TIN NÓNG 24/7
latest

728x90

468x60

Slider

latest

Slider Right

randomposts4

Tin đáng chú ý

Điểm Tin Hàng Ngày/block-2

Thời Sự Việt Nam

Thời Sự Việt Nam/block-2

Chính Trị - Xã Hội

Chính Trị - Xã Hội/block-1

Diễn đàn - Chính trị - Xã hội

Diễn đàn dân chủ/block-3

Bình Luận - Quan Điểm

Bình Luận - Quan Điểm/block-2

Đời Sống-Xã Hội

Đời Sống-Xã Hội/block-2

Tin Video

Tin Video/block-7

Thế Giới

Thế Giới/block-5

Pháp Luật

Pháp Luật/block-2

Kinh Tế

Kinh Tế/block-2

Nhân Quyền-Dân Chủ

Nhân Quyền-Dân Chủ/block-1

Giáo Dục

Giáo Dục/block-2

Lịch Sử

Lịch Sử/block-2

Văn Học-Nghệ Thuật

Văn Học-Nghệ Thuật/block-7
Thời Sự Việt Nam

BÀI MỚI NHẤT

Bộ trưởng quốc phòng Nga và Mỹ đến Việt Nam


Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Jim Mattis. (Hình: pbs.org)

Bộ Trưởng Quốc Phòng Nga Sergei Shoigu và Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Jim Mattis sẽ đến Việt Nam vào tuần tới theo thông tin một số báo trong nước hôm Thứ Sáu, 19 Tháng Giêng.

Chưa thấy Bộ Quốc Phòng hay Bộ Ngoại Giao CSVN đưa tin nhưng báo VNExpress dựa vào tin của Cục Tuyên Huấn, Bộ Quốc Phòng CSVN, cho biết “Bộ Quốc Phòng Việt Nam sẽ đón hai đoàn khách quốc tế. Đó là Bộ Trưởng Quốc Phòng Nga Sergei Shoigu thăm Việt Nam trong hai ngày, từ 23 đến 24 Tháng Giêng; Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ James Mattis cũng thăm Việt Nam trong ba ngày từ 24 đến 26 Tháng Giêng.”

Bộ Trưởng Quốc Phòng CSVN, Đại Tướng Ngô Xuân Lịch “sẽ chủ trì lễ đón Bộ Trưởng Quốc Phòng Nga Sergei vào ngày 23 và đón Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Jim Mattis vào ngày 25 Tháng Giêng tại trụ sở Bộ Quốc Phòng,” VNExpress viết.

CSVN có mối quan hệ truyền thống chặt chẽ với Nga từ thời còn là một chư hầu của Liên Xô và nay là một trong những khách hàng chính yếu mua trang bị quốc phòng do Nga sản xuất. Mối quan hệ giữa hai kẻ cựu thù CSVN-Mỹ ngày một ấm dần lên trước những hành động bá quyền bành trướng của Trung Quốc trên Biển Đông.

Các hãng thông tấn quốc tế đưa tin Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Jim Mattis dự trù thăm Trung Quốc trong mùa Xuân này. Hiện chưa thấy Ngũ Giác Đài có tin tức chính thức được loan báo về chuyến đi của ông Mattis cũng như các nội dung được ông thảo luận với Bắc Kinh. Cho nên, chuyến đi của ông có diễn ra trước hay sau khi đến Việt Nam hoặc vào một dịp khác hiện vẫn còn là dấu hỏi.

Bộ Trưởng Quốc Phòng Nga Sergei Shoigu. (Hình: etleboro.org)

Bộ Trưởng Quốc Phòng CSVN Ngô Xuân Lịch đến Moscow hồi năm 2016. Dịp này, Bộ Trưởng Quốc Phòng Nga Sergei Shoigu từng phát biểu rằng Nga coi Việt Nam là một đồng minh chiến lược và đối tác hàng đầu về an ninh tại khu vực Châu Á-Thái Bình Dương.

Hầu hết các trang bị quân sự quốc phòng của CSVN từ tàu ngầm, máy bay chiến đấu, chiến hạm, xe tăng và các loại võ khí khác đều do Nga sản xuất. Một phần giá rẻ hơn võ khí phương Tây, phần khác được hưởng tín dụng ưu đãi hơn và quân đội CSVN cũng quen thuộc với các loại võ khí của Nga.

Có thể khi ông Sergei Shoigu đến Hà Nội cũng là lúc chiếc hộ tống hạm thứ tư lớp Gepard mà Nga đóng cho Việt Nam cũng về đến cảng Cam Ranh. Chuyến đi thăm của ông có thể liên quan đến các nhu cầu mua sắm quốc phòng của Việt Nam trong khi chính Tổng Thống Mỹ Donald Trump đã mời chào công khai tại Hà Nội hỏa tiễn, máy bay chiến đấu khi gặp Chủ Tịch Nước Trần Đại Quang hồi Tháng Mười Một, 2017.

Tháng Tám năm ngoái, Bộ Trưởng Ngô Xuân Lịch đã đến gặp Bộ Trưởng Jim Mattis tại Ngũ Giác Đài. Dịp này, Bộ Quốc Phòng Mỹ loan báo sẽ lập chương trình đưa hàng không mẫu hạm thăm Việt Nam “khi các điều kiện kỹ thuật cho phép.” Một số cơ quan truyền thông quốc tế bình luận đây là chỉ dấu mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa Hà Nội và Washington tiến thêm một bước.

Sau những ngày căng thẳng giữa Việt Nam với Trung Quốc hồi Tháng Tư, 2017, vì Hà Nội bị Bắc Kinh đe dọa đánh chiếm các đảo mà Việt Nam đang trấn giữ tại Trường Sa nếu tiếp tục dò tìm dầu khí trong vùng biển có cái “lưỡi bò” chủ quyền vắt qua, Thủ Tướng CSVN Nguyễn Xuân Phúc đã đến Washington hồi Tháng Năm rồi ba tháng sau, ông Ngô Xuân Lịch đến Ngũ Giác Đài.

Tuần tới Bộ Trưởng Mattis đến Hà Nội có thể cho người ta rõ hơn về mối quan hệ anh ninh quốc phòng giữa hai nước tiến thêm những bước gì cụ thể.

Năm ngoái, Hoa Kỳ đã trao cho Cảnh Sát Biển Việt Nam sáu xuồng tuần tra cao tốc và một tàu tuần tra biển 3,500 tấn, chiếc tàu lớn nhất của lực lượng Cảnh Sát Biển Việt Nam. (TN)


Người Việt

Có thể chín người… một ý không?


Hình ảnh được cho là vé buổi biểu diễn của một đoàn Trung Quốc ở Hà Nội trùng vào dịp tưởng niệm hải chiến Hoàng Sa, 19/1/2018

Cuối cùng, Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch đã quyết định hoãn buổi biểu diễn của Đoàn Nghệ thuật Nội Mông.

Nội Mông (Inner Mongolia) là một khu tự trị của Trung Quốc. Khu tự trị này tọa lạc ở phía Bắc Trung Quốc, từng là lãnh thổ của những quốc gia mà trong sử sách, cha ông người Việt gọi là Yên, Triệu, Tần, Hung Nô, Ngụy, Tề, Chu, Đột Quyết, Hồi Cốt, Khiết Đan, Liêu, Kim, Mông Cổ,… Nỗ lực vô hiệu hóa phát xít Nhật trong Thế chiến thứ hai đã tạo cơ hội cho Trung Quốc biến một phần lãnh thổ Mông Cổ trở thành Khu tự trị Nội Mông(diện tích lên tới 1,2 triệu cây số vuông).

Nhân dịp kỷ niệm 68 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Trung Quốc và Việt Nam, Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam đã đề nghị Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch Việt Nam hỗ trợ để giới thiệu Đoàn Nghệ thuật Nội Mông với dân chúng Việt Nam. Theo dự kiến, 28 nghệ sĩ của Đoàn Nghệ thuật Nội Mông sẽ biểu diễn buổi đầu tiên tại Nhà hát Lớn Hà Nội vào tối 19 tháng 1…


***

Có một chi tiết mà những viên chức hữu trách ở Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không để ý là “ngẫu nhiên” ngày biểu diễn của Đoàn Nghệ thuật Nội Mông (khu vực mà sau khi được đặt dưới sự kiểm soát của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, người Mông Cổ chỉ còn là sắc tộc không đáng kể) để kỷ niệm việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với Trung Quốc lại… trùng với ngày Trung Quốc cưỡng đoạt toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của người Việt.

Chẳng có bằng chứng nào cho thấy rằng sự trùng hợp này là… cố ý.

Trước giờ, cách hành xử của chính quyền Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chứng minh, với các viên chức hữu trách, ngày 19 tháng 1 hàng năm chẳng có gì đáng phải bận tâm. Thậm chí cách nay vài năm, những hoạt động nhằm nhắc nhở người Việt rằng, ngày đó Việt Nam mất một phần lãnh thổ và nếu không cảnh giác, có thể mất luôn đường ra biển, ngày đó có 74 người Việt tuẫn tiết vì nỗ lực bảo toàn lãnh thổ, bảo vệ chủ quyền quốc gia ở quần đảo Hoàng Sa,… còn bị coi là… phản động nên người tham gia nhắc nhở, tưởng niệm bị rủa xả không tiếc lời, bị đánh vào đầu, bị đạp vào mắt, bị bắt như bắt con vật, không chừa ai! Cũng cách nay vài năm, chỉ vì ọ ẹ về Hoàng Sa, Trường Sa về quan hệ Việt - Trung, ông Tống Văn Công, cựu Tổng biên tập tờ Lao Động bị hệ thống Đảng cơ sở lôi ra kiểm điểm. Tại một buổi kiểm điểm do Đảng ủy phường Tân Kiểng, quận 7 tổ chức, ông Công đã bị một Bí thư chi bộ nơi ông sinh hoạt Đảng chỉ trích kịch liệt vì: “Hoàng Sa, Trường Sa là bãi hoang chim ỉa. Ta nói của ta. Trung Quốc nói của Trung Quốc”, cứ khăng khăng Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về Việt Nam là “gây chia rẽ hai Đảng và hai nước xã hội chủ nghĩa anh em”.

Khi nhận thức, tâm thế của nhiều cán bộ, đảng viên, đặc biệt là những cán bộ, đảng viên hữu trách chỉ là như vậy thì gật đầu, sắp xếp cho Đoàn Nghệ thuật Nội Mông biểu diễn tại Nhà hát Lớn Hà Nội ngay vào ngày 19 tháng 1 chẳng có gì khó hiểu.

Tuy nhiên khác hẳn với trước đây, dân chúng Việt Nam không nín nữa. Trên mạng xã hội, sự kiện này bị xem là ấu trĩ, nhục nhã, thêm một bằng chứng cho chuyện “mãi quốc cầu vinh”, chính quyền bị nguyền rủa… Có facebooker như Tung Dang chia sẻ số điện thoại di động của Bộ trưởng Văn hóa – Thể thao – Du lịch, đề nghị mọi người tham gia chất vấn, phản đối. Ở diễn đàn “Góc nhìn Báo chí – Công dân”, Tony Bui thì đề nghị biểu tình bên ngoài Nhà hát Lớn Hà Nội, vừa phản đối, vừa đòi Trung Quốc trả Nội Mông cho Mông Cổ

Sáng 19 tháng 1, công văn do Ban Quản lý Nhà hát Lớn Hà Nội gửi Văn phòng và Cục Hợp tác quốc tế của Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch được bày ra trên mạng như phát đại trà thuốc hạ nhiệt. Theo công văn này thì Ban Quản lý Nhà hát Lớn Hà Nội vừa phát hiện “hệ thống máy cắt liên lạc của điện nguồn hoạt động không ổn định, do đó không thể đáp ứng cho yêu cầu kỹ thuật trong buổi biểu diễn của Đoàn Nghệ thuật Nội Mông”. Sau đó, Chánh văn phòng kiêm Phát ngôn viên của Bộ Văn hóa - Thể thao – Du du lịch, chính thức công bố với báo giới về sự kiện hoãn buổi biểu diễn của Đoàn Nghệ thuật Nội Mông, dự kiến khai mạc lúc 20 giờ tối 19 tháng 1 vì Nhà hát Lớn Hà Nội đang có “sự cố kỹ thuật”.

Tuy buổi biểu diễn của Đoàn Nghệ thuật Nội Mông đã bị hoãn nhưng dường như công chúng vẫn chưa hài lòng về lý do. Trong khi Le Duc Duc gọi “sự cố kỹ thuật” là “rất mực lâm ly” thì Phan Hải Bằng cho rằng dù sao, cũng còn chút liêm sỉ. Bao Trung Nguyen không tán thành, bởi “bày ra đã nhục, dẹp bằng ‘mẹo vặt’ còn nhục hơn. Cũng đã có những facebooker như Tran Thanh HP nêu thắc mắc với bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Giám đốc Ban Quản lý Nhà hát lớn Hà Nội, nếu có thiện ý, sao bà không chờ đến 19 giờ 45 phút ngày 19 tháng 1 năm 2018 hãy… báo cáo cấp trên về “sự cố kỹ thuật”?


***


Chẳng phải tự nhiên mà cổ nhân khái quát “chín người, mười ý”. Chưa rõ Thủ tướng Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam có tính sổ với những viên chức hữu trách ở Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch khi họ đưa hệ thống công quyền vào thế làm thì dở mà ngừng cũng chẳng yên với dân hay không, song ít nhất sự kiện vừa kể đặt ra một câu hỏi khác: Có cách nào hóa giải để chuyện hoãn buổi biểu diễn của Đoàn Nghệ thuật Nội Mông vào tối 19 tháng 1 ở Nhà hát Lớn Hà Nội thành “chín người, một ý” hay không?

Nếu buổi biểu diễn của Đoàn Nghệ thuật Nội Mông vào tối 19 tháng 1 ở Nhà hát Lớn Hà Nội không bị hoãn vì “sự cố kỹ thuật” mà bị hoãn vì Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch đưa ra tuyên bố, đại ý: Khi thảo luận với Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam về việc tổ chức các hoạt động kỷ niệm 68 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Trung Quốc và Việt Nam, những viên chức hữu trách của Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch không nhớ sự kiện 19 tháng 1 năm 1974 – nay dựa trên dân ý, chúng tôi quyết định hoãn buổi biểu diễn đó, đồng thời tái khẳng định, quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam… thì có bị công chúng dè bỉu không? Hiệu quả của một tuyên bố như vậy cả về đối nội lẫn đối ngoại có tốt hơn những tuyên bố của các thế hệ Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao hay không?

Các bạn nghĩ sao?


Trân Văn
Blog VOA

Gian lận thương mại để được ‘kinh tế thị trường’?


Sản phẩm beer Sài Gòn của Sabeco.

Không phải chuyện nhỏ


Chỉ một tháng sau việc bất thần tung ra biện pháp trừng phạt đánh thuế “thép Việt Nam có nguồn gốc Trung Quốc” lên đến 531%, Hoa Kỳ đã khiến giới chức thương mại Việt Nam” chịu sốc thêm một lần nữa khi thông báo với Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) về 8 công ty mà lẽ ra Việt Nam phải đăng ký là “doanh nghiệp nhà nước” theo quy tắc thương mại toàn cầu.

Tám công ty mà Mỹ khai báo với WTO đều là những cái tên nổi đình nổi đám ở Việt Nam: Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) và công ty con là Tổng công ty Dầu Việt Nam (PV Oil), Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex), Công ty Xăng dầu Hàng không Việt Nam (Vinapco/SKYPEC), Tổng công ty Lương thực miền Bắc và Tổng công ty Lương thực miền Nam (Vinafood I và Vinafood II), Công ty Vàng Bạc Đá Quý Sài Gòn (SJC) và Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin).

Thoạt nhìn, sự kiện trên có vẻ không mấy bất thường trong quan hệ các thỏa thuận giao thương đa phương quốc tế. Tuy nhiên xét về chiều sâu quan hệ thương mại song phương giữa Mỹ và Việt Nam cũng như quan hệ thương mại đa phương giữa Việt Nam với nhiều quốc gia, sự kiện này không chỉ mang tính cảnh báo hay như một động tác trừng phạt mới về thương mại của Mỹ đối với Việt Nam, mà còn có thể khiến Việt Nam bị không ít quốc gia quay lưng vì thói “gian lận thương mại” đã và đang hiển lộ một cách có hệ thống.

“Gian lận thương mại” như thế nào?


Quốc nạn độc quyền nhà nước


Toàn bộ 8 doanh nghiệp Việt Nam mà Mỹ “tố” với WTO đều là doanh nghiệp nhà nước và do Chính phủ Việt Nam sở hữu trên 50% cổ phần. Trong quan hệ làm ăn ở Việt Nam, các doanh nghiệp này vẫn thường rất tự hào với mác “quốc doanh” của họ. Không những thế, một số trong các doanh nghiệp nhà nước này đã từ quá lâu nay được hưởng thế độc quyền kinh doanh và do đó luôn tạo áp lực đáng kể đối với người tiêu dùng và xã hội về giá cả theo lối “một mình một chợ”.

Hai tiêu biểu về thế độc quyền như trên là Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam và Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam. Bất kể nền kinh tế Việt đã lao vào năm suy thoái thứ 10 liên tiếp kể từ năm 2018 và đời sống người lao động Việt ngày càng phải thắt lưng buộc bụng trước gánh nặng tróc thuế lẫn tham nhũng hoành hành, quốc nạn độc quền vẫn “bóc lột dân ta đến tận xương tủy”.

Một thực tồn khốn quẫn mà thế giới nếu chưa biết thì hãy cần biết là nạn độc quyền ở Việt Nam đã bất chấp từ lâu phát sinh nhiều phản ứng xã hội đòi hỏi chính phủ Việt Nam phải xóa bỏ vai trò độc quyền của các doanh nghiệp nhà nước trên, trả kinh doanh về môi trường cạnh tranh lành mạnh và công bằng, cũng bất chấp những yêu cầu liên tục từ WTO và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) về việc Việt Nam phải thỏa mãn được các tiêu chí tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa doanh nghiệp tư nhân với doanh nghiệp nhà nước, minh bạch hóa hoạt động tài chính của doanh nghiệp nhà nước và phải chống tham nhũng có hiệu quả thì mới đủ điều kiện để quốc tế công nhận Việt Nam là “kinh tế thị trường”.

Độc quyền đến mức vào năm 2017, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã trở thành một thứ đại án về nạn tham nhũng và thất thoát tài sản ghê gớm.


Hậu quả nào cho “giấu gốc nhà nước”?


Cần nhắc lại, liên quan vụ thép Trung Quốc, Hoa Kỳ đã áp thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với thép Trung Quốc hồi năm 2015 và 2016. Ngay sau đó, thép được nhập dồn dập vào Hoa Kỳ từ nhiều ngả khác nhau. Các nhà sản xuất thép của Mỹ phát hiện ra sản phẩm của Trung Quốc được chuyển sang các nước thứ ba để lách thuế nên đã khiếu nại lên cơ quan hữu trách Hoa Kỳ.

Trong vụ tung ra biện pháp trừng phạt đánh thuế “thép Việt Nam có nguồn gốc Trung Quốc” vào tháng 12/ 2017, Bộ Thương mại Hoa Kỳ đã xác định rằng có đến 90% sản phẩm thép từ Việt Nam nhập sang Mỹ có xuất xứ từ Trung Quốc. Chỉ tính riêng Việt Nam, mặt hàng thép cuộn lạnh nhập vào Mỹ năm 2015 đã tăng vọt, từ 11 triệu đôla lên tới 295 triệu đôla. Biện pháp trừng phạt này chắc chắn sẽ có tác động tiêu cực lên toàn bộ ngành thép Việt Nam, trong đó có nhiều sản phẩm thép do chính Việt Nam sản xuất.

Ngay trước mắt, vụ việc 8 doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam bị phía Hoa Kỳ cáo buộc lên WTO chắc chắn sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động xuất, nhập khẩu của các doanh nghiệp này, bởi cả 8 doanh nghiệp nhà nước này đều tham gia hoạt động kinh doanh xuất, nhập khẩu.

Trong trường hợp nếu Việt Nam không đưa ra được các chứng cứ có tính thuyết phục để bác bỏ cáo buộc từ phía Hoa Kỳ, mà điều này thì quá khó, rất có thể việc xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ - thị trường đang giúp cho Việt Nam xuất siêu đến gần 30 tỷ USD/năm - sẽ giảm sút. Và sau đó, các nước phát triển có thể sẽ ủng hộ quan điểm của Hoa Kỳ, dẫn đến khối lượng hàng hóa xuất khẩu của 8 doanh nghiệp nhà nước trên sẽ giảm sút, thậm chí các doanh nghiệp khác ngoài 8 doanh nghiệp nhà nước bị cáo buộc xuất khẩu sang các thị trường nước ngoài cũng có thể gặp khó khăn.


Vì sao Việt Nam quá cần “kinh tế thị trường”?


Vụ việc 8 doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam cố che giấu nguồn gốc nhà nước không ngoài mục tiêu được lọt vào tiêu chuẩn ưu ái về thuế xuất nhập khẩu của quy chế “kinh tế thị trường”.

Trong thực tế, “kinh tế thị trường” rất quan yếu đối với các nhu cầu vay tín dụng, nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài và hưởng ưu đãi trong hoạt động xuất nhập khẩu quốc tế của Việt Nam. Nếu được công nhận “kinh tế thị trường”, hàng Việt Nam xuất khẩu sang nhiều quốc gia sẽ được hưởng mức thuế suất nhẹ nhàng hơn nhiều so với hiện thời, do đó mang lại lợi ích cho các danh nghiệp nhà nước, nhất là những doanh ngiệp độc quyền nhà nước, bổ trợ cho chân trụ của khối “còn đảng còn mình” hãm bớt đà rệ rã hiện thời và củng cố thêm hy vọng cho đảng “thở được ngày nào hay ngày nấy”.

Nếu được công nhận “kinh tế thị trường”, Việt Nam sẽ được các tổ chức tín dụng lớn nhất như Ngân hàng thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế, Ngân hàng Phát triển Á Châu cho vay tín dụng với những điều kiện ưu đãi hơn là cơ chế mặt bằng lãi suất tăng gấp ba và thời gian ân hạn giảm xuống một nửa như hiện nay. Điều này sẽ đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh cả đảng lẫn cầm quyền ở Việt Nam đang phải bán đi những doanh nghiệp cuối cùng thuộc loại “bò sữa” - như Sabeco (Tổng công ty Rượu - Bia - Nước giải hát) và Vinamilk (Tổng công ty Sữa Việt Nam) - để có thêm tiền đắp đổi cho một ngân sách hụt thu nghiêm trọng và đang hiện ra nhiều dấu hiệu cạn kiệt và trống rỗng.

Từ năm 2013 đến nay, những chuyến đi Mỹ của các nhân vật như ông Trương Tấn Sang - khi đó còn là chủ tịch nước, ông Nguyễn Tấn Dũng - khi đó còn là thủ tướng, ông Nguyễn Xuân Phúc - thủ tướng đương nhiệm, vẫn một mực đề nghị “Mỹ sớm công nhận nền kinh tế thị trường của Việt Nam”. Nhưng không hề có tính từ “xã hội chủ nghĩa” gắn kèm cửa miệng.

Đó là thói khôn vặt của giới chính khách Việt! Khi cần tỏ ra kiên định thì luôn “chua” tính từ trên vào bất cứ khẩu hiệu nào. Nhưng để đối ngoại thì lại giấu kín vào túi quần. Hành vi 8 doanh nghiệp Việt Nam giấu kín gốc gác “nhà nước” của họ là một minh chứng về thói biển lận đó.

Rốt cuộc, quốc tế đã không còn kiên nhẫn nổi với thói lập lờ về mặt khái niệm trong lúc không có bất kỳ cải cách nào của Việt Nam. Vào tháng 5/2017, Bộ trưởng Bộ Thương Mại Mỹ Wilbur Ross đã phải nhắc lại “Khởi động lại cơ chế trao đổi về quy chế thị trường cho Việt Nam” khi gặp Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc tại Washington.


“Đảng ngáng chân chính phủ” và tính quả báo


Nhưng cũng vào tháng 5/2017, đã xảy đến hiện tượng “đảng ngáng chân chính phủ”. Cho dù Thủ tướng Phúc - với đức tính thực dụng về các giá trị buôn bán - có thực lòng muốn đạt được quy chế “kinh tế thị trường” chăng nữa, “Nghị quyết trung ương 5 về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” do cấp trên của ông Phúc là Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng kiên định lặp lại tại Hội nghị trung ương 5, đã khiến ông Phúc không biết ăn nói ra sao với quốc tế về sự khác biệt một trời một vực giữa “kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa” và “kinh tế thị trường”, chưa kể việc làm sao để đạt được “kinh tế thị trường” đó.

Trong thực tế ở Việt Nam, sẽ rõ nhất nếu đối chiếu giữa khối doanh nghiệp nhà nước và khối doanh nghiệp tư nhân. Khối doanh nghiệp nhà nước chiếm tới 2/3 tổng tài sản, 60% nguồn vốn tín dụng, 70% nguồn vốn ODA và được ưu đãi rất lớn về khả năng tiếp cận tín dụng và những điều kiện về chính sách, nhưng lại hoạt động quá tệ. Ít nhất 30% doanh nghiệp nhà nước bị lỗ và khối này chỉ đóng góp được khoảng 1/3 tổng sản phẩm xã hội. Gần như ngược lại, khối doanh nghiệp tư nhân chỉ chiếm 1/3 tài sản, chẳng mấy được ưu đãi về tín dụng và chỉ có thể “hớt cặn” vốn ODA, lại còn bị phân biệt đối xử đủ đường, nhưng lại tạo ra đến 2/3 tổng sản phẩm xã hội.

Nhưng đến năm 2017, khi hơi thở khủng hoảng toàn diện đang phả hầm hập vào gáy chế độ, nghị quyết “hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” vẫn khư khư ôm ấp doanh nghiệp nhà nước cùng vai trò chủ đạo của nó, trong lúc chỉ hé miệng đôi chút về “kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng.”

Đến lúc này, ngay cả những tờ báo tỏ ra chuyên chính nhất như Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân cũng không còn quá mặn mà với điệp khúc “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.”

Giờ đây luật “nhân quả” đã báo ứng. 8 doanh nghiệp mang trên mình gốc gác nhà nước và thói độc quyền “thu cùng diệt tận” đối với dân chúng Việt Nam đang phải đưa đầu nhận lãnh hậu quả quay lưng từ Mỹ và cộng đồng quốc tế. Tiếp sau đó, rất có thể sẽ xuất hiện thêm những cái tên doanh nghiệp nhà nước khác bị quốc tế xếp vào danh mục “gian lận thương mại”.


Phạm Chí Dũng
Blog VOA

Một phần Hoàng Sa và sáu năm còn lại


Sơ đồ tác chiến của Hải quân VNCH tại Hoàng Sa ngày 19-20/1/1974. Ảnh: internet

Theo luật quốc tế, một quốc gia chiếm giữ một thực thể trong vòng 50 năm liên tục mà không có tranh chấp thì thực thể đó thuộc chủ quyền của quốc gia đang thực hiện việc chiếm giữ, quản lý.

Vậy quần đảo Hoàng Sa bị Trung Cộng đánh chiếm thời VNCH vào ngày này 44 năm trước, ngày 19/01/1974 và giết chết 74 người lính quyết tâm giữ đảo nhưng bất thành, có được coi là đang có tranh chấp hay không kể từ năm 1974 đến nay?

Quần đảo Hoàng Sa lúc đó đang thuộc chủ quyền của chính thể VNCH, xác lập theo Hiệp định Geneva năm 1954 ký giữa 6 bên, bao gồm cả Trung Cộng trong bàn đàm phán và ký ước. Và phía VN Dân chủ Cộng hoà vào năm 1958 đã có công hàm từ Thủ tướng Phạm Văn Đồng xác nhận về chủ quyền đối với vùng 12 hải lý của Trung Quốc tại một số đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa. Ngay cả từ khi bị đánh chiếm năm 1974, phía Việt Nam DCCH vẫn chưa bao giờ có một động thái đưa vấn đề này thành tranh chấp chủ quyền về lãnh thổ đối với phần biển đảo bị Trung Cộng cưỡng chiếm từ VNCH.

Chính phủ Việt Nam thống nhất từ năm 1975 cho đến nay, chỉ phản đối các hành vi quân sự hoá và bồi đắp đảo đá nhân tạo tại quần đảo Hoàng Sa làm phức tạp thêm tình hình trên biển đông, mà chưa khi nào gửi một văn bản chính thức phản đối vấn đề chủ quyền về quần đảo Hoàng Sa bị cưỡng chiếm bằng vũ lực trái phép năm 1974 tới chính quyền Trung Quốc và/hoặc quốc tế.

Chính phủ Việt Nam phải đối mặt với việc bành trướng lớn hơn của Trung Quốc bằng việc nước này gần đây đã liên tục gây hấn và tự công nhận đường lưỡi bò 9 đoạn gần như chiếm trọn biển đông, mà phần lớn ăn sâu vào vùng đặc quyền kinh tế cũng như lãnh hải của Việt Nam. Và vì hành động bành trướng bất chấp luật pháp và lấn chiếm phần lớn diện tích vùng biển, hải đảo không chỉ ở các vùng đã bị cưỡng chiếm trước đây, mà còn bao gồm cả một vùng rộng lớn hơn rất nhiều lần đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam, nên việc phản đối của chúng ta thực chất mới chỉ nhằm giải quyết tình thế đối với hành động đơn phương bành trướng của những phần mà Trung Quốc cố tình nới rộng thêm, tức tạo ra một tranh chấp mới và lớn hơn, nghiêm trọng hơn để buộc một nước phải chống đỡ với những xung đột trực tiếp mà làm mờ đi phần tranh chấp trước đây.

Việc cần thiết để coi việc chiếm giữ một phần quần đảo Hoàng Sa của Trung Quốc từ năm 1974 cho đến nay là bất hợp pháp và thực thể do Trung Quốc đang quản lý là một thực thể vẫn đang có tranh chấp, thì buộc phía Việt Nam phải: (i) hoặc đưa đơn kiện Trung Quốc ra toà án quốc tế nhằm có một phán quyết; hoặc (ii) ít nhất phải có một thông báo chính thức tới Liên Hiệp quốc cũng như chính Trung Quốc về vấn đề quần đảo Hoàng Sa thực chất thuộc chủ quyền đương nhiên và không bàn cãi của Việt Nam, bao gồm cả đối với phần biển, hải đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc đã dùng vũ lực và quân sự để cưỡng chiếm 44 năm trước từ VNCH.

Đó chính là giải pháp chính trị và luật pháp hữu lý cũng như giá trị nhất để có thể cữu vãn và thiết lập lại được phần chủ quyền đối với một phần lãnh thổ là máu thịt thiêng liêng của tổ quốc, mà dân tộc ta từ bao đời đã gắng công xây đắp, bảo vệ và gìn giữ bằng vô vàn xương máu của rất nhiều những thế hệ đã qua và cho đến ngày nay.


LS. Lê Luân
FB Luân Lê

Nhật Tảo, chiến hạm bi hùng


20h ngày 17-1-1974, chiến hạm Nhật Tảo quay mũi trực chỉ Hoàng Sa. Lúc này một máy chính của tàu không sử dụng được, rađa trục trặc, hỏa lực đối hạm đều là thế hệ cũ chỉnh bằng tay…

Chiến hạm Nhật Tảo. Ảnh tư liệu/ TT

“Mẹ tôi khóc suốt nhiều năm bên nấm mộ chiêu hồn sau ngày anh tôi hi sinh ở Hoàng Sa. Đến đám giỗ cuối cùng của anh, khi ấy mẹ còn sống, trên giường bệnh bà vẫn trăng trối: Con phải gắng đưa anh về. Tổ tiên, mồ mả ông bà trên đất quê hương, đừng để anh ngoài biển lạnh lẽo!”.

Huế, tháng 1, mưa mờ mịt. Người em tử sĩ Vương Thương ứa nước mắt, nhắc chuyện anh mình và trận tử chiến Hoàng Sa…

Nhiều năm gặp gỡ chứng nhân, viết về quần đảo Hoàng Sa máu thịt của Tổ quốc, tôi vẫn nghẹn lòng khi nhắc nhớ một buổi tối mùa đông ở Huế. Trong căn nhà nhỏ bạc màu thời gian, ông Vương Lăng, em trai trung sĩ giám lộ Vương Thương trên chiến hạm bi hùng Nhật Tảo đã hi sinh trong trận hải chiến Hoàng Sa, cứ khóc mãi khi ôn ký ức về anh mình.

44 năm đã qua với bao biến động thời cuộc, giọt nước mắt vẫn ngập tràn vị nóng của trái tim và như có cả vị mặn của biển, nơi những người còn đang nằm dưới đó…

Chuyến hành quân cuối cùng

Tử sĩ Vương Thương trước chuyến hành quân ra Hoàng Sa – Ảnh tư liệu gia đình do Quốc Việt chụp lại/ báo TT

Nghe tôi sẻ chia nỗi buồn, ông Lăng lạc giọng: “Nước mắt tôi có là gì đâu so với nỗi đau của 74 gia đình tử sĩ còn đang gửi xương cốt ngoài Hoàng Sa!”.

Người em trai gầy gò tâm sự: trước ngày lịch sử 19-1-1974, trung sĩ Vương Thương đã báo gia đình ở Huế là sẽ được về tết. Mẹ anh nghe vậy mừng lắm, vui vẻ chuẩn bị chuyện vợ con cho anh.

Bất ngờ, kế hoạch bị hủy bỏ, chiến hạm HQ10 – Nhật Tảo, mà Vương Thương là sĩ quan giám lộ, nhận lệnh khẩn cấp hành quân bảo vệ Hoàng Sa đang bị các chiến hạm Trung Quốc và tàu cá giả dạng lăm le…

Lẽ ra Vương Thương cùng đồng đội tàu Nhật Tảo đã được nghỉ ngơi, vì chiến hạm cần được sửa chữa do một trong hai động cơ đã bị hư.

Nhưng chiều 17-1, Nhật Tảo được lệnh hành quân khẩn cấp nhằm hỗ trợ cùng các chiến hạm HQ4 Trần Khánh Dư và HQ16 Lý Thường Kiệt đã có mặt ở Hoàng Sa. Lý do là Nhật Tảo đang đủ phiên trực, lại ở gần Hoàng Sa nhất.

20h ngày 17-1-1974, Nhật Tảo rời cảng Tiên Sa, quay mũi trực chỉ Hoàng Sa. Hạm trưởng là hải quân – thiếu tá Ngụy Văn Thà, hạm phó là đại úy Nguyễn Thành Trí, trung sĩ Vương Thương làm giám lộ trên đài chỉ huy.

Chứng nhân Trần Văn Hà, thủy thủ có mặt trên chiến hạm Nhật Tảo, kể lại: “Bình thường, chúng tôi đã nhập biển Hoàng Sa sớm hơn. Nhưng chuyến hành quân này Nhật Tảo bị hư hỏng quá nhiều, nặng nhất là một máy chính không sử dụng được, rađa trục trặc, hỏa lực đối hạm đều là thế hệ cũ chỉnh bằng tay…”.

Tình hình trên Nhật Tảo lúc này rất gấp rút. Hạm trưởng Thà cho chuẩn bị đầy đủ đạn dược, lương khô, nước uống ngay vị trí chiến đấu.

Đến gần nửa đêm 18-1 thì Nhật Tảo kịp đến vùng biển Hoàng Sa, cùng ba chiến hạm Trần Khánh Dư, Lý Thường Kiệt và Trần Bình Trọng chuẩn bị tác chiến. Nhân chứng Hà kể đêm 18-1, hạm trưởng Thà phát lệnh làm tối tàu Nhật Tảo để tránh bị theo dõi.

2h sáng 19-1, ông triệu tập cuộc họp khẩn cấp trên tàu, phổ biến tất cả chuẩn bị tác chiến bảo vệ chủ quyền Tổ quốc. Gần 7h sáng 19-1, sau khi nắm tình hình lần nữa, hạm trưởng Thà dặn dò pháo thủ phải cố bắn chính xác ngay loạt đạn đầu khi có lệnh để phá vỡ lợi thế tốc độ của đối phương.

Trận đánh bi hùng

Nhiều chiến hữu của tôi đòi ở lại hi sinh cùng hạm trưởng. Trong đó có Lê Văn Tây, Ngô Văn Sáu… Họ đã bị thương nặng, nhưng vẫn ghìm chặt khẩu 20 li chiến đấu đến cùng”

Nhân chứng Trần Văn Hà

Trong hồi ức của mình, hạ sĩ trọng pháo 76 li Vương Văn Hà nhớ lại: đang lúc cam go nhất thì khẩu 76 li hỏa lực chính trước mũi Nhật Tảo lại bị trục trặc, cả con tàu bị bắn xối xả.

Trên đài chỉ huy, hạm trưởng Thà hi sinh với mảnh đạn phạt ngang cổ, hạm phó Trí bị thương nặng nhưng vẫn gắng điều khiển Nhật Tảo đâm thẳng vào tàu đối phương như đòn quyết tử cuối cùng. Ngay sau đó, đại úy Trí phát lệnh rời tàu.

Viết trong Nhật ký Hoàng Sa, chuẩn úy Tất Ngưu kể lại vẫn nhớ những lời rắn rỏi cuối cùng của hạ sĩ Lê Văn Tây: “Thôi, tôi ở lại ăn thua đủ với bọn Trung Quốc, chuẩn úy cứ nhảy đi”.

Bốn chiếc bè ban đầu được kết lại. Những người xuống biển ứa nước mắt nhìn các nòng súng vẫn lóe lên trên chiến hạm Nhật Tảo rồi tắt hẳn trước hỏa lực áp đảo của đối phương…

Lúc này, tình hình trên biển cũng hết sức nghiêm trọng. Đại úy Trí bị thương nặng, trút hơi thở cuối cùng trong đêm. Rồi Vương Thương, Đa, Thọ, Nam, Tuấn cũng ra đi.

Hồi ức của hạ sĩ Vương Văn Hà vẫn nhớ đồng đội Vương Thương lênh đênh đến ngày thứ 4 thì mất. Đồng đội cố giữ thi hài anh một ngày với hi vọng có tàu đến vớt đưa về bờ, nhưng rồi phải ngậm ngùi thủy táng anh.

Họ khấn vái đồng đội: “Anh là giám lộ, xin chỉ dẫn đường để gặp tàu bạn”. Và đêm đó, một chiếc tàu buôn Hà Lan đã đi ngang qua và vớt những người lính cuối cùng còn lại của chiến hạm Nhật Tảo…

Nhưng 74 đồng đội của họ đã vĩnh viễn nằm lại quần đảo Hoàng Sa của Tổ quốc cùng chiến hạm Nhật Tảo!

Nằm dưới lòng biển Tổ quốc

Hộ tống hạm HQ10 – Nhật Tảo nguyên là tàu quét mìn USS Serene 300 của Mỹ từ Thế chiến thứ hai. Năm 1964, tàu này được hoán cải thành hộ tống hạm và chuyển giao cho quân lực Việt Nam cộng hòa.

Theo trung sĩ Trịnh Văn Quý thuộc lực lượng đổ bộ đảo Hữu Nhật, đến khoảng 8h sáng 20-1-1974, ông vẫn còn thấy khói lửa bốc lên từ chiến hạm bi hùng Nhật Tảo trước khi nó chìm hẳn xuống lòng biển Tổ quốc.



Quốc Việt
Tuổi Trẻ

Bạch hóa về thông cáo báo chí của "Việt Tân ma" vào ngày 5 tháng 01 năm 2018 - tiếp tục lươn lẹo và láo toét khinh thường sự hiễu biết của đồng bào trong và ngoài nước.



Việt Tân ma (“Tân Việt”) và chiến thuật: “Hóc xương gà – Nuốt không trôi, nhả không ra”

Về thông cáo báo chí của Việt Tân ma – tiếp tục lươn lẹo và láo toét

Ngày 5 tháng 1 vừa qua, Hoàng Tứ Duy, phát ngôn nhân của băng đảng tội ác Việt Tân, ra thông cáo báo chí, đại khái là họ thắng kiện vì tôi đã vắng mặt tại toà. Liền sau đó, Hoàng Cơ Định, cựu Chủ Tịch băng đảng tội ác Việt Tân kiêm cha ruột của Hoàng Tứ Duy, phán trên Facebook: “Chấm dứt trò hề của Nguyễn Thanh Tú…”


Họ không chừa cái thói lươn lẹo cố hữu.

Sự thật

Sự thật là Toà kết luận rằng Việt Tân đã không tống đạt trát toà đúng thể thức đến cho bị đơn – cụ thể, tôi chưa bao giờ nhận được trát toà theo quy định của luật pháp Hoa Kỳ. Khi luật sư của tôi nêu vấn đề, Toà đã bắt Việt Tân phải thực hiện thủ tục đầu tiên này đối với các bị đơn. Nghĩa là mọi diễn tiến từ trước đến giờ đều bất hợp lệ, và phải quay lại bước đầu. Phiên toàn ngày 4 tháng 1 cũng vậy.


Không những thế, Việt Tân ma đã nói láo về phiên toà này, làm như đó là phiên toà xử đơn kiện của Việt Tân ma. Không phải vậy. Đây chỉ là phiên toà lắng nghe đơn yêu cầu “lệnh sơ bộ” (preliminary injunction), qua đó Việt Tân ma yêu cầu tôi không được dùng tên “Việt Tân” nữa trong khi vụ kiện đang tiếp diễn.

Luật sư của tôi đã cho Toà biết là tôi không có lý do gì dùng tên Việt Tân khi đang đứng đơn kiện Việt Tân – đúng vậy, 06 tháng 07 năm 2017 tôi đã nộp đơn kiện băng đảng tội ác này tại toà án liên bang ở Houston. Luật sư của tôi giải thích với Toà rằng việc đăng ký tổ chức mang tên Việt Tân chỉ là để phanh phui sự gian trá của băng đảng tội ác này và phục vụ cho vụ kiện của tôi. Toà đồng ý rằng Việt Tân ma không có căn cứ gì để kiện hoặc để yêu cầu lệnh sơ bộ.

Do đó, ngay khi quan toà vừa mở cuộc lắng nghe về đơn yêu cầu lệnh sơ bộ, luật sư đại diện Việt Tân ma đã tự động xin rút đơn. Dưới đây là văn bản ghi lại phiên Toà này:


Hóc gân gà

Theo khuyến cáo của Toà, luật sư của băng đảng tội ác mang tên Việt Tân đã nhiều lần đề nghị với các luật sư của tôi điều đình bãi nại. Tôi chủ trương tuyệt nhiên không điều đình. Một là Việt Tân ma phải tự ý rút đơn kiện, hai là cứ việc ra toà. Cách nào cũng kẹt, như kẻ đang hóc gân gà, nuốt không xong, nhả không được.

Rút đơn kiện thì không những mất mặt mà có thể phải bị phạt vạ vì đã kiện vu vơ, không căn cứ (frivolous lawsuit). Tiếp tục vụ kiện thì sẽ lòi ra những thông tin mà băng đảng tội ác này muốn giấu nhẹm nhưng tôi lại muốn có:

  • Tiết lộ đích xác những nhân vật ở đằng sau Việt Tân ma;
  • Xác nhận lai lịch của Việt Tân bắt đầu hoạt động khi nào;
  • Khai báo thu nhập tài chánh và tài sản để chứng minh rằng họ bị thiệt hại theo như đơn kiện.

Tôi muốn những thông tin này để dùng trong vụ kiện Việt Tân ma tại toà án liên bang ở Houston.


Lỡ khai rồi, muốn giấu cũng không được

Để hỗ trợ cho đơn kiện của Việt Tân ma, Đỗ Hoàng Điềm, đương kim Chủ Tịch của băng đảng tội ác Việt Tân, đã nộp lời khai hữu thệ vào toà. Trong đó, Đỗ Hoàng Điềm xác nhận rằng “ngày 10 tháng 9, 1982, các thành viên của Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam đã lập ra đảng Việt Tân. Không như Mặt Trận, Việt Tân hoạt động trong vòng bí mật…” Như thế, Việt Tân phải chịu trách nhiệm về tất cả các hành vi khủng bố, xử bắn đồng đội, giết hại ký giả, gian lận thuế, lường gạt đồng hương, hoạt động vũ trang… chứ không thể đổ thừa cho Mặt Trận, một tổ chức ngoại vi mà Việt Tân khai tử năm 2004.


Cũng trong lời khai hữu thệ nộp vào toà, Đỗ Hoàng Điềm khẳng định rằng “Việt Tân là một hiệp hội không đăng ký và có một ngân sách hoạt động nhỏ.” Theo luật Hoa Kỳ, chỉ những hiệp hội với ngân sách hàng năm không quá 3 nghìn Mỹ kim thì mới có thể hoạt động mà không cần đăng ký. Tại toà tôi dễ dàng chứng minh rằng Đỗ Hoàng Điềm, Chủ Tịch của Việt Tân ma, đã cố tình nói dối hữu thệ.


Chỉ riêng Đài Á Châu Tự Do (RFA) trong các năm 2014-2017 đã trao cho băng đảng tội ác Việt Tân tổng cộng 371,000 USD:

Năm 2013: 161,000 USD; Năm 2015: 43,000 USD; Năm 2017: 167,000 USD


Đó là chưa kể các cuộc gây quỹ hàng năm, rồi các hoạt động kinh tài mà tôi đã phanh phui trước đây. Rõ ràng là Đỗ Hoàng Điềm đã nói dối hữu thệ trước toà. Đó là một tội hình sự.

Ai ai cũng có thể phối kiểm các điều tôi nêu lên trên đây.

Tiền hậu bất nhất


Khi đã gian dối thì lời nói thế nào cũng nghịch nhau khi bị đối chiếu.

Trong thông cáo báo chí đề ngày 5 tháng 1, 2018, Hoàng Tứ Duy đại diện Việt Tân ma tuyên bố:

“Trong 2 năm vừa qua, Nguyễn Thanh Tú luôn tìm cách xuyên tạc và phá hoại nhiều cơ quan truyền thông, tổ chức đấu tranh, thân hữu chính giới ngoại quốc có quá trình tranh đấu cho dân chủ Việt Nam, đặc biệt là nhắm vào Đảng Việt Tân. Tuy nhiên, những phá hoại này đã không gây được tác dụng nào…”

Trong khi đó trong đơn kiện, Việt Tân ma lại kêu ca là bị thiệt hại nặng nề: “Các hành vi của các bị đơn đã gây tổn thất và tiếp tục gây tổn thất cho hình ảnh và uy tín của đương đơn trong cộng đồng Việt, với giới truyền thông, với các chính khách, với các định chế chính trị, và với các người ủng hộ…”

Cũng trong lời khai hữu thệ, Đỗ Hoàng Điềm đưa ra 2 dẫn chứng cho sự thiệt hại này: (1) Ngày 1 tháng 9, 2016 đài RFA đã phải rút bài viết của Nguyễn Tường Thuỵ, cảm tình viên của Việt Tân ma ở Việt Nam, theo lời yêu cầu của tôi; (2) ngày hôm trước đó, 30 tháng 8, 2016, các tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam đã gạt tên của Việt Tân ra khỏi bức thư chung.

Nếu vụ kiện được xử tại toà, Việt Tân ma sẽ không thể giải thích tình trạng trống đánh xuôi kèn thổi ngược này. Không những vậy, họ còn phải đối mặt với tội nói dối hữu thệ. Đó là lý do tôi tuyệt nhiên không điều đình mà muốn đối chất họ tại toà. Và tôi cũng đã dặn các luật sư của tôi chuẩn bị yêu cầu toà trừng phạt trong trường hợp Việt Tân ma tự ý rút đơn kiện.

Lại đổi tên?

Các luật sư của tôi cho biết là Việt Tân ma đang đăng ký thương hiệu Việt Tân với Phòng Bằng Sáng Chế và Thương Hiệu (Patent and Trademark Office, hay PTO) của chính quyền Hoa Kỳ. Tuy nhiên, thay vì khai trong đơn rằng “Việt Tân” là viết tắt của Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng thì họ lại diễn giải rằng “Việt Tân” là “New Vietnam”.

Đúng là lươn lẹo và láo toét. New Vietnam là “Tân Việt” chứ không thể nào là “Việt Tân”. Có lẽ con bạch tuộc đã cùng đường nên đang định thoát xác lần nữa.


Theo luật, PTO sẽ phải công bố đơn đăng ký thương hiệu “Việt Tân là Tân Việt” để mọi người có thể theo dõi và góp ý. Chúng ta hãy chờ xem.

Mời xem thêm Video phía dưới:






*Tác giả gửi tới Tiến Bộ từ Houston, Texas

Blogger Nguyễn Ngọc Già kể chuyện đi tù


Blogger Nguyễn Ngọc Già. Hình do blogger Nguyễn Ngọc Già cung cấp

“Tôi luôn chọn đứng về công lý và sự thật để bênh vực cho người dân oan, tù oan, cũng như cố gắng đưa ra các biện pháp cụ thể để giải quyết những bất công trong xã hội và ứng phó với nhà cầm quyền Bắc Kinh trong vấn đề Biển Đông. Đảng Cộng sản Việt Nam nên cám ơn tôi thay vì bỏ tù tôi.” – Đó là tâm sự của blogger Nguyễn Ngọc Già, tên thật Nguyễn Đình Ngọc, người vừa mãn hạn tù hôm 27 tháng 12 năm 2017.

Blogger Nguyễn Ngọc Già bị chính phủ Hà Nội kết án tù 3 năm tù giam và 3 năm quản chế với cáo buộc ‘tuyên truyền chống nhà nước’ theo điều 88 Bộ Luật Hình sự Việt Nam trong một phiên tòa vào cuối tháng 3 năm 2016. Ông là một blogger rất ‘kín tiếng’ như chính điều ông thừa nhận về mình là một người chọn "cô đơn trong tự do tư tưởng để đi". Kể từ khi mãn hạn tù, blogger Nguyễn Ngọc Già cũng không lên tiếng với báo chí nên có lẽ không có mấy người biết được những gì ông đã trải qua, đã chứng kiến trong tù.

Tuy nhiên, vào sáng ngày 18 tháng Một năm 2018, ông đã dành cho Đài Á Châu Tự Do cuộc nói chuyện kể lại một số điểm đáng chú ý trong thời gian phải thụ án tù mà ông cho là oan ức.

Cuộc nói chuyện với tù nhân nhân quyền Nguyễn Ngọc Già do Gia Minh thực hiện.

Gia Minh: Ông dùng từ ‘tù nhân nhân quyền’ cho bản thân, vậy xin ông cho biết lý do?

Tù nhân nhân quyền Nguyễn Ngọc Già: Kính chào anh Gia Minh và kính chào quý khán thính giả đài RFA. Trước tiên cho tôi xin được nhắc lại là tôi là tù nhân nhân quyền bởi lẽ tôi chỉ thực hiện quyền con người của mình và vì thế tôi bị bắt phi pháp với án tù 3 năm tù giam và 3 năm quản chế. Tù nhân lương tâm là một khái niệm có từ cách đây khoảng 60 năm. Hiện nay thì tù nhân lương tâm vẫn đúng nhưng theo thiển ý của tôi tù nhân lương tâm chỉ có phạm vi hẹp bởi vì không chỉ những người bị bắt bởi điều 88, 258 hay 79, mà chúng ta biết được trong xã hội Việt Nam hiện nay rất nhiều người bị bắt vì quyền con người. Ví dụ trước đây có nông dân Đoàn Văn Vươn. Anh ấy chỉ đòi quyền đất đai mà bị kết án tù. Và mới đây thương tâm hơn đó là nông dân Đặng Văn Hiến cũng vì quyền đất đai mà nhận bản án tử hình trong phiên sơ thẩm vừa rồi.

  Tôi muốn khẳng định một lần nữa là tôi không hề chống nhà nước. Tôi chỉ thực hiện quyền con người theo đúng hiến pháp, pháp luật và tất cả các công ước quốc tế mà Việt Nam đã ký cam kết.
Tôi nghĩ tất cả những người đó đều đang đòi quyền con người của họ và họ cũng nên được gọi là tù nhân nhân quyền. Thứ hai là những người đấu tranh khác họ cũng đòi quyền con người mà thôi. Có những người bị vu cho là trốn thuế, chống người thi hành công vụ, vu cho gây rối trật tự công cộng nhưng trên thực tế thì dư luận quốc tế và trong nước đều biết là họ chỉ thực hiện quyền con người. Và như vậy tôi nghĩ quyền con người mà gọi theo tiếng Hán Việt  là nhân quyền, là một cái phổ quát, cái căn bản nhất mà tất cả người  Việt Nam hiện nay đều đang thiếu trầm trọng. Và vì vậy tôi đề nghị hãy gọi chúng tôi là tù nhân nhân quyền.

Tôi muốn khẳng định một lần nữa là tôi không hề chống nhà nước. Tôi chỉ thực hiện quyền con người theo đúng hiến pháp, pháp luật và tất cả các công ước quốc tế mà Việt Nam đã ký cam kết.

Gia Minh: Từ khi ông bị bắt, bị kết án đến lúc mãn án tù; không có thông tin gì về trường hợp của ông được đưa ra ngoài; vậy ông có thể chia sẻ những điều gì đáng nêu ra về thời gian ở trong các trại giam giữ?

Tù nhân nhân quyền Nguyễn Ngọc Già: Vì tôi chọn con đường "cô đơn trong tự do tư tưởng để đi", cho nên việc tôi bị bắt mà dư luận không hay biết cũng là bình thường. Tôi biết trước tôi bị bắt, bởi vì 3 bài viết "Tôi biết ơn Việt Nam Cộng Hòa", "Bàn về câu chuyện lá cờ" và "Hội nhà báo Việt Nam độc lập mất đoàn kết?", tôi đã cố tình cung cấp thông tin cho nhà cầm quyền Việt Nam. Có thể nói, tôi cung cấp đến 90% lai lịch của tôi, nên họ tìm ra không có gì là khó khăn. Tôi cam đoan cho đến nay, cả Sài Gòn chỉ có duy nhất gia cảnh của tôi là như vậy.

Việc tôi bị bắt không liên quan đến bất kỳ báo đài hay cá nhân nào cả. Tôi khẳng định để tránh những thông tin thất thiệt, nhằm nhiều mục đích, trong đó có mục đích làm ảnh hưởng đến báo, đài và ảnh hưởng đến danh dự của người khác.

Mặc dù tôi bị bắt đột ngột  đối với mọi người, nhưng tôi tin rất nhiều người và các tổ chức trong và ngoài nước quan tâm đến tôi, dù không biết rõ tôi là ai vào lúc bấy giờ. Khi tôi về nhà đọc tin tức, đúng như tôi dự đoán. Đó cũng là niềm an ủi rất lớn đối với tôi, bởi lẽ nhiều năm viết báo lặng thầm, tôi viết bằng lương tri dựa trên 3 căn cứ: sự thật, pháp luật và sự bền bỉ.

Lẽ ra, nhà cầm quyền VN đã trả tự do cho tôi sau khoảng 4 tháng tạm giam, như đã thả ông Hồng Lê Thọ và Nguyễn Quang Lập. Điều này do chính thiếu tá Nguyễn Đình Tứ (trưởng nhà tạm giam số 4PĐL nói với tôi, vào một hôm tôi rất buồn, đề nghị gặp ông ta để nói chuyện (trước khi chuẩn bị ra tòa sơ thẩm), nhưng vì tôi không nhận tội, nên họ quyết giam tôi luôn cho đến ngày ra tòa.Tôi luôn chọn đứng về công lý và sự thật để bênh vực cho người dân oan, tù oan, cũng như cố gắng đưa ra các biện pháp cụ thể để giải quyết những bất công trong xã hội và ứng phó với nhà cầm quyền Bắc Kinh trong vấn đề Biển Đông. Đảng Cộng sản Việt Nam nên cám ơn tôi thay vì bỏ tù tôi.

  Nhiều năm viết báo lặng thầm, tôi viết bằng lương tri dựa trên 3 căn cứ: sự thật, pháp luật và sự bền bỉ.
Có lần (tôi nhớ khoảng cuối tháng 1 hay đầu tháng 2/2015) họ dẫn ông Lập đi ngang qua, ngang lại mấy lần trước phòng "đi cung" mà tôi ngồi nhìn ra phía cửa. Ông Lập có nhìn vào, tất nhiên, tôi biết ông Lập nhưng ông Lập không biết mặt tôi.

Ngày ông Lập được trả tự do, tôi biết (vì ở đó họ để tôi mua báo Thanh Niên và Tuổi Trẻ). Ngay lúc sáng vừa mua báo đọc xong (tôi nhớ khoảng hơn 9 giờ, vì họ giao báo trễ lắm), họ gọi tôi ra và hỏi tôi có ý kiến gì không (tôi nghĩ họ gợi ý tôi nhận tội một cách khéo léo chứ không thẳng thừng, vì trong bài báo tuổi trẻ, ông Lê Đông Phong Giám đốc Công an TPHCM trả lời báo giới là ông Lập nhận tội rồi, nên được thả). Tôi trả lời, tôi vừa đọc báo thấy ông Lập được thả. Mừng cho ổng vì ổng không lành lặn, nên ở tù tội lắm Họ ngồi nói với tôi vài ba câu chuyện và sau đó để tôi đi vào.

Với nhiều biểu hiện lúc bấy giờ ở số 4 PĐL (như kể trên) cũng như đọc báo Thanh Niên, Tuổi Trẻ và họ còn cho một người "nhảy sô" tên Hiệp (nhưng cậu ta nói với tôi là tên Tùng) vào ở với tôi (Lúc đó ở trong xà lim (có từ thời Pháp) sau 2 lớp cửa, chỉ khoảng 4m2/2 người,  trong 7 tuần lễ, không nắng, không gió, không ánh sáng tự nhiên, nước xài rất ít), qua nhiều lần nói chuyện với cậu Hiệp, với đại úy Nguyễn Lương Y, thiếu tá Nguyễn Đình Tứ v.v... tôi biết nếu ông Nguyễn Tấn Dũng còn ở lại sau đại hội XII, có lẽ họ sẽ thả tôi. Nhưng chính trị vốn khó lường, cho tới khi có kết quả Bộ Chính trị mới thì tôi cảm nhận là... "xong rồi"!

Một lần vào cuối tháng 4/2015, họ gọi tôi ra trong một phòng tươm tất hơn, có cả trà mời tôi uống và có cả camera chĩa vào tôi (tôi nghĩ để phòng bên cạnh theo dõi buổi nói chuyện, tất nhiên là những người mà tôi nghĩ họ quyết định thả hay nhốt tôi tiếp). Tôi đã nói với đại úy Long, đại úy Y và ông Vinh (bên Viện Kiểm sát thành phố) rất nhiều lần, tôi không chống nhà nước gì cả; hãy trả tự do tôi, bắt thêm một người như tôi cũng chẳng giải quyết được gì; điều 88 là điều luật chống lại nhân dân (lúc đó đại úy Trần Thanh Long còn hỏi tôi có chứng minh được không, tôi nói, nếu vậy tôi phải viết một bài) v.v...

Một hôm "đi cung" (khoảng tháng 5 hay tháng 6/2015), đại úy Trần Thanh Long nói với tôi: "Anh bị bắt không phải vì những bài viết của anh mà vì lý do khác". Tôi im lặng, chờ xem cậu ta nói gì nữa. Khoảng 10 giây sau, không thấy tôi nói gì, cậu ta nhăn mặt và thốt lên, nghe rất ta thán: "Chính trị nhức đầu quá!". Theo đánh giá của tôi, Trần Thanh Long là một người công an có lương tâm nhất ở số 4 PĐL. Tôi nói điều này để chuyển thông điệp đến nhà cầm quyền VN trong bối cảnh hiện nay, lúc mà Đảng cộng sản Việt Nam đang ngổn ngang "xây dựng và chỉnh đốn đảng", những người như Trần Thanh Long đáng để cất nhắc ở cương vị cao hơn và quan trọng hơn. Bởi sau đó, tôi nói lại với đại úy Nguyễn Lương Y (cũng là một người hỏi cung tôi) về câu nói của Trần Thanh Long, cậu Long không còn tiếp tục "hỏi cung" tôi nữa mà chuyển về làm "phó nhà tạm giam", phụ việc lặt vặt, thậm chí đẩy xe cơm tù. Bộ Công an nên xem lại điều này, chính những người như cậu Long mới góp phần khôi phục hình ảnh của giới Công an mà Đảng Cộng sản Việt Nam đang rất cần hiện nay.

  Sau đó, tôi có làm "đơn xin nhận tội", để mong về cúng 100 ngày cho thằng nhỏ rồi vào lại, nhưng họ cũng khước từ
Lần khác, khoảng đầu tháng 8/2015, cũng trong một lần "đi cung", đại úy Nguyễn Lương Y bỗng nhiên đề cập đến con tôi theo cách: hãy nghĩ đến gia đình v.v... Tôi bình thản nói, trách nhiệm làm cha, tôi đã khá tròn bổn phận, tôi sống dân chủ, không áp đặt con cái v.v... Cho đến ngày 20/8/2015, giấy nhận hàng thăm nuôi đưa vào, qua lỗ nhỏ phòng giam, tôi giật mình khi nhìn thấy chữ viết và chữ ký của con trai út tôi. Tôi vừa vui mừng vừa lo âu đến trào nước mắt. Đó là lần đầu tiên và là lần cuối cùng sau 8 tháng tù, tôi nhìn thấy chữ viết và chữ ký của nó. Sau đó, con tôi qua đời ngày 28/8/2015. Ngày  25/9/2015 PA92 báo tin cho tôi là con tôi mất. Tôi không thể nào quên được cái ngày khủng khiếp đó, với cách báo tin mà tôi thấy thật tàn nhẫn vô nhân đạo, từ thượng tá Hoàng Văn Dũng, thượng tá Nguyễn Anh Tuấn, cho đến đại úy Nguyễn Lương Y và 2 người phụ trách về kỹ thuật internet mà tôi không biết tên.

Sau đó, tôi có làm "đơn xin nhận tội", để mong về cúng 100 ngày cho thằng nhỏ rồi vào lại, nhưng họ cũng khước từ. Thượng tá Hoàng văn Dũng nói với tôi là: "Anh làm thì làm chứ tụi tui không cần". Tuy thế, tôi vẫn làm mặc dù biết là không được. Lúc kết thúc điều tra rồi, ngày 31/12/2015, họ cũng không cho tôi gặp gia đình. Khoảng đâu 10 ngày sau, tôi giả bộ xin ra làm đơn, lừa lúc họ không chú ý, tôi chạy lên khoảng chục bậc thang gác, rồi nhảy xuống. May là không sao, chỉ đau lưng ê  ẩm khoảng 1 tuần. Sau đó, họ mới cho gia đình tôi vào thăm gặp. Từ đó, đổ đi mỗi tháng tôi được gặp gia đình 1 lần. Nhận đồ thăm nuôi thì 2 tuần 1 lần (như từ lúc tôi vừa bị bắt).

Qua Chí Hòa (ngày 20/4/2016), tôi gặp được thượng úy Lê Minh Phùng, cũng là người rất tốt, nhờ cậu Phùng mà 12 lời nhắn và 8 lời nhờ cậy của tôi được tạo điều kiện cho người bạn tù học thuộc lòng và mang ra bên ngoài, nên Dân Làm Báo và các báo đài v.v... mới biết mà lên tiếng cho tôi. 12 lời nhắn và 8 lời nhờ cậy, tôi cũng nhờ gởi cho báo Nhân Dân và Sài Gòn Giải phóng. Tôi nghĩ đó là những sự thật mà "các báo nhà nước" phải biết, dù tôi không tin họ lên tiếng, nhưng tôi chọn báo Nhân Dân và Sài gòn Giải phóng để gởi bởi vì đó là cách hay nhất bảo vệ cậu Lê Minh Phùng, trong thời cuộc ngày hôm nay. Công khai rộng rãi đúng thời điểm, đúng sự việc là cách tôi nghĩ phù hợp với bản thân mình.

Cũng vì 12 lời nhắn và 8 lời nhờ cậy và vì giúp bạn tù viết bài bào chữa, viết lời nói cuối cùng, đồng thời tôi tố cáo (bằng văn bản viết tay) thiếu tá Lê Văn Yên phó khu F dung dưỡng nạn đại bàng, vi phạm Luật thi hành án hình sự và có dấu hiệu ăn hối lộ, nên tôi bị trả thù bằng 2 lần đi cùm do thượng tá Nguyễn Văn Em và thượng tá Nguyễn Quang Quế, ký lịnh, nhưng họ không chịu đưa tôi quyết định cùm, mặc dù tôi có đòi, họ chỉ đưa tôi coi rồi lấy lại. Tôi còn bị đại tá Nguyễn Hoàng Tuấn - giám thị Chí Hòa làm công văn gởi Tòa án nhân dân cấp cao vu khống tôi "chống phá nhà nước", nhằm mục đích tăng nặng tội tôi thêm. Công văn này, tôi biết được là nhờ Luật sư Hà Huy Sơn vào với tư cách luật sư của tôi đưa tập hồ sơ tôi xem, khi anh Sơn vào gặp tôi trước ngày ra tòa phúc thẩm. Khu F Chí Hòa còn vi phạm nội quy trại tạm giam, giam lẫn lộn người đã thi hành án và người đang chờ kháng cáo kháng nghị, tạo điều kiện cho đại bàng là Đỗ Viết Quế  (đã có án chính thức là 2 năm về tội "cố ý gây thương tích", nhưng lo tiền để nằm lại trong phòng khỏi phải đi lao động) được thiếu tá Yên giao làm "đại diện buồng", hắn bắt bạn tù phục dịch, chửi bới và hành hạ bạn tù rất nhiều. Đỗ Viết Quế còn khoe sẽ ra tù vào 2/9/2016 vì lo tiền. Và đúng y như vậy. Khi tôi tố cáo Đỗ Viết Quế, Chí Hòa mới lo sợ, họ vừa cùm tôi vừa chuyển tên này xuống ở khu của những người chuẩn bị tự do và sau đó, ra tù đúng dịp 2/9.

Gia Minh:Thực tế nhà tù Việt Nam từng được một số cựu tù nhân lương tâm/tù chính trị cho biết trước đây. Ông có thể đối chiếu và so sánh gì?

Tù nhân nhân quyền Nguyễn Ngọc Già: Tôi nhớ anh Điếu Cày từng nói, khi đã qua Mỹ: Nhà tù nào ở Việt Nam cũng ác, nhưng ở Cái Tàu - Cà Mau đúng là "trại súc vật". Riêng tôi, tôi phải nói rằng "Mỗi nhà tù một kiểu, ác thì ngang nhau". Lao động khổ sai, như tại Chí Hòa, tận mắt tôi chứng kiến, rất khổ và nguy hiểm, khi người tù phải khiêng "nước đá cây" mỗi ngày leo lên 4 tầng lầu, có khi nước đá rớt dập chân, làm hư và thúi móng chân. Người tù lao động bị đánh như cơm bữa. Không những thế còn bị đánh hội đồng rất dã man. Gắn camera ngoài hành lang chỉ là hình thức, công an lôi người tù vào góc khuất để đánh. Tôi nhớ, chiều ngày 22/5/2016, một nhóm công an khoảng 5 - 6 người cầm dùi cui và thay phiên nhau đánh một cậu bé (trong tù gọi là "cô nhi", ám chỉ những người dưới 18 tuổi) rất dã man, ở tầng trệt khu BC. Tôi nhớ rõ như in, bởi ngày đó là ngày bầu cử quốc hội. Còn nhiều trận đòn khác nữa mà chính tôi chứng kiến ngay trong phòng 13 khu F tôi ở, khi người tù lén hút thuộc lào. Phải nói là bị đánh tơi tả. Rồi bị cắt thăm nuôi 1 tháng.

  Nhà tù nào ở Việt Nam cũng ác, nhưng ở Cái Tàu - Cà Mau đúng là "trại súc vật"
Còn ở trại Xuân Lộc, họ vi phạm quy trình, nội dung pháp lý và pháp luật. Khi nói với họ về luật, họ cứ trơ ra. Ngay cả thông tư 27 mới nhất của Bộ Công an có hiệu lực từ 6/10/2017, tôi nhắc nhưng họ vẫn coi như không. Đó là điều mà Bộ Chính trị , ông Tô Lâm, ông Nguyễn Ngọc Bằng (Tổng cục trưởng TC8) nên xem lại, trong bối cảnh Việt Nam đã hội nhập quốc tế, mà Việt Nam là nước vừa nhỏ vừa yếu, chứ không phải lớn và mạnh như Trung Quốc.

Trại Xuân Lộc cũng không phổ biến pháp luật  cho tù nhân. Mà đây lại là trách nhiệm của các trại tù.

Về luật Thi hành án hình sự, các cơ quan hành pháp và tư pháp đều vi phạm nghiêm trọng. Ví dụ như, không giao bản án phúc thẩm và quyết định thi hành án cho tôi. Tôi đã gửi thư đòi tòa giao cho tôi từ tháng 8/2017 sau hơn nửa năm trời yêu cầu giấy viết từ trại Xuân Lộc, mới viết được. Ban đầu họ làm lơ, khi tôi đòi quá, thì thiếu tá Nguyễn Thế Thung nói đó là nhiệm vụ của Tòa, nên mới đưa giấy viết cho tôi. Tuy nhiên,  từ đó đến nay, bên tòa cũng không hồi đáp gì cả. Hoặc cũng có thể trại Xuân Lộc không gởi thư của tôi đi. Tuy nhiên, tôi đã sử dụng "bản kiểm điểm" theo quy định pháp luật (nhằm để bình bầu cho việc giảm án) 6 tháng đầu và cuối năm để trình bày đầy đủ mọi việc rồi. Các bản kiểm điểm này là văn bản quy phạm pháp luật, nên tôi tin trại Xuân Lộc còn lưu.

Có một số bạn tù lại thực hiện tẩy chay, không viết bản kiểm điểm. Tôi nghĩ, quan trọng là chúng ta viết nội dung gì và có viết sự thật hay không trong bản kiểm điểm.

Đa số bạn tù của tôi đều giống nhau suy nghĩ, viết bản kiểm điểm chỉ là việc "nhận tội" hay "không nhận tội",  một vài người thì nghĩ không nhận tội thì khỏi viết luôn.  Tôi hay nói với anh em tù: "Đòi thì chưa chắc được, nhưng không đòi thì không bao giờ được". Tuy nhiên, bạn tù tôi lại có quan điểm khác: Đòi hay xin phải được mới đòi, mới xin. Nhưng biết có đòi, có xin không bao giờ được nên khỏi đòi, khỏi xin luôn. Đó thuộc về nhân sinh quan, nên rất khó thuyết phục.

Tôi đòi phổ biến luật thì họ đưa ra cho coi... bảng "nội quy trại giam".  Đòi kiên trì, họ mới đưa ra thông tư (số  ngày gì đó, tôi không tài nào nhớ nổi),  trong đó, tôi thấy có việc "nhận tội" mới được giảm án. Nhưng, về nhà, tôi tìm trên mạng thấy thông tư liên tịch 02/2013/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC "HƯỚNG DẪN THI HÀNH CÁC QUY ĐỊNH VỀ GIẢM THỜI HẠN CHẤP HÀNH ÁN PHẠT TÙ ĐỐI VỚI PHẠM NHÂN" ban hành ngày 15/5/2013, có hiệu lực từ 01/7/2013, trong đó tại điều 6 chương 2 không hề quy định tiêu chuẩn để được giảm án là phải "nhận tội". Ở điều 18, chương 5 nói rằng "Các văn bản trước đây của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện các quy định về giảm thời hạn chấp hành án phạt tù trái với Thông tư liên tịch này đều bãi bỏ". Tôi không nhớ rõ cái văn bản kia (chắc là văn bản hết hiệu lực).

Trên thực tế, các trại tù luôn đòi người tù (thường gọi là TNLT) phải nhận tội như là tiêu chuẩn số một để giảm án. Việc này vi phạm thông tư  liên tịch 02, không những vậy nó còn phản khoa học, vì "nhận tội" hay "không nhận tội" đó là "công đoạn" của quá trình điều tra và xử án, không phải của "công đoạn" thi hành án. Ngay cả những người đã ra tù, có lẽ cũng không để ý đến điều này.

Người ta cũng biết, Bộ luật tố tụng hình sự (mới) có điều 13 "Suy đoán vô tội", nên việc "nhận tội" để được giảm án trở nên mâu thuẫn với luật mới này. Tôi nghĩ các luật liên quan nên đồng bộ với nhau.

  Trên thực tế, các trại tù luôn đòi người tù (thường gọi là TNLT) phải nhận tội như là tiêu chuẩn số một để giảm án
Về quy trình bình bầu để được xét giảm án, trại tù Xuân Lộc cũng không hề phổ biến. Ngay cả những bạn tù của tôi ở 18 - 21 năm cũng không hề biết và không hề quan tâm đến quy trình, khi tôi hỏi mấy anh em "quy trình xét bình bầu", họ còn nhầm lẫn là "tiêu chuẩn xét bình bầu". Không ai biết "quy trình bình bầu" và cũng không ai hiểu rõ "tiêu chuẩn bình bầu". Tất cả "tiêu chuẩn" hay "quy trình" chỉ là truyền miệng giữa người tù cũ và mới.

Trong quy trình xét bình bầu để được giảm án hay không, luôn phải có chữ ký "đội trưởng" (lẽ ra do anh em tù trong đội bầu lên) trong việc tổ chức họp bình bầu, bởi vì mẫu bản kiểm điểm (là văn bản quy phạm pháp luật, do Bộ Công an ban hành) có chữ ký đội trưởng trong đó và đội trưởng là khâu đầu tiên phải trải qua trong việc bình bầu.

Tôi ở Xuân Lộc 1 năm, nhưng Xuân Lộc không bao giờ tổ chức họp theo quy định, họ chỉ phát bản kiểm điểm, ai viết thì viết , ai không viết thì thôi. Viết xong, họ thu về. Tôi đòi nhiều lần họp đội để "đội trưởng" trình diện cho anh em biết. Họ phớt lờ cho đến lúc tôi kiên trì đòi, thiếu tá Nguyễn Thế Thung mới vội vã đưa ra quyết định giao ông Phan Thanh Liêm (bạn tù của chúng tôi) làm đội trưởng cho tôi coi, nhưng tôi hỏi ông Liêm, ông ấy nói không hề làm đội trưởng. Tôi nghĩ họ ngụy tạo vì QĐ ban hành vào tháng 6/2017, trước đó chẳng có ai làm đội trưởng cả.

Vấn đề "nhận tội" hay "không nhận tội" lại là một đề tài khá tế nhị, bởi từ đó mà bạn tù rất dễ chia rẽ, kỳ thị lẫn nhau và cả dư luận bên ngoài cũng xét nét vấn đề này nhiều lắm. Mặt khác, trại tù cũng vin vào đó là "căn cứ số 1" để muốn cho ai giảm án, giảm bao nhiêu thì giảm, nên những người nhận tội hầu như sống lặng lẽ, như một cái bóng, không hề dám mở miệng dù là việc rất nhỏ, vì sợ mất lòng cai tù, rồi  bị "múa bút" phết vào "kém" là coi như năm đó không được giảm án tháng nào.

Mặc dù, tôi không nhận tội, nhưng tôi thấy rất thương những người nhận tội. Họ như những chú mèo, luôn sợ hãi mọi thứ chung quanh. Sợ cả bạn tù, sợ cả công an cai tù, sợ ngay cả những tù thường phạm lao động. Nói chung họ sống với nỗi sợ hãi thường trực cùng tâm trạng phập phồng, nơm nớp. Nói đúng hơn là họ tồn tại như những "xác sống biết đi", chứ không phải con người bình thường.

Tất cả những việc muốn giảm bao nhiêu tháng, giảm hay không giảm hoàn toàn tùy thuộc vào giám thị, phó giám thị và các trưởng phân khu. Có thể hình dung, các giám thị như là một lãnh chúa cai quản một "lãnh địa". Giám thị muốn gì làm nấy, như một thứ "luật bất thành văn".

Tôi thấy trại Xuân Lộc làm việc mờ ám và vi phạm luật nhiều lắm. Ví dụ như: tôi ở đội 32 chỉ có mười mấy người, họ nhốt cách ly chúng tôi sau 3 lớp cửa, cứ 2 người 1 phòng, cứ 4 người có 1 sân chung nhỏ chừng vài bước chân cho mỗi bề ngang và bề dọc, cứ 2 người thì có một ô đất nhỏ chừng 2,5 mét vuông để ai muốn trồng gì thì trồng, có một góc bếp để tự nấu ăn.  Chúng tôi bị nhốt như thế suốt ngày đêm như trong sở thú. Sáng khoảng 5h30 đến 6 giờ họ mở lớp cửa thứ 2 và thứ 3, cho chúng tôi ra khoảng sân nhỏ như thế, đến 11 giờ trưa họ khóa lớp cửa thứ 2, đến 1 giờ rưỡi mở ra, rồi đến 5 giờ chiều thì chúng tôi vào trong phòng cho đến sáng hôm sau.  Cứ mỗi lớp cửa họ gắn 1 camera để giám sát chúng tôi, một cái ở cửa 1 (cửa 1 chỉ được bước ra lúc lấy cơm), một cái ở cửa 2 (cửa 2 trưa đóng lại) và 1 cái ở cửa 3 (tức ngay phòng ngủ). Camera ở cửa 3 chĩa vào ngay chỗ ngủ rất trơ trẽn, anh em tù phản đối nhưng họ cứ phớt lờ, riêng tôi viết một lá thư gởi cho giám thị - đại tá Thái Duy Hồng nói thẳng là phải xức thuốc ghẻ ở chỗ kín, các ông gắn camera vậy, tui thấy kỳ quá! Chúng tôi đâu phải con thú. Tất nhiên, đáp lại là sự im lặng.

Có 1 cái TV chỉ cho coi VTV1 và VTV3. Từ chỗ ở ra đến chỗ thăm nuôi, tôi phải qua 5 lớp cửa tù (3 lớp như kể trên, sau đó đi qua 1 khoảng sân dài chừng 50 mét) tới lớp cửa thứ 4, sau đó khi một khoảng sân nữa cũng chừng 50 mét là lớp cuối cùng. Từ lớp cuối này đi khoảng 20 mét ra phòng thăm nuôi. Vấn đề thăm nuôi cũng lắm gian nan...

  Hậu quả của những tháng năm trầm uất khiến người tù bị rất nhiều chứng bệnh, trong đó đặt biệt là đau dạ dày.
Trại Xuân Lộc muốn người tù sống lặng lẽ như thế;  không đòi hỏi, không mong muốn, không thắc mắc, không khát khao, không cần suy nghĩ gì cả, đến giờ ăn thì ăn, đến giờ ngủ thì ngủ, ai muốn tập thể dục thì tập; TV có đó, cứ coi; ngồi chờ đến ngày về, đừng "cự cãi", "đừng xin xỏ", "đừng thắc mắc" gì hết v.v.... Và tất cả đều câm lặng, lầm lũi sống như vậy. Tôi nghĩ hầu hết mọi bạn tù của tôi như là những "cái xác sống di động"! Tôi nói thật,  không hề có ý mỉa mai gì cả, trại Xuân Lộc hoàn toàn thành công khi biến những con người bình thường trở thành những "phế nhân tinh thần" (kể cả những người không nhận tội cũng đầy sợ hãi và nghi kỵ lẫn nhau).

Tất cả bạn tù ở chung với tôi, đa số đều ở tù rất lâu, hầu như không ai hiểu biết về pháp luật, nên trại tù "múa" kiểu gì họ theo kiểu đó. Cũng bởi 2 hội chứng "stockholm và tự kiểm duyệt", nên ngay cả những người "không nhận tội" cũng lạc hậu hoàn toàn và hầu như không quan tâm gì khác ngoài việc trông đến ngày về.

Ở tù rồi mới thấy  2 loại hội chứng nói trên rất đáng sợ. Hai hội chứng này phát triển nhanh và đúng về tâm lý. Hai hội chứng này không chỉ diễn ra ở tù thường phạm mà ngay cả những người bạn tù ở chung với tôi (về tội 84, 79, 88)  cũng bị rất nhiều.  Trong khuôn viên rộng lớn như K2 Xuân Lộc, nhưng nó giống như một nghĩa trang đìu hiu và vô cùng vắng lặng, thỉnh thoảng nghe tiếng kinh vọng vang từ xa xa (tôi nghĩ đó là dành cho những người vừa mới chết) và nhiều chi tiết khác, chính những điều này luôn tạo cho người tù sống trong bất an, một cái thở mạnh cũng không dám, một tiếng cười giòn tan, sảng khoái cũng không có, một câu chuyện tiếu lâm kể cho nhau cũng không. Hậu quả của những tháng năm trầm uất khiến người tù bị rất nhiều chứng bệnh, trong đó đặt biệt là đau dạ dày. Còn nhiều loại bịnh lắm: thận, tim, mắt, rụng răng, đau đầu kinh niên, viêm đa khớp v.v...

Có anh Phạm Xuân Thân (án chung thân vì ám sát đoàn tiền trạm của Giang Trạch Dân từ hồi những năm cuối 90 thế kỷ trước, nghe ảnh nói nếu ảnh nhận tội thì đã về từ lâu, vì gia đình ảnh cũng hầu hết là công an), anh ấy bị viêm xoang rất nặng. Xin đi chữa, họ cứ làm ngơ. Bởi vì, đưa người tù ra chữa bịnh viện đời, rất khó khăn vì họ rất sợ trách nhiệm nếu tù nhân bỏ trốn. Tất cả công an ở tất cả trại tù vô cùng sợ trách nhiệm. Đây cũng là "bệnh chung" của cả bộ máy nhà nước bấy lâu nay, không chỉ riêng "lãnh vực ở tù".  Tôi có đòi đưa anh Thân đi chữa viêm xoang vì nặng lắm, đứng gần ảnh nghe cả mùi hôi khi nói chuyện, nhưng tuyệt nhiên họ không đưa đi. Nói cho ngay, cũng vì trách nhiệm họ sợ quá, chứ cũng không phải họ không muốn. Bởi vì đi như thế, luôn luôn phải có công an đi cùng 24/24. Các sinh hoạt đều phải chịu sự giám sát. Ví dụ, đi toilet xong, ra là phải còng tay liền, đi chích thuốc, đi xét nghiệm v.v... cũng y như vậy. Nhiêu khê lắm, nên CA sợ lắm. Hãy nhớ lại thầy giáo Đinh Đăng Định là việc điển hình cho tính sợ trách nhiệm.

Nói chung, trại tù Xuân Lộc coi tất cả như thế là chẳng hề vi phạm quyền con người gì cả (!). Chắc họ nghĩ chỉ khi nào đánh đập, cùm chân, chửi bới, bỏ đói mới là ... vi phạm Quyền Con Người (!). Ngay cả vấn đề giám sát hầu như không có. Tổng cục 8 xuống như "cưỡi ngựa xem hoa" (tôi gặp hai lần, 1 lần vào ngày 1/4/2017, thiếu tướng Phan Xuân Sơn, tôi chất vấn thì trả lời cách giam tù như vậy không có gì vi phạm quyền con người).

Trong tù, có câu ngạn ngữ: "Tù chỉ cần mình gục chứ không cần mình phục"!  Tôi nghĩ, giới công an nói chung, không phải không biết, nhưng chắc họ nghĩ  mình là tù, nên họ không muốn tạo thành tiền lệ (dù những đòi hỏi của tôi đều đúng theo pháp luật) để rồi kiểu như gọi là "được voi đòi tiên".

Tóm lại, trại Xuân Lộc hành xử rất tùy tiện, khi thi hành công vụ, mặc dù tôi đã nhắc họ rằng ông Tô Lâm yêu cầu giới công an không được đứng trên và đứng ngoài pháp luật mà tôi đọc từ báo Nhân dân. Cũng có lẽ vì vậy, ông Nguyễn Xuân Phúc phải than "trên nóng dưới lạnh" hay trước đây ông Phan Văn Khải nói "trên bảo dưới không nghe". Chính tình trạng này làm cho Đảng Cộng sản Việt Nam dễ "sa lầy" trong mọi vấn đề, không riêng "vấn đề ở tù". Điều này thì ai cũng thấy và biết rõ.

Hoàn cảnh xã hội VN hiện nay, bi đát và tan nát về mọi mặt, nhất là về "nhân tâm", Bộ Chính trị nên suy ngẫm và thay đổi cung cách quản lý và tuân thủ pháp luật ở các trại tù, chứ cứ như hiện nay góp phần rất nhiều trong việc bôi nhọ "danh dự uy tín" của Đảng Cộng sản Việt Nam bên cạnh vấn đề tham nhũng, mà giám thị và phó giám thị trại Thạnh Hòa bị kỷ luật tháng 7/2017 là một ví dụ về chính sách "nhân đạo và khoan hồng" của nhà cầm quyền VN bị trại tù làm hoen ố.

Tôi nghĩ, đe dọa sự tồn vong của chế độ này, không chỉ từ tham nhũng - như ông Nguyễn Phú Trọng đã thừa nhận - mà còn từ tình trạng bắt người phi pháp và thi hành án vô nhân đạo - tức là một trong các Quyền Con Người bị chà đạp (tình trạng này nói chung cho cả tù thường phạm chứ không chỉ riêng những người bất đồng chính kiến hay hoạt động XHDS), sau đó mới đến vấn đề Biển Đông.  Đây là trách nhiệm của ĐCSVN, cụ thể là của Bộ Chính trị và Ban chấp hành trung ương đảng bởi điều 4 hiến pháp quy định "... Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về mọi quyết định của mình" mà trong điều 4 hiến pháp cũ không có.

Gia Minh: Từ sau đại hội đảng cộng sản Việt Nam vào đầu năm 2016 và sang những tháng đầu năm 2017, cơ quan chức năng Việt Nam tiến hành chiến dịch đàn áp mạnh tay đối với giới bất đồng chính kiến, các tiếng nói đối lập, các nhà hoạt động vì dân chủ- nhân quyền. Một số đã bị tuyên án nặng với các cáo buộc ‘tuyên truyền chống nhà nước CHXHCNVN’ và ‘hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân’; ông có nhận định gì về các biện pháp đó?

Tù nhân nhân quyền Nguyễn Ngọc Già: Trước tiên, tôi xin phép chia sẻ suy nghĩ về  các loại xử án, tôi nghĩ có 5 loại: Xử theo thành kiến, xử theo thái độ, xử theo dư luận, xử theo thời cuộc và loại thứ năm là loại hỗn hợp của hai đến ba hoặc bốn loại trên. Ông Đinh La Thăng và các ông khác hiện đang bị xử loại năm (với sự pha trộn giữa loại 3 và loại 4). Hoặc như chị Mẹ Nấm (là loại 1 + loại 2 + loại 3 + loại 4), chị Trần Thị Nga cũng giống vậy, hoặc như trước đây là Đoàn Văn Vươn là loại 3 + loại 4. Tôi muốn nói rõ để tránh hiểu lầm. Khi xử theo loại 2, loại 3 và loại 4, có cả 2 chiều, có thể tốt lên hoặc cũng có thể xấu đi, ví dụ vụ Đoàn Văn Vươn là tốt lên hay Huỳnh Văn Nén được minh oan và đền bù, đó là tốt lên

  Nhưng ngoài biện pháp bỏ tù, sách nhiễu, đàn áp nhiều cách khác nhau, có lẽ Đảng Cộng sản Việt Nam không tìm ra được biện pháp nào tốt hơn.
Cũng như nhiều người đã nói, tăng cường bỏ tù phản ánh câu nói của Marx "Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh". Càng đấu tranh nhiều thì bị bỏ tù càng nhiều. Đó là đúng theo quy luật. Tất nhiên chẳng ai muốn ở tù. Nhưng ngoài biện pháp bỏ tù, sách nhiễu, đàn áp nhiều cách khác nhau, có lẽ Đảng Cộng sản Việt Nam không tìm ra được biện pháp nào tốt hơn. Nếu chúng ta đặt mình vào vị thế của Đảng Cộng sản Việt Nam, phải nói thật là cũng rất khó, vì tình hình bấy lâu nay, giống như căn bịnh trầm kha mà "lờn thuốc" rồi. Do đó, ngoài chữ "bế tắc chính trị", tôi không biết còn có từ nào phù hợp hơn không.

Gia Minh: Theo ông sự lên tiếng can thiệp của các tổ chức quốc tế và Liên Hiệp Quốc cho các trường hợp tù nhân lương tâm có tác dụng đến đâu và nên tiến hành thế nào?

Tù nhân nhân quyền Nguyễn Ngọc Già: Nói về Liên Hợp Quốc, thì đó là tổ chức lớn nhất hành tinh, với sự tham gia tự nguyện của hàng trăm quốc gia. Chính vì tự nguyện tham gia nên tất cả các công ước đều theo "cơ chế tự nguyện". Các quốc gia ký cam kết và nếu tự nguyện thực thi thì tốt, nếu không cũng không có gì ràng buộc.

Hồi tôi ở Xuân Lộc, đâu khoảng tháng 3/2017, coi VTV sáng có tin Ngoại trưởng Rex Tillerson tuyên bố "Hoa Kỳ sẽ rút khỏi Hội đồng nhân quyền Liên Hợp Quốc nếu tổ chức này không tiến hành cải cách lớn" và sau đó khoảng đâu tháng 9 hay 10 gì đó, VTV có đưa tin  Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc Antonio Guterres nói là (hình như) thúc đẩy chương trình cải cách toàn diện để tăng cường hiệu quả của Liên Hợp Quốc. Không biết bây giờ ra sao rồi nữa.

Các tổ chức phi chính phủ thì chức năng của họ như là người quan sát, dõi theo và lên tiếng cho chúng tôi. Có lẽ cũng chỉ dừng lại đó, dù rất là biết ơn các tổ chức này, nhưng tôi hiểu giới hạn của họ là chừng mực.

Gia Minh: Nhân câu chuyện đầu năm 2018 này, ông có điều gì muốn tâm tình cùng quí khán, thính giả của Đài Á Châu Tự Do?

Tù nhân nhân quyền Nguyễn Ngọc Già: Tôi viết bằng lương tri dựa trên 3 căn cứ: sự thật + pháp luật + sự bền bỉ. Có lẽ vì thế mà tôi được độc giả thương mến. Chúng ta có thể "lừa" độc giả qua vài bài viết, chứ lên đến cả trăm bài, không "lừa" được độc giả đâu. Nói điều này để nhắn với các nhà báo, blogger, facebooker rằng: "Văn là Người", nếu quý vị nào còn nghĩ rằng, có thể "lừa" được độc giả thì lầm to. Độc giả có thể không viết được như chúng ta, nhưng họ hiểu hết và cảm nhận được hết.

Thông tin, theo tôi biết, người ta chỉ phân loại tin giả mạo hay tin trung thực. Còn các bài bình luận, phân tích thì để độc giả người ta đánh giá. Tôi chỉ viết với 3 căn cứ nêu trên và không bao giờ gieo rắc hận thù, bạo lực hay bóp méo, xuyên tạc.

Tôi chân thành cám ơn RFA đã dành cuộc phỏng vấn này cho tôi và kính chúc quý độc giả xa gần năm mới nhiều sức khỏe.

Gia Minh: Một lần nữa xin thay mặt quí thính giả Đài Á Châu Tự Do, chân thành cám ơn ông đã dành cho chúng tôi cuộc phỏng vấn đặc biệt này.

Gia Minh
RFA

Tổng Bí Thư, Quân Ủy TƯ tuyên chiến với toàn dân?


Cuộc đấu tranh trên không gian mạng ngày càng mở rộng, mang dấu ấn tất yếu của thời đại kỹ thuật truyền tin hiện đại, bén nhạy.

Các vụ xử đại án đang làm lu mờ một tin rất hệ trọng và nghiêm trọng. Đó là mở đầu năm mới 2018, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng Quân ủy TƯ quyết định cử đại tá Tống Viết Trung, Phó Tổng giám đốc Tổng công ty Viễn thông quân đội Viettel, làm phó tư lệnh Bộ tư lệnh Tác chiến không gian mạng, kèm theo thông tin lực lượng này có 10.000 tinh binh, mang tên « Lực lượng 47, » theo hình ảnh của khẩu súng AK47, khẩu súng lợi hại nhất của bộ binh trong chiến tranh.

Quyết định trên mang ý nghĩa gì?

Trước hết, cuộc đấu tranh trên không gian mạng ngày càng mở rộng, mang dấu ấn tất yếu của thời đại kỹ thuật truyền tin hiện đại, bén nhạy.

Cuộc đấu tranh chính nghĩa chống độc đoán phi dân chủ, đòi nhân quyền và dân chủ của toàn thế giới lên cao. Trong khu vực Đông Nam Á và Đông Á, các nước Indonésia, Maláysia, Nam Hàn, Đài Loan… đều chuyển từ chế độ độc đoán sang dân chủ một cách sâu sắc, trong hòa bình, làm nên những thần kỳ về kinh tế. Ở Việt Nam, mấy năm nay phong trào đòi dân chủ và nhân quyền có bước phát triển rõ rệt. Đây là nét son tươi thắm đẹp nhất của tình hình chính trị nước ta, những thành tựu đáng trân trọng nhất.

Người dân nước ta quen phục tùng trong thời chiến đã bắt đầu mở miệng, tự tin, nói lên suy nghĩ của chính mình. Chính quyền tỏ ra sợ Trung quốc bành trướng, cả nể, phục tùng nhượng bộ chúng thì nhân dân càng tỏ ra khinh thường, chống đối và lên án mạnh mẽ, bằng những cuộc xuống đường đông đảo.

Chưa bao giờ nước ta có đến hơn 40 tổ chức xã hội dân sự phong phú, tồn tại vững chắc, từ tổ chức cựu Tù nhân chính trị, Hội Nhà báo độc lập, Văn đoàn độc lập, hội Luật sư chuộng Công lý, hội các Tôn giáo và Liên tôn giáo (Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo), các mạng Dân làm báo, Dân Luận, Đối thoại, Đàn Chim Việt, Tiếng Dân…, các Câu Lạc Bộ tự do, các blogger tự do.

Nhiều cán bộ cao cấp, trung cấp và đảng viên thường thoát đảng, ra đảng, bỏ sinh hoạt đảng, lên tiếng chống lại đường lối và chính sách giáo điều cổ hủ.

Vai trò chăn dắt dân chúng của Ban tuyên giáo TƯ bằng báo chí, loa đài ngày càng trở nên vô duyên, người dân tin ở các mạng truyền thông tự do lề trái hơn là 700 tờ báo và 60 đài lề phải của Nhà nước, nhạt nhẽo, chung một nội dung nhàm chán, nói theo công thức.

Chính do bộ máy tuyên huấn của đảng tỏ ra bất lực một cách thê thảm và nguy hiểm cho đảng mà đầu năm nay, Tổng bí thư và Bộ Chính trị cùng Quân ủy TƯ giật mình, bỗng nảy ra sáng kiến thành lập Bộ Tư lệnh tác chiến mạng, chuyển trách nhiệm lãnh đạo cuộc đấu tranh tư tưởng trong xã hội từ Ban Tuyên giáo sang cho Quân đội đảm nhận.

Một thủ lĩnh của Viettel được giao nhiệm vụ này, khi Viettel hiện nguyên hình là một tổ chức cướp đất của dân Đồng Tâm/Mỹ Đức, một tổ chức viễn thông của bộ Quốc phòng, một ổ tham nhũng cực lớn, lấn át chức năng thông tin viễn thông của bộ Thông tin truyền thông để kiếm lợi lớn chia nhau.

Đối tượng tác chiến của cái Bộ Tư lệnh mạng này là ai? là toàn dân đang khao khát dân chủ và tự do vì ngày càng thấy mối nhục thua kém xa các nước láng giềng về đủ mọi mặt là do chế độ độc đảng quá lỗi thời, do một tổng bí thư già nua, kiên định những điều lẽ ra phải từ bỏ từ lâu, như kiên định chủ nghĩa Mác – Lê, kiên định chủ nghĩa xã hội, kiên định lấy quốc doanh làm chủ đạo, kiên định chính sách « đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thay mặt quản lý », những kiên định ấy chính là nguồn gốc của mọi bất công, đói nghèo, lạc hậu.

Vậy cuộc chiến trên mạng sắp đến sẽ quyết liệt ra sao? Cuộc hỗn chiến sẽ diễn ra trên các bàn phím máy điện toán ngày càng phổ cập. Quân đội Nhân dân, nay do đảng bắt phải cắt bỏ hai chữ Nhân dân, chỉ còn là quân đội của đảng, do đảng chỉ huy để chống lại khát vọng dân chủ nhân quyền của nhân dân.

Trong thời gian tới, trọng điểm cuộc đấu tranh sẽ diễn ra trên bàn phím, trên một mặt trận ảo, nhưng bên chính nghĩa, bảo vệ độc lập, tư do, dân chủ của nhân dân, dựa vào chân lý, sự thật sẽ thắng to, thắng đậm, bên độc đảng, độc đoán, đi ngược lòng dân, lừa dối và tham nhũng giáo điều… sẽ thất bại hoàn toàn.

Trong bế tắc, ông Tổng bí thư và Quân ủy trên thực tế đã xóa bỏ Mười lời thề danh dự của Quân Đội Nhân Dân, quân đội của dân, do dân, vì dân, vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh, cưỡng bức quân đội chống lại nhân dân, họ sẽ thất bại.

Kết quả ra sao của chủ trương mới này, đã có thể thấy rõ, đó là qua cuộc đọ sức thực tế, quân đội sẽ ngày càng nhận ra lẽ phải và gắn bó hơn với nhân dân, với bà con quê hương mình, với các tổ chức xã hội dân sự, sẽ ngày càng nhận ra sự lừa dối phi nghĩa của đảng, vì 10.000 nghìn tên bộ đội tác chiến phá mạng của cái Lực lượng 47 chỉ là một lũ kiêu binh mù quáng, vì chống lại chúng, nhân dân có hàng triệu tay nam nữ thanh niên trí thức am hiểu sâu kỹ thuật, làm chủ máy tính hiện đại, hàng triệu email, hàng triệu Facebook, hàng vạn blogger tinh nhuệ. Lực lượng lành mạnh này dám thách thức lực lượng 47 mở cuộc điều tra công khai công luận xem trong nhân dân còn có bao nhiêu người còn tin ở chủ nghĩa Mác- Lê, còn tin ở Chủ nghĩa xã hội viển vông, ở chế độ độc đảng phi dân chủ? Họ không dám làm thì tự các tổ chức xã hội công dân sẽ có thể làm một cách công khai đàng hoàng, khoa học.

Vỏ quýt dày đã có móng tay nhọn. Số lượng và chất lượng đấu tranh trong cuộc chiến ảo lý thú và hệ trọng này thuộc về phía nhân dân.

Không có gì liều và dại bằng tuyên chiến với toàn dân đang thức tỉnh đòi dân chủ, nhân quyền một cách kiên trì và quyết liệt.


Bùi Tín
Blog VOA

Những lời thỏ thẻ trước tòa


Trịnh Xuân Thanh (phải) và Đinh La Thăng tại Tòa ở Hà Nội.

Những “lời cuối cùng” mà ông Đinh La Thăng và ông Trịnh Xuân Thanh thỏ thẻ với Hội đồng xét xử vụ án “Cố ý làm trái qui định của nhà nước gây hậu quả nghiêm trọng”, “Tham ô”, xảy ra tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN), trước khi các thẩm phán và hội thẩm nhân dân nghị án, giống như cáo trạng dành cho “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” tại Việt Nam.

***

Hiến pháp Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định, nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, vì nhân dân và cho nhân dân, do nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” theo phương thức “phân công, phối hợp, kiểm soát các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Qua Hiến pháp, Đảng CSVN – lực lượng vẫn giành và cố giữ vai trò của “lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội” – cam kết “hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

Nội dung những “lời cuối cùng” mà ông Thăng, rồi ông Thanh thỏ thẻ với Hội đồng xét xử họ cho thấy, dẫu khoác áo “cộng hòa” nhưng Việt Nam có… vua. Tuy không ngai song ông vua này chính là người điều khiển “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, Hiến pháp, pháp luật chỉ là những cái “bánh vẽ”. Đó là lý do cả ông Thăng lẫn ông Thanh cùng xin lỗi “Tổng Bí thư”, “bác Trọng”… cùng đưa ra những đề nghị mà thiên hạ đang đàm tiếu là ngây ngô: Ông Thăng xin được tại ngoại để “ăn Tết” với thân nhân và bạn bè trước khi vào tù thi hành bản án mà Hội đồng xét xử sắp tuyên. Ông Thanh thì xin sang… Đức chăm sóc vợ dại và ba con thơ!

Có bao nhiêu người hiểu bản chất “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” tại Việt Nam hơn ông Thăng - cựu Đại biểu Quốc hội, cựu Ủy viên Bộ Chính trị, cựu Bí thư Thành ủy TP.HCM và ông Thanh – cựu Đại biểu Quốc hội, cựu Phó Chủ tịch tỉnh Hậu Giang? Chắc là chẳng có bao nhiêu! Nếu đã hiểu tường tận bản chất “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” tại Việt Nam thì những lời xin lỗi và đề nghị của ông Thăng, ông Thanh hẳn có chủ đích: Giúp “Tổng Bí thư”, “bác Trọng”, giúp Đảng CSVN rửa… mặt. Không ít người đã so sánh phiên xử ông Đinh La Thăng, Trịnh Xuân Thanh và các đồng phạm “Cố ý làm trái qui định của nhà nước gây hậu quả nghiêm trọng”, “Tham ô” với phiên xử những cá nhân tranh đấu cho tự do, dân chủ tại Việt Nam. Song xét cho đến cùng, sự khác biệt giữa những phiên xử này, kể cả sự lạ thường về tính chất, mức độ “công khai” trong tiến trình điều tra – truy tố - xét xử chỉ có một mục tiêu, bảo vệ thể diện của “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” tại Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng CSVN, “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” tại Việt Nam đã từng làm nhiều chuyện “kinh thiên, động địa”, thành ra cho ông Thăng tại ngoại để “ăn Tết” với thân nhân và bạn bè trước khi vào tù thi hành án, cho ông Thanh sang… Đức chăm sóc vợ dại và ba con thơ là… chuyện nhỏ! Tổng Bí thư, “bác Trọng”, “lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội” có thể làm tuốt.

Nếu Hiến pháp và pháp luật nghiêm minh, làm gì có chuyện, năm 2011, dù Thanh tra Chính phủ phát giác PVN mắc hàng loạt sai phạm về tài chính, mức độ thất thoát lên tới 18.000 tỉ, ông Thăng vẫn có thể bước từ vị trí Chủ tịch Hội đồng Quản trị PVN vào vị trí Bộ trưởng Giao thông – Vận tải, rồi vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN, bước thêm một bước nữa vào Bộ Chính trị, sau đó trở thành Bí thư Thành ủy TP.HCM?

Nếu Hiến pháp và pháp luật nghiêm minh, làm gì có chuyện, sau khi khiến công quĩ thất thoát 3.200 tỉ, ông Thanh vẫn có thể ung dung bước từ vị trí Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tổng Công ty Xây lắp Dầu khí Việt Nam (PVC), vào vị trí Trưởng Văn phòng đại diện của Bộ Công Thương ở miền Trung, rồi trở về Hà Nội làm… Chánh văn phòng Ban cán sự Đảng của Bộ Công Thương, vào Hậu Giang làm Phó Chủ tịch tỉnh, vô Quốc hội?

Nếu “bác Trọng” đừng… buồn, những người đứng đầu “lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội” vẫn… vui, theo qui hoạch đã được phê duyệt, giờ này có thể ông Thanh đã là Thứ trưởng Bộ Công Thương, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN, cùng với ông Trọng, ông Thăng “lãnh đạo nhà nước và xã hội”.

Dường như cả ông Thăng lẫn ông Thanh không vô tình khi cùng khai thác tận tình cơ hội “nói lời cuối cùng”. Họ hy vọng Tổng Bí thư, “bác Trọng”, cũng như “lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội” động lòng, trước tình cảnh ngặt nghèo của “đồng chí”, của “con cháu trong gia đình” (?).

***

Tổng Bí thư, “bác Trọng” cũng như những người đại diện “lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội” đã, đang, có lẽ sẽ còn nói rất nhiều về xây dựng “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, “cải tổ thể chế”, về “xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, cam kết sẽ hướng tới hàng trăm thứ cao đẹp khác,…

Tổng Bí thư, “bác Trọng” cũng như những người đại diện “lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội” đã, đang, có lẽ sẽ còn nói rất nhiều về nỗ lực chỉnh đốn Đảng, hạn chế tham nhũng, vô trách nhiệm bằng cách “xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cấp ủy, chính quyền và mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị”…

Thế nhưng Tổng Bí thư, “bác Trọng” cũng như những người đại diện “lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội” vừa cảnh cáo các thành viên của những người đại diện “lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội” rằng sẽ khai trừ tất cả những đảng viên đòi thực thi “tam quyền phân lập”.

Nếu thực thi tam quyền phân lập, tách biệt rạch ròi giữa lập pháp (làm luật), hành pháp (quản lý, điều hành theo qui định pháp luật), tư pháp (điều tra, truy tố, xét xử một cách độc lập, không bị chỉ đạo, chi phối bởi “lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội”) để cả ba giám sát lẫn nhau thì ai dám bảo Hội đồng xét xử vụ án “Cố ý làm trái qui định của nhà nước gây hậu quả nghiêm trọng”, “Tham ô”, xảy ra tại PVN, sẽ tha, không triệu tập “bác Trọng” cũng như nhiều “bác” khác ra tòa để bảo đám không “sót người, lọt tội”?

Tổng Bí thư, “bác Trọng” cũng như những người đại diện “lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội” vẫn thế mà vẫn thế thì thôi, bàn về “công bằng, dân chủ, văn minh”, “sống và làm việc theo Hiến pháp, pháp luật” làm chi cho mệt!


Trân Văn
Blog VOA

‘Cái ô’ nào đang và sẽ che chở cho Đinh La Thăng?


Ông Đinh La Thăng tại phiên tòa ở Hà Nội. (Ảnh: VNA/Doan Tan via REUTERS)

Trước phiên tòa “Thăng - Thanh”, trong dư luận xã hội và trên mạng xã hội đã râm ran những đồn đoán về một “âm mưu ám sát”. Tuy nhiên, đồn đoán này chỉ là một trong nhiều giả thiết và cách nào đó có thể bị giễu cợt và phản bác rằng đó chỉ là… “thuyết âm mưu”.

Đinh La Thăng và Trịnh Xuân Thanh - hai nhân vật cực kỳ quan trọng không chỉ đối với phiên tòa xử vụ Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) vào đầu tháng 1/2018, mà còn được dư luận cho là đóng vai trò “xe - mã” trên bàn cờ chính trị Việt Nam, có thể dẫn thẳng đến cửa nhà cựu thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và những nhóm lợi ích của “thời kỳ trước”.


Cái ô!


Khi phiên tòa “Thăng - Thanh” bắt đầu khai diễn, công luận được thấy những bức hình về hai bị cáo Đinh La Thăng và Trịnh Xuân Thanh được hàng chục cảnh sát vây bọc như một cách “lấy thân mình lấp lỗ châu mai”, không khác gì nghiệp vụ bảo vệ nguyên thủ quốc gia ở các nước phương Tây. Công luận cũng nhìn thấy những cái ô được giương lên để che phủ hai bị cáo này; người ta không thể nghĩ khác rằng Đinh La Thăng và Trịnh Xuân Thanh đã được “cơ quan bảo vệ pháp luật” tổ chức bảo vệ rất ngặt nghèo, khác hẳn với chế độ bảo vệ bình thường đối với tuyệt đại đa số bị cáo có nguồn gốc quan chức phạm tội “cố ý làm trái” hay “tham ô tham nhũng” bị đưa ra tòa trước đây.

Cũng khác hẳn với rất nhiều phiên tòa trước đây xử quan chức tham nhũng, phiên tòa “Thăng - Thanh” được báo chí và giới luật sư mô tả là “vượt trên mức cẩn mật”, khi cảnh sát được bố trí vòng trong vòng ngoài, các thiết bị điện tử của luật sư và báo giới bị khám xét rất kỹ, và nói chung bầu không khí của phiên tòa này tràn ngập tính “khủng bố”.

Cũng có thể so sánh bầu không khí của phiên tòa “Thăng - Thanh” với sự căng thẳng đã trở thành bản chất khi “tòa án nhân dân” xử các nhà hoạt động nhân quyền: nội bất xuất ngoại bất nhập, cảnh sát đằng đằng sát khí và sẵn sàng “tác chiến”.

Vượt trên tất cả trong bầu không khí đầy đe dọa và bất an trong phiên tòa “Thăng - Thanh”, cái ô chính là hình ảnh có sức thuyết phục rất lớn về nỗi lo sợ và sự phòng bị không che giấu của các cơ quan tư pháp về những rủi ro có thể xảy đến đối với các “VIP” của họ.

Điều gì hay rủi ro nào có thể xảy đến với các bị cáo?

Rất nhiều dư luận đã khẳng định rằng “nghệ thuật giương ô” của công an Việt Nam là rất giống với nghiệp vụ dùng ô hay một tấm vải lớn của cảnh sát nước ngoài để bảo vệ những bị cáo hay nhân chứng quan trọng, nhằm tránh hoặc hạn chế rủi ro bị ám sát bằng thủ đoạn bắn tỉa.

Nếu quả thật đã từng có, đang có và sẽ có một âm mưu ám sát, bắn tỉa Đinh La Thăng và Trịnh Xuân Thanh, âm mưu đó đến từ thế lực nào?

“Thế lực thù địch” chăng?


Ai?


Quá khó để tưởng tượng ra việc những đảng phái chính trị hải ngoại lại có động cơ “trả thù tham nhũng” bằng việc dấn thân ám sát Đinh La Thăng và Trịnh Xuân Thanh.

Cũng quá khó để có thể hình dung ra việc người dân trong nước do quá công phẫn với quốc nạn tham nhũng mà sẽ tụ tập đám đông để lao vào “xé xác” Đinh La Thăng và Trịnh Xuân Thanh.

Một giả thiết gần với thực tế hơn hẳn, cũng dễ hình dung hơn hẳn, là “phe phái nội bộ”. Nếu có một âm mưu bắn tỉa Đinh La Thăng và Trịnh Xuân Thanh, hẳn âm mưu đó phải xuất phát từ những người muốn diệt khẩu hai ông Thăng và Thanh.

Trong thực tế cuộc chiến quyền lực ở Việt Nam, đã có những phác họa về cấp độ “tìm và diệt” được đẩy lên cao trào và khiến chủ đề an toàn - an ninh cá nhân quan chức trở nên cấp thiết sống còn hơn bao giờ hết.

Năm 2014 được mở màn bằng một loại bi kịch “ung thư gan” của Thứ trưởng bộ công an - tướng Phạm Quý Ngọ. Cái chết bất đắc kỳ tử của quan chức bị đồn đoán là “nhúng chàm” quá nhiều vụ việc khuất tất này đã dấy lên mối nghi ngờ rất nặng nề trong dư luận và công luận vào thời điểm đó. Người ta tin rằng cho dù vào năm 2014 không thể hoặc không được phép có một cuộc điều tra nào nhằm làm rõ nguyên nhân cái chết của Phạm Quý Ngọ, nhưng nếu sắp tới Bộ Chính trị đảng “hồi tố” vụ này, rất có thể nhiều người sẽ được vén bức màn về chuyện ông Ngọ đã muốn khai ra ai và vì sao ông Ngọ “phải chết”.

Đến nửa cuối năm 2016, vụ “cả ba bị bắn” ở Yên Bái là một minh chứng hết sức sống động, kinh hoàng và cấp bách.

Chỉ vài ngày trước vụ “cả ba bị bắn” ở Yên Bái, Quốc hội đã họp bàn về Luật cảnh vệ. Trong cuộc họp bàn này, đã hiện rõ nhu cầu “tha thiết được bảo vệ” - không phải như một thời trang quyền lực, mà là một thực tế cần thiết. Thậm chí một số chủ tịch, bí thư tỉnh/thành cũng đề xuất có cơ chế bảo vệ riêng.

Mọi việc đều có nguồn cơn của nó. Ở Việt Nam, không một địa phương nào là không có mâu thuẫn, thậm chí nhiều chính quyền địa phương nổ ra xung đột nội bộ rất nặng nề, đặc biệt về quyền lực và lợi ích nhóm. Sau vụ quan chức bắn nhau ở Yên Bái, điều chắc chắn sẽ xảy ra là nhiều quan chức ở nhiều tỉnh thành khác sẽ đòi có cơ chế cảnh vệ bảo vệ cá nhân họ, đồng thời sẽ ban hành cơ chế kiểm tra vũ khí, chất nổ… tại những cuộc họp quan trọng của thành/tỉnh ủy, ủy ban nhân dân tỉnh/thành, thậm chí xuống cả cấp quận/huyện… Không khí họp hành sẽ bước vào thời chiến. Đã rõ như ban ngày là vào thời buổi này, không một quan chức nào còn an toàn.

Sau vụ “cả ba bị bắn” ở Yên Bái, dư luận xã hội còn đồn đoán rằng với một số “đồng chí uỷ viên Bộ Chính trị”, phương án chuyển đổi chỗ ngủ đêm có thể trở thành một nhu cầu chính trị - tương đương với nhu cầu ăn uống.

Cánh lái xe của giới quan chức cao cấp còn thì thầm với nhau về chuyện những ủy viên trung ương đảng như ông A, bà B khi đi họp hành đã phải mang cả đồ ăn thức uống của nhà theo mà không dám đụng vào bàn ăn “tài sản xã hội chủ nghĩa” của hội nghị trương ương.


Nhân chứng vàng?


“Cả ba bị bắn” ở Yên Bái đã báo trước một cái điềm quá xấu: cuộc khủng hoảng nội bộ đảng từ bán công khai trước đó chuyển sang một giai đoạn mới - thế công nhiên và mãnh liệt theo cách “không cho chúng nó thoát”.

Nhưng với một cựu ủy viên bộ chính trị Đinh La Thăng mang quá nhiều dấu hiệu ăn uống thâm lạm vào cái bàn ăn xã hội chủ nghĩa đó, từ lóng “ói ra” mà dân gian truyền khẩu lại luôn là một lối thoát minh bạch nhất trong bất cứ cơn quẫn cực nào.

Chỉ mới vào ngày thứ hai của phiên tòa “xét xử vụ án tham ô, cố ý làm trái gây thiệt hại 119 tỉ đồng cho Tập đoàn dầu khí PVN” - 9/1/2018, Đinh La Thăng đã khai “chỉ định thầu theo chủ trương Bộ Chính trị”, rằng “đã xin ý kiến chính phủ” và “đã xin phép thủ tướng”.

“Chính phủ” và “thủ tướng” vào thời ông Đinh La Thăng còn là chủ tịch hội đồng thành viên PVN lại nằm dưới quyền điều hành của một ủy viên bộ chính trị là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Giả thiết về việc Đinh La Thăng do “khai hết”, “khai sạch”, khai từ khi bị điều tra cho đến trước tòa và khai tới tận địa chỉ nhà của Nguyễn Tấn Dũng nên đã được cả Cơ quan cảnh sát điều tra - Bộ Công an lẫn Viện Kiểm sát tối cao xếp vào loại “thành khẩn khai báo” ngày càng có cơ sở.

Và nếu khả năng “Thăng khai báo Dũng” là có cơ sở thực sự, đây là lần đầu tiên trách nhiệm của cựu thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bị lôi ra trước tòa án và trước Hội đồng xét xử. Đây có thể sẽ là một tiền đề để dẫn dắt vụ án PVN và Đinh La Thăng sang “giai đoạn 2”cùng với “người có liên quan” là Nguyễn Tấn Dũng.

Sinh mạng của Đinh La Thăng giờ đây còn quý hơn vàng. Nếu Đinh La Thăng được “quy hoạch” để trở thành một nhân chứng cho một phiên tòa lịch sử nào đó trong tương lai không quá xa - chẳng hạn vào năm 2019, Thăng sẽ không thể bị chết bất đắc kỳ tử như tướng Phạm Quý Ngọ. Những cái ô nào đó đang và sẽ che chắn cho sinh mạng và có thể cả số phận của Đinh La Thăng.

Vào lúc này, có lẽ gần hết các ủy viên bộ chính trị và đa số ủy viên trung ương đều cần đến cái ô như đã che đỡ cho Đinh La Thăng và Trịnh Xuân Thanh - theo nghĩa bóng lẫn nghĩa đen. Nhưng trước mắt là cần cái ô như đã che cho Vũ “Nhôm” - thượng tá tình báo Phan Văn Anh Vũ khi “cái lưỡi” này bị công an Việt Nam kéo từ Singapore về sân bay Nội Bài…



Phạm Chí Dũng
Blog VOA