi đầu toàn chiến lược đổi mới nông nghiệp và tiếp đó "lột xác" toàn nền kinh tế trong ba thập niên theo sau.

Điều đáng lưu ý là cuộc cách mạng này đã được thừa hưởng di sản có sẵn của chính sách tự do trồng trọt ở đồng bằng Cửu Long, diện tích trồng đã được phân phối rộng và công bằng ở miền Nam, và nhất là kiến thức nông gia trong việc canh tác lúa "Thần Nông" đã có sẵn. Đáng kể hơn là việc có thể đem kỹ thuật và giống lúa này ra đồng bằng sông Hồng ngoài Bắc, khiến mức sản xuất lúa gạo của toàn cõi tăng kỷ lục, và không ngạc nhiên khi chỉ chục năm sau VN đang từ thiếu gạo ăn trong nước, trở thành xứ xuất cảng gạo hạng ba thế giới sau Thái Lan và Ấn Độ.

Khai thác dầu khí

VNCH đã tìm ra vài "túi dầu" đầu tiên vào các năm 1973-74 ở thềm duyên hải Vũng Tàu, chỉ tiếc là chưa kịp thì giờ và vốn đầu tư khai thác để tìm ra dung lượng lớn đáng kể đủ hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài. Ngoài ra, tình trạng thiếu an ninh do cuộc chiến tiếp diễn hàng ngày đã là yếu tố quyết định khiến các nhà đầu tư ngần ngại.

Nhiều quan sát viên quốc tế và nhà bình luận chính trị sau này đã tiếc cho VNCH là chưa đủ thời gian để khai thác các mỏ dầu và khí ngoài khơi khổng lồ, nhất là đủ để hấp dẫn các hãng dầu Hoa Kỳ.

Nếu có, và nếu các hãng này ký kết khai thác với chính phủ miền Nam dạo đó, chưa chắc gì có cảnh Henry Kissinger ký kết bán đứng VNCH vào năm 1972, sửa soạn cho hiệp định ngừng bắn Paris 1973 và ngày nhân dân miền Nam phải bỏ cuộc tháng 4/75.

Sau 1975, nước VN thống nhất thừa hưởng trọn vẹn và dầu khí từ miền Nam trở thành tài nguyên chủ lực của nền kinh tế VN bây giờ. Ngoài việc đem lại số xuất cảng đáng kể hàng năm cho dân chúng và nguồn lực phát triển, đáng tiếc là một phần tài nguyên đó cũng bị mất mát do tham nhũng và đầu tư phung phí như các tài liệu điều tra mới đây về đầu tư ở Venezuela chỉ ra.

Không cần nhìn đâu xa phức tạp hơn, phải chăng một phần di sản của VNCH là đây?

B. Nền dân chủ của VNCH

Nền dân chủ phôi thai của Đệ Nhất Cộng Hòa (1955-1963) trong khung cảnh mới dành lại độc lập và nền dân chủ được củng cố thêm của Đệ Nhị Cộng Hoà (1967-1975) tuy khiêm nhượng và tương đối, do bị đe dọa hàng ngày bởi cuộc chiến, vẫn cho phép nhân dân miền Nam sống hạnh phúc trong khuôn khổ nhân quyền được tôn trọng theo hiến chương Liên Hiệp Quốc và các quyền tự do căn bản nhất như bầu cử, ngôn luận, hội họp, biểu tình v.v…vẫn được thực thi.

Chủ trương pháp trị, hay thượng tôn pháp luật (rule of law) của cả hai nền Cộng hòa với bầu cử Quốc hội và Tổng Thống tương đối tự do; nền hành chánh trung ương và địa phương được điều khiển bởi các chuyên viên kỹ trị được đào tạo bài bản trong các trường chuyên môn (thí dụ nổi bật là trường Quốc gia Hành chánh của miền Nam). Ở mỗi tỉnh, người tỉnh trưởng là nhân vật chính trị hay quân sự do Chính phủ trung ương bổ nhiệm, nhưng Phó Tỉnh trường thường là chuyên viên kỹ trị.

Trái lại, Việt Nam thống nhất bây giờ mới chỉ cổ võ cho bầu cử tự do nhưng chưa bao giờ được thực hiện trong thực tế qua các cuộc ứng cử và bầu cử các Hội đồng Nhân dân và Đại biểu Quốc hội.

Tương tự, Việt Nam bây giờ mới bắt đầu học hỏi kinh nghiệm về cải cách hành chánh như dưới thời VNCH và cử chuyên viên kỹ trị ở cấp trung ương và địa phương.

Quốc hội Việt Nam bây giờ mới sửa soạn các dự thảo luật đề nghị bổ sung thẩm quyền của Thủ tướng trong việc áp dụng những mô hình mới về tổ chức bộ máy từng Bộ, cơ quan ngang Bộ, các cơ quan thuộc chính phủ trung ương, và chính quyền địa phương cấp Tỉnh và cấp Huyện.

Theo đó, Thủ tướng cũng có thêm quyền thành lập, sát nhập, hay giải thể các cơ quan, tổ chức hành chính khác thuộc cấp Tỉnh và cấp Huyện.

C. Các tổ chức Xã hội Dân sự

Các tổ chức này dưới thời VNCH được tự do thành lập và hoạt động với qui chế tự trị về cả hành chính và tài chính. Ví dụ như Tổng liên đoàn Lao công hay các Tổ chức chính trị, xã hội và Hiệp hội.

Còn hiện nay, Nhà nước tìm mọi cách để trì hoãn không trình ra Quốc hội hai Dự luật lập hội và Biểu tình, mặc dù hai quyền này của dân đã quy định trong Hiến pháp 2013.

Người dân cũng không được quyền ra báo, như đã duy định trong "quyền tự do ngôn luận" ở Điều 25 Hiến pháp 2013 viết:

"Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định."

Sinh viên biểu tình chống chính phủ Nguyễn Khánh, tháng 8/1964 ở Sài Gòn                 

Như nói ở trên, những dòng viết ngắn của tôi nhân dịp 44 năm từ biến động lịch sử 30/04/75 không phải là để thêm nước mắt cho một đau buồn còn ghi đậm dấu trong tâm hồn tôi, một con dân Việt Nam Cộng hòa cũ.

Với thời gian hơn 50 năm từ tuổi thiếu niên rời trường, ra nước ngoài du học, rồi bôn ba theo vận nước nổi trôi làm việc bên ngoài, tôi lại tìm cách "chim quay về tổ" trong 12 năm để tò mò xem xứ mình ra sao.

Nhưng cuối cùng, sau những trải nghiệm với thực tế và con người "mới", tôi lại phải ra đi tìm về một nơi qui ẩn để nghĩ lại đời mình và quê hương cũ một cách bình tĩnh hơn.

Tôi tự cho mình trên nguyên tắc là người thuộc "Bên Thua Cuộc" với hai cơ hội bỏ lỡ từ thời 1963 của Đệ nhất Cộng hòa và 1975 của thời Đệ nhị Cộng hòa. Nhưng không phải hoàn toàn do lỗi chúng ta, mà quan trọng hơn là do sự phản bội của nước bạn "đồng minh" Hoa Kỳ không giữ lời cam kết ngăn chặn cuộc tấn công miền Nam của lực lượng cộng sản.

Lời hứa bằng giấy trắng mực đen của Tổng thống đảng Cộng hòa Richard Nixon lúc bấy giờ đã hứa bằng văn thư với Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu, sau khi ông Thiệu bằng lòng ký Hiệp định Paris 1973.

Do đó mà chúng ta đành chấp nhận kiếp tha hương hiện tại do số mệnh đi từ vận nước không khá kéo dài suốt từ hơn 70 năm nay.

Dù không giữ được miền Nam thân yêu, nhưng chúng ta, những người miền Nam đã để lại di sản VNCH đáng kể cho cả đất nước và dân tộc hôm nay và tương lai.

Các kênh truyền thông và các cuộc tiếp xúc của tôi với người trong nước đều cho thấy đại đa số đồng bào ta đều hướng về di sản đó với lòng thán phục và thiện cảm, cũng như lòng ngưỡng mộ của họ với các nền dân chủ tiến bộ phương Tây.

Một cách công bằng, chúng ta cũng phải nhìn nhận về "legacy" của "Bên Thắng Cuộc" (như tựa đề cuốn sách của Huy Đức), nói đúng ra là huyền thoại "chiến thắng" của họ năm 1975 nhờ vào sự mệt mỏi bỏ cuộc của Mỹ do áp lực chính trị ngay từ trong lòng Washington, D.C. và tham vọng chính trị cá nhân của Henry Kissinger muốn bỏ rơi VNCH như "món quà chuộc" lấy lòng Trung hoa, mở ra chiến thắng chính trị và thương mại cho Mỹ với thị trường rộng lớn 1,3 tỷ dân Trung Hoa.

Phần khác, họ đạt được chiến thắng quân sự sau cùng nhờ sự yểm trợ tích cực bền bỉ của Liên Xô và Trung Quốc.

Họ đã nắm được quyền hành chính trị, xét cho cùng thì cũng là một "legacy" thôi và nếu họ biết "góp vốn" bằng cái đó vào việc xây dựng một Việt Nam tương lai dân chủ và văn minh trong tình hòa giải dân tộc cả trong và ngoài nước, thì sẽ là công lao lớn cho dân tộc và đất nước.

Nhưng nếu các nhà lãnh đạo hiện nay chỉ biết nắm giữ quyền hành toàn trị, gậm nhắm quá khứ "vinh quang" của chiến thắng 1975 thì "di sản" đó sẽ bị lịch sử xóa đi nhanh chóng.

Đã trải qua thời VNCH, cuộc sống ở hải ngoại và có dịp về Việt Nam ngày nay thường xuyên, tôi tin vào lẽ tuần hoàn của Trời Đất sẽ phải áp dụng cho quê hương cũ: "Cùng tắc biến, biến tắc thông…"

Nhiều người lãnh đạo cũ của VNCH ở tuổi 35-50 lúc ra đi năm 1975 đều đã nằm xuống.

Nhóm lãnh đạo 60-80 tuổi của VN bây giờ cũng phải ra đi vì quy luật thời gian trong 5-10 năm nữa.

Các tang lễ liên tiếp của thế hệ lãnh đạo cộng sản 'kháng chiến' gần đây và sắp tới cho thấy họ đang thành quá khứ, và không phải một mà hai ba thế hệ khác trẻ hơn đang trưởng thành, chỉ chưa có quyền được làm chủ quốc gia.

Đất nước không thể "tắc" mãi như thế này, và sắp đến lúc phải có chữ "THÔNG" mà thôi.

Nhất là các thế hệ trẻ 25-55, lớp người quyết định vận mệnh của đất nước Việt Nam trong 5-10 năm nữa, sẽ nối tiếp bó đuốc lãnh đạo và, cùng với thế hệ trẻ gốc Việt lớn lên ở hải ngoại quay về, họ sẽ có thể hướng đất nước về một hướng tốt đẹp hơn nhiều.

Và tôi tin rằng họ sẽ để lại tên tuổi trong lịch sử một Việt Nam dân chủ, phồn thịnh, hùng cường trong vùng Đông Nam Á.

* Bài thể hiện quan điểm riêng của tác giả Vũ Thăng Long


Vũ Thăng Long
BBC
 

Top ↑ Copyright © 2016. Tiến Bộ - All Rights Reserved
Back To Top ↑