Tin Tức Cập Nhật 24/7

Chúng tôi không muốn Thiên An Môn xảy ra ở Hồng Kông.



Tối thứ sáu 16/8/2019, tại hai thành phố Melbourne và Sydney, Úc, những người ủng hộ Bắc Kinh đã tấn công người ủng hộ tự do cho Hồng Kông.

Những hình ảnh bạo động được nhanh chóng thông tin giúp dư luận Úc nhận rõ bản chất của cộng sản Bắc Kinh tạo quan tâm đến tình hình đấu tranh tại Hồng Kông.

Cảnh sát Melbourne cho biết hai người ủng hộ Bắc Kinh đã bị lập biên bản vì bạo hành người biểu tình, cả hai sẽ bị truy tố vì vi phạm luật Úc.

Sáng hôm sau thứ bảy 17/8/2019, tại Melbourne hằng trăm người người Hoa, Tân Cương, Tây Tạng, Đài Loan, Hồng Kông, Việt Nam và Úc tập họp trước Thư viện tiểu bang và sau đó đồng hành quanh thành phố Melbourne vừa lên án hành vi bạo hành của phía ủng hộ Bắc Kinh vừa lên tiếng ủng hộ người biểu tình Hồng Kông (We love Hong Kong).

Trong vòng 2 tiếng cuộc biểu tình đồng hành diễn ra khá ôn hòa. Nhiều người đứng xem, chụp hình, quay phim, biểu lộ ủng hộ đoàn biểu tình. Các đài truyền hình, báo chí, nhiều Facebook và Twitter đưa tin, hình ảnh về cuộc biểu tình.

Đáng tiếc cảnh sát phải bắt một thanh niên gốc Hoa đứng trước đoàn biểu tình chửi bới và tịch thu một lá cờ đỏ 5 sao vàng Trung cộng.


Hăm dọa từ giới chức Trung cộng

Theo tin ABC, Đại sứ Trung cộng tại Úc, ông Cheng Jingye, chính thức ra tuyên bố đe dọa người ngoại quốc (như chúng ta) không được hỗ trợ Hồng Kông và can thiệp vào chuyện nội bộ của Bắc Kinh.

Ông quên rằng ông đang ở trên đất Úc, một xứ sở của tự do, mọi người đều có quyền tự do bày tỏ quan điểm chính trị và đa số người biểu tình hôm thứ Bảy đều là công dân Úc.

Đài ABC trước đây đã tường trình về việc việc tòa đại sứ Trung cộng thông qua Hiệp hội Học sinh Học giả Trung cộng (Chinese Students’ and Scholars’ Association – CSSA) tổ chức chuyên chở hàng ngàn sinh viên từ các thành phố khác lên Quốc Hội Canberra chào mừng Thủ tướng Trung cộng Lý Khắc Cường thăm Úc vào tháng 3/2017.

Theo ABC Đại sứ Trung cộng đã tài trợ cờ, thức ăn, phương tiện di chuyển, luật sư hỗ trợ và cả giấp “chứng nhận tham gia” để khi các sinh viên này khi tốt nghiệp về nước có thể sử dụng xin việc làm.

Lời đe dọa của ông Cheng gợi nhớ chuyện cũ đâu chừng cũng có bàn tay Đại sứ Trung cộng trong cuộc biểu tình đầy bạo động vào tối thứ Sáu.

Bởi thế chúng ta không thể làm ngơ để Bắc Kinh công khai lợi dụng tự do tại Úc tài trợ tổ chức các cuộc biểu tình phản đối người đấu tranh Hồng Kông và bạo động vi phạm luật Úc ngay trên nước Úc.


Không thể có Thiên An Môn thứ hai…

Được đài ABC phỏng vấn ông Nguyễn Thế Phong, phó chủ tịch Cộng Đồng Victoria cho biết rất “kinh hoàng” thấy cảnh phe thân Trung cộng tấn công các nhà hoạt động dân chủ ủng hộ Hồng Kông vào tối thứ Sáu vừa qua.

Hành vi bạo động của phe thân Trung cộng làm ông lo sợ cũng như những lời đe dọa từ phía nhà cầm quyền cộng sản Bắc Kinh, dàn quân sát biên giới Hồng Kông, tuyên bố sẵn sàng sử dụng vũ lực, cho cảnh sát đàn áp người biểu tình, ông Phong cho ABC biết:

"Chúng tôi rất quan tâm đến những gì Trung cộng đe dọa gần đây. Chúng tôi vẫn còn một ký ức rất sâu đậm về Thiên An Môn. Chúng tôi không muốn Thiên An Môn xảy ra ở Hồng Kông."


Chúng tôi là nạn nhân…

Ông Nguyễn văn Bon chủ tịch Cộng Đồng Úc cho Đài ABC biết nhiều người tham gia cuộc biểu tình là "nạn nhân của chế độ cộng sản":

"Chúng tôi sát cánh bên nhau thể hiện sự ủng hộ mạnh mẽ của chúng tôi (cho người đấu tranh tại Hồng Kông), để bảo vệ các giá trị dân chủ và đó là trách nhiệm của chúng tôi”.

Đại diện các cộng đồng Tây Tạng, Tân Cương, Trung Hoa và Việt Nam lên tiếng tố cáo sự tàn ác của nhà cầm quyền cộng sản đối với người dân và nhất là đối với những người đấu tranh cho tự do tại các quốc gia này.

Một người biểu tình gốc Hoa nói với tôi: “Anh biết về cuộc chiến ở Việt Nam, cũng như ở nước anh (Trung Hoa), hằng triệu người miền Nam đã bị cộng sản giết”.

Tôi nói với anh ấy: “Không chỉ ở miền Nam, ngay ở miền Bắc, trong cuộc cải cách ruộng đất lên đến nửa triệu người là nạn nhân của cuộc cải cách cách ruộng đất và ngày nay cộng sản vẫn đàn áp bất kể người miền Nam hay miền Bắc”.

Anh ta đồng ý và cho biết: “nơi nào có cộng sản, nơi đó có máu đổ và vì thế chúng ta phải hỗ trợ cho Hồng Kông đừng để xảy ra một Thiên An Môn thứ hai”.

Bởi thế sau 30/4/1975, hằng triệu người đã bỏ nước ra đi, hằng trăm ngàn thuyền nhân đã đến được Hồng Kông và từ đó được định cư ở các quốc gia tự do.

Và cũng bởi thế thật khó làm ngơ nếu người Việt yêu chuộng tự do và từng nhờ ơn Hồng Kông, không sát cánh cùng người dân Hồng Kông để họ bị cộng sản Bắc Kinh xuống tay đàn áp, như từng làm tại Thiên An Môn.


Vinh danh cờ vàng

Ngoài việc phỏng vấn Đài ABC còn đưa hình ông Nguyễn văn Bon đằng sau là những lá cờ vàng.

Các đài truyền hình, trang mạng báo chí, nhiều Facebook và Twitter, hôm thứ bảy 17/8/2019, đưa tin về cuộc biểu tình, hình ảnh cờ vàng loan tỏa khắp nơi, một dịp để chúng tôi vinh danh cờ vàng một biểu tượng cho tự do.

Ông Nguyễn Thế Phong đại diện cho cộng đồng Việt Nam cũng lên án hành động xâm lược trắng trợn Bãi Tư Chính và Biển Đông của Trung cộng và kêu gọi mọi người hành động để bảo vệ lãnh thổ lãnh hải Việt Nam.


Hồng Kông loạn cộng sản tan?

Một người bạn của tôi chia sẻ suy nghĩ lo âu về việc Bắc Kinh thảm sát Hồng Kông. Nhưng đồng thời anh lại suy nghĩ nếu chuyện xảy ra thì cả thế giới sẽ tảy chay Bắc Kinh, trong hoàn cảnh chiến tranh thương mãi và khủng hoảng Biển Đông, Trung cộng sẽ tan tành và như thế cộng sản Việt Nam cũng sẽ tan theo.

“Hồng Kông loạn cộng sản tan” có thể gây tranh cãi. Nhưng chắc chắn một điều khi cộng sản Bắc Kinh hay Hà Nội thảm sát người đấu tranh thì người Việt hải ngoại sẽ đồng loạt xuống đường sát cánh đấu tranh cho một Trung Hoa tự do, một Việt Nam tự do.

Đồng thời việc chúng ta cần làm là không có thảm sát nhưng “Hồng Kông tự do cộng sản tan”. We love Hong Kong.

Mời xem em hình ảnh dưới đây:




© Nguyễn Quang Duy
20/8/2019
Melbourne, Úc Đại Lợi

Mời quý vị vào google drive của chị Nguyễn Anna và của anh Lê Trung để xem hình:

Chiến lược thoát Trung



Phân tích ở Chương 9 đã đưa ra được các gợi ý cần thiết để Việt Nam có đối sách hữu hiệu trước sự trỗi dậy của Trung Quốc. Quy mô kinh tế của Trung Quốc lớn hơn Việt Nam nhiều, họ lại phát triển trước và với tốc độ cao hơn. Việt Nam phải ý thức về sự bất lợi này và tìm chiến lược bù trừ với bất lợi đó mới tránh được sức hút của “trung tâm” lớn này. Trong dài hạn phải có quyết tâm, khí phách để vươn lên hàng quốc gia thượng đẳng mới ngăn ngừa được những ảnh hưởng bất lợi, những khả năng liên quan đến sự tồn vong của đất nước. Dưới đây thử bàn thêm, phân tích thêm các chính sách chiến lược cần thiết trước mắt và trung, dài hạn.

1. Chiến lược, chính sách trước mắt và trung hạn:

Thứ nhất, phải chỉnh đốn ngay các quan hệ kinh tế với Trung Quốc, từng bước điều chỉnh để kéo các hiện tượng bất thường hiện nay trở lại trạng thái bình thường, giống như quan hệ giữa Việt Nam với các nước khác. Áp dụng các tiêu chuẩn phổ quát, các quy định trong các bang giao kinh tế quốc tế, và các chính sách, các quy định của riêng Việt Nam, để loại bỏ những doanh nghiệp, những dự án kém chất lượng, những lao động nước ngoài bất hợp pháp hoặc không cần thiết của bất cứ nước nào, kể cả Trung Quốc. Trong việc chỉnh đốn lại các quan hệ với Trung Quốc, vấn đề tối quan trọng là phải rà soát lại năng lực và đạo đức của quan chức trung ương và địa phương phụ trách kinh tế đối ngoại, đừng để xảy ra khả năng do kém hiểu biết hoặc bị phía Trung Quốc mua chuộc mà có những quyết định bất lợi cho Việt Nam.1

Thứ hai, Việt Nam phải khắc phục về mặt tốc độ (trong việc cải thiện môi trường đầu tư và thực hiện các chiến lược, chính sách phát triển), có nhiều trường hợp phải tìm biện pháp “mua thời gian” trong quan hệ với Trung Quốc. Mua thời gian có nghĩa là trước khi củng cố nội lực chưa vội triển khai các chương trình hợp tác, chưa thúc đẩy các kế hoạch phát triển có yếu tố Trung Quốc. Chẳng hạn về việc xây dựng hạ tầng trong kế hoạch hai hàng lang một vành đai nên được hoãn lại.2 Sau sự kiện Giàn khoan 981 xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế thềm lục địa của Việt Nam, vấn đề an ninh ở biên giới cần phải được quan tâm hơn. Các kế hoạch xây dựng hạ tầng giao thông, các dự án mà doanh nghiệp TQ có thể thắng thầu cần được lưu ý.

Thứ ba, các chính sách kinh tế đối ngoại trước khi quyết định ban hành phải ý thức đến sự tồn tại của Trung Quốc, phải lường trước những tác động, hậu quả đến từ nước láng giềng khổng lồ phía bắc. Phương châm nầy không hàm ý nghĩa kỳ thị với Trung Quốc nếu nhìn từ lý luận về địa kinh tế và kinh nghiệm của thế giới đã nói ở trên. Gần đây, chính phủ Việt Nam vừa công bố chính sách mới rất thông thoáng liên quan đến việc cho phép nước ngoài sở hữu bất động sản và mua cổ phần của công ty Việt Nam.3 Tôi không biết là chính phủ đã lường trước khả năng Trung Quốc sẽ ồ ạt vào chiếm hữu bất động sản và doanh nghiệp Việt Nam hay không mà vội công bố chính sách này?

Thứ tư, trước mắt cần có ngay các chính sách tăng sức cạnh tranh quốc tế của công nghiệp Việt Nam, trước hết là những mặt hàng phải nhập khẩu nhiều từ Trung Quốc. Chiến lược thay thế nhập khẩu từ Trung Quốc cũng là đối sách cần thiết khi gia nhập TPP vì quy chế nội địa không cho phép Việt Nam tiếp tục xuất khẩu qua Mỹ và các thành viên khác của TPP những mặt hàng có hàm lượng nhập khẩu cao từ Trung Quốc là nước không phải thành viên của TPP. Trong trung hạn phải có chiến lược chuẩn bị điều kiện để chuyển dịch cơ cấu công nghiệp lên cao hơn, tham gia được vào sự phân công hàng ngang với Trung Quốc và các nước khác ở Đông Á trong những mặt hàng có hàm lượng kỹ năng cao. Có hai điểm quan trọng liên quan đến chiến lược nầy. Một là triệt để cải cách giáo dục và đầu tư thích đáng cho giáo dục và nghiên cứu khoa học, công nghệ để cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho giai đoạn chuyển dịch cơ cấu công nghiệp như đã nói. Hai là có chiến lược chọn lựa, thu hút dòng đầu tư nước ngoài (FDI) có chất lượng cao để nhanh chóng tham gia vào mạng lưới phân công lao động trong các ngành có hàm lượng công nghệ cao, đòi hỏi kỹ năng lao động cao. Nếu không có các chính sách nầy, Việt Nam sẽ không bao giờ theo kịp Trung Quốc về công nghiệp.

Thứ năm, để thực hiện hiệu quả chính sách thứ ba nói trên, phải cải thiện ngay chất lượng của bộ máy nhà nước, đưa chất lượng hành chánh lên ngang hàng với Trung Quốc. Về phí tổn kinh doanh, tình trạng tham nhũng, hiệu suất của bộ máy hành chánh, và các chỉ tiêu khác liên quan chất lượng thể chế, Trung Quốc từ trước không trầm trọng bằng Việt Nam và sau đó còn cải thiện nhanh hơn Việt Nam. Hiện nay hầu như tất cả các chỉ tiêu này cho thấy Trung Quốc hơn hẵn Việt Nam. Chẳng hạn theo Doing Business 2014, số loại thuế mà doanh nghiệp phải nộp tại Trung Quốc giảm từ 35 loại năm 2005 xuống còn 7 loại vào năm 2012. Trong thời gian đó, Việt Nam không giảm và vẫn ở mức cao là 32 loại. Trong cùng thời gian, phí để bắt đầu dự án (tính theo phần trăm trên thu nhập đầu người) tại Trung Quốc giảm từ 13,6% xuống 2,1% trong khi tại Việt Nam giảm từ độ cao 27,6% xuống 8,7%, vẫn còn cao gấp 4 lần Trung Quốc. Nhiều chỉ tiêu khác cũng cho thấy tình hình tương tự (Xem lại Bảng 4-1 trong Chương 4).

Thứ sáu, như đã đề cập trong phần bàn về mô hình lực dẫn ở Chương 9, Trung Quốc là một thì trường rất lớn nhưng khác với Thái Lan và nhiều nước ASEAN khác, khả năng thâm nhập của Việt Nam còn rất yếu, rất hạn chế. Song song với nỗ lực thay thế nhập khẩu từ Trung Quốc, doanh nghiệp Việt Nam cần đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường này.

2. Chiến lược, chính sách dài hạn:

Trước khi bàn về chiến lược, chính sách dài hạn và cụ thể của Việt Nam, tôi ghi lại ở đây mấy nhận xét của tôi trong 3 chuyến đi khảo sát các tỉnh hai bên biên giới Việt Trung. Những điều trông thấy sẽ nói dưới đây giúp ta hiểu hơn về chất lượng thể chế ở Trung Quốc (tuy thể chế ở thượng tầng xã hội, chính trị thì không khác Việt Nam), và sẽ giật mình thấy họ không những có ưu thế về quy mô mà còn mạnh về nhiều mặt liên quan đến thể chế và chính những mặt này làm cho tốc độ của họ đi nhanh. Dưới đây là vài hiện tượng, vài cảm nhận đáng ghi lại:

Thứ nhất, tôi bắt gặp nhiều trường hợp cho thấy Trung Quốc nỗ lực theo kịp các nước tiên tiến Âu Mỹ và Nhật Bản trong việc làm chủ công nghệ. Nhiều công nghệ trước phải nhập khẩu nhưng dần dần Trung Quốc tự chủ được. Chẳng hạn, lúc tôi thăm Nam Ninh (2012), Trung Quốc đang khởi công xây tàu điện ngầm, được biết là bằng công nghệ của chính họ. Trước đó tầu điện ngầm tại Bắc Kinh và Thượng Hải phải dựa vào công nghệ nhập khẩu nhưng bây giờ thì họ tự chủ. Tại Quảng Châu, lúc ở trong thang máy của một tòa nhà văn phòng, một người bạn Nhật làm việc nhiều năm ở đây cho biết thang máy đó do Trung Quốc chế tạo bằng công nghệ của mình, trước đây họ phải nhập công nghệ của Hitachi, công ty hàng đầu về công nghiệp nặng của Nhật.4

Thứ hai, những thành phố tôi đi qua đều tươm tất, phương tiện giao thông công cộng phát triển, xe máy rất ít và nhất là không có cảnh họp chợ tràn lan bên lề đường. Đặc biệt nhiều khẩu hiệu trên đường phố kêu gọi mọi người sống có văn hóa, chấp hành luật lệ, không có khẩu hiệu liên quan đến Đảng Cộng sản hoặc hô hào theo một chủ nghĩa, một ý thức hệ. Ở Hà Khẩu, chỗ xuất nhập cảnh với Việt Nam, họ đặt hòm thư nhận ý kiến người dân về thái độ, năng suất phục vụ của quan chức phụ trách. Nhân đây nói thêm, trò chuyện với hai quan chức ở châu Hồng Hà, một châu của tỉnh Vân Nam tiếp giáp với biên giới Việt Nam, tôi được biết chính quyền ở đó cấm quan chức làm thêm, bị phát hiện sẽ bị tước mất khả năng thăng tiến. Tham nhũng thì bị phạt rất nặng. Họ cũng cho biết đó là quy định chung cho quan chức ở nhiều nơi khác, không phải riêng ở châu Hồng Hà.

Thứ ba, các đại học ở 3 tỉnh cực nam của Trung Quốc cũng để lại nhiều ấn tượng và bắt phải suy nghĩ về trường hợp của Việt Nam. Khuôn viên của Đại học Trung Sơn ở Quảng Châu, Đại học Dân tộc Quảng Tây và Đại học Vân Nam, những nơi tôi ghé thăm trong các chuyến khảo sát kinh tế biên giới, đều rộng rãi, hoành tráng, đầy cây xanh. Khuôn viên đại học làm nên vẻ đẹp và điểm nhấn đáng tự hào của một thành phố. Không cần nghiên cứu chi tiết nội dung giảng dạy và cách tổ chức, chỉ đến sân trường ta cũng có thể thấy sự phóng khoáng của các đại học này. Ngay cổng vào Đại học Vân Nam đã thấy ngay một tấm bảng lớn, xây bằng đá kiên cố, khắc hình của Einstein và một trong những câu nói nổi tiếng của nhà khoa học thiên tài này. Tại Đại học Trung Sơn, tên của nhà cách mạng Tôn Dật Tiên, sự đóng góp của Hoa kiều rất thực tế và được trân trọng. Tòa nhà có tên Vĩnh Phương Đường do Hoa kiều Malaysia Diệu Vĩnh Phương xây dựng dùng làm trung tâm giảng dạy và nghiên cứu của khoa Sử. Tòa nhà văn phòng và tòa nhà giải trí cho sinh viên do một số Hoa kiều Hong Kong xây dựng.

Thứ tư, không chỉ về mặt kinh tế, các tỉnh Trung Quốc gần biên giới có vẻ ngày càng thu hút nhiều sinh viên Việt Nam sang du học và nhiều quan chức địa phương Việt Nam ở 7 tỉnh gần biên giới sang chữa bệnh hoặc du lịch. Hiện nay riêng tại Quảng Tây có tới hơn 3.000 du học sinh Việt Nam. Tuy thu nhập bình quân đầu người ở Nam Ninh hay Côn Minh lớn hơn Hà Nội nhưng giá nhà, giá sinh hoạt, dịch vụ y tế lại rẻ hơn. Nhiều người nước ngoài có nhận xét là vật giá ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh thường cao hơn hoặc tương đương với các thành phố của Trung Quốc và nhiều nước ASEAN mặc dù thu nhập đầu người thấp hơn nhiều. Nguyên nhân có lẽ do giá đất, giá thuê mặt bằng ở Việt Nam quá cao, và nhiều hoạt động cung cấp dịch vụ ở Việt Nam chịu nhiều phí tổn hành chánh mà hậu quả là giá thành bị nâng lên cao. Đây là hiện tượng làm méo mó cơ cấu giả cả, cần phải giải quyết ngay nếu muốn tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế. Riêng trong văn cảnh ở đây, do sự méo mó giá cả ở Việt Nam, cùng với tác động về kinh tế, các tỉnh bên kia biên giới sẽ ngày càng trở thành trung tâm cung cấp dịch vụ giáo dục, y tế.

Từ phân tích ở các phần trước và từ mấy nhận xét bổ sung ở trên, ta có thể nêu lên mấy điểm cốt lõi trong chiến lược dài hạn của Việt Nam trước thách thức của Trung Quốc như sau:

Một là, vấn đề căn bản là Việt Nam phải từng bước vững chắc phát triển thành một nước giàu, mạnh, dân chủ, văn minh theo những chuẩn mực phổ quát mà các nước tiên tiến đã đạt được và nhiều nước khác đang hướng tới. Muốn vậy, phải thực hiện ngay cuộc cải cách thể chế toàn diện theo hướng dân chủ hóa và trọng dụng nhân tài mới động viên được các nguồn lực, nhất là nguồn nhân lực có cả trong và ngoài nước, hướng vào các mục tiêu ấy. Hiện nay, nội lực Việt Nam suy yếu trầm trọng, cụ thể là đạo đức xã hội suy đồi, bộ máy nhà nước yếu kém, giáo dục, y tế, nghiên cứu khoa học đang xuống dốc. Không mạnh dạn cải cách thể chế thì không có tiền đề để phát triển mạnh mẽ. Những cải cách này còn có hiệu quả làm giảm phí tổn hành chánh, tăng chất lượng hạ tầng, chất lượng lao động, và như vậy sẽ bù trừ những bất lợi về quy mô kinh tế so với Trung Quốc. Chạy đua với thời gian trong các cải cách này cũng là tiền đề để tránh ảnh hưởng từ sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Hai là, tuy Trung Quốc và Việt Nam có cùng thể chế ở thượng tầng chính trị, xã hội, nhưng chất lượng thể chế ở hạ tầng cơ sở thì Trung Quốc hơn Việt Nam nhiều, thể hiện ở mặt quản lý bộ máy nhà nước chính quyền địa phương, ở khả năng tự chủ về công nghệ, ở việc xây dựng đại học, v..v. Việt Nam phải nhận rõ vấn đề này và khẩn trương khắc phục. Từ đó, trong dài hạn Việt Nam phải theo đuổi một chế độ chính trị tiến bộ hơn, tốt hơn Trung Quốc thì mới có thể đối phó hữu hiệu với sự trỗi dậy của nước láng giềng khổng lồ và đầy tham vọng này. Thể chế như vậy sẽ được thế giới đánh giá cao, từ đó Việt Nam sẽ có một sức mạnh mềm hơn hẵn Trung Quốc. Trong thời đại toàn cầu hóa này, chính những giá trị đó sẽ thu hút đầu tư và hợp tác từ những nền kinh tế đã phát triển với chất lượng cao như Nhật, Mỹ, Tây Âu. Kết hợp nội lực và ngoại lực theo hướng này sẽ tạo nên sức mạnh đề kháng được với sự trỗi dậy của nền kinh tế khổng lồ ở phía bắc.

Vài lời kết:

Thay lời kết tôi muốn chép lại đây mấy câu kết trong bài “Xác lập tinh thần Nguyễn Trãi trong quan hệ kinh tế Việt Trung” tôi viết đầu năm 2009 và in lại trong Trần Văn Thọ (2011) : “Sau khi thắng giặc Minh, giành lại chủ quyền cho đất nước, trong Bình Ngô Đại Cáo, Nguyễn Trãi nhấn mạnh thực thể độc lập, hiên ngang của nước Đại Việt, một đất nước đã sánh vai được với cường quốc phương Bắc:

Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ một phương...


Trong thời đại ngày nay, về phương diện phát triển kinh tế, khí phách Nguyễn Trãi được thể hiện ở quan hệ ngoại thương hàng ngang giữa hai nước Việt Trung... Việt Nam phải từng bước thoát ly khỏi tính chất Bắc Nam trong quan hệ mậu dịch với Trung Quốc”.

Tính chất Bắc Nam là cách nói đã cũ, chỉ quan hệ của nước tiên tiến và nước còn trên đường phát triển. Bài viết hơn 6 năm trước ấy chỉ bàn về mậu dịch, nhưng hiện nay, như đã phân tích ở trên, quan hệ kinh tế Việt Trung đã phức tạp, trầm trọng hơn và do đó, thách thức đối với Việt Nam còn lớn hơn nhiều. Việt Nam phải gấp rút đặt ra chiến lược và đẩy nhanh việc thực thi các chính sách nhằm cải thiện quan hệ với Trung Quốc. Về lâu dài, như đã nhấn mạnh, Việt Nam phải đi trước Trung Quốc về mặt thể chế mới mong sánh vai được với nước láng giềng khổng lồ và nhiều tham vọng này.

Đúc kết lại, ba từ khóa của chương này là tinh thần Nguyễn Trãi, thời gian và thể chế./.

Phụ lục Chương 12

Sự kiện đường sắt Cát Linh-Hà Đông cho thấy
nguyên nhân lệ thuộc vào kinh tế Trung Quốc

Tháng 6 năm 2015 dư luận trong nước xôn xao về sự kiện Việt Nam mua 13 đoàn tàu của Trung Quốc cho tuyến đường sắt Cát Linh – Hà Đông. Người dân đặt nghi vấn là tại sao phải mua của Trung Quốc, trong khi công nghệ tàu đường sắt của các nước tiên tiến chất lượng cao hơn. Hơn nữa, Việt Nam đang nhập siêu nhiều với Trung Quốc, ai cũng thấy phải cải thiện quan hệ một chiều này.

Bộ trưởng Giao thông Vận tải Đinh La Thăng đã giải đáp thắc mắc nầy trong buổi gặp mặt báo chí ngày 9/6/2015. Nếu những ý kiến của Bộ trưởng phản ảnh trên báo là chính xác thì thật đáng lo cho Việt Nam. Tôi thật sự ngạc nhiên nhưng hiểu được lý do tại sao Việt Nam ngày càng lệ thuộc vào kinh tế Trung Quốc trong nhiều phương diện. Sự kiện này cho thấy nhiều lãnh đạo, quan chức Việt Nam, những người quyết định vay vốn nước ngoài, không hiểu hoặc không chịu tìm hiểu tình hình và chế độ hiện hành trên thế giới để so sánh điều kiện của Trung Quốc với các nước khác, từ đó quyết định chọn nước đối tác có lợi nhất cho Việt Nam.

Trong dự án 13 đoàn tàu nói trên được biết Trung Quốc cho vay vốn và đặt điều kiện phải dùng tiền đó mua tàu của họ. Bộ trưởng Đinh La Thăng bảo rằng nước nào cho vay cũng đặt điều kiện như vậy, chẳng hạn Nhật Bản hay Hàn Quốc cũng như vậy. Điều này hoàn toàn sai. (Trước khi chứng minh nhận định đó là không đúng, ta có thể đặt thêm một câu hỏi nữa: Nếu các nước khác cũng có cùng điều kiện đó, tại sao lại chọn Trung Quốc? Công nghệ của Trung Quốc cao hơn?)

Vấn đề các nước tiến tiến hỗ trợ vốn vay ưu đãi (gọi là ODA mà ở Việt Nam dịch là viện trợ phát triển chính thức) cho các nước đang phát triển có một lịch sử đã trên 50 năm. Trong giai đoạn đầu (khoảng trước thập niên 1980), đúng là hầu hết ODA đều có ràng buộc phải mua máy móc, vật liệu, tư vấn kỹ thuật từ nước cho vay (gọi là tied loan). Sau đó hình thức nầy dần dần chỉ còn là ngoại lệ, nhường chỗ cho hình thức cho vay không ràng buộc (untied loan) phổ biến hơn. Đó cũng là kết quả của các thỏa thuận giữa Mỹ, Nhật, Pháp, Đức, Anh.., những thành viên trong Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD).

Để cho dễ hiểu và đi ngay vào vấn đề, tôi giới thiệu trường hợp của Nhật Bản tại Việt Nam hiện nay. ODA của Nhật Bản có 2 loại: Loại tặng không (grant) dùng cho lãnh vực giáo dục, y tế,… và loại cho vay (yen loan) dùng cho việc xây dựng hạ tầng. Loại cho vay cũng có hai hình thức: Vay không ràng buộc (untied loan) trong đó nước đi vay có thể mua vật tư, thiết bị, tư vấn kỹ thuật từ bất cứ nước nào xét thấy có lợi nhất (qua hình thức đấu thầu công khai). Hình thức thứ hai là vay có ràng buộc (tied loan) nhưng điều kiện rất ưu đãi mà Nhật gọi là STEP (Special Term for Economic Partnership). Loại STEP ràng buộc nên điều kiện lãi suất ưu đãi hơn loại untied loan. Cần nói thêm là tuy STEP là loại tied loan nhưng các công ty Nhật Bản phải cạnh tranh với nhau trong đấu thầu. Các nước nhận ODA có thể chọn lựa giữa hai hình thức này. Theo tôi biết, hầu hết các nước ASEAN nhận cả hai loại ODA vì loại ràng buộc cũng dễ chấp nhận do lãi suất được ưu đãi hơn loại untied loan và kỹ thuật, công nghệ, máy móc của Nhật được đánh giá cao.

Thực tế ở Việt Nam cho thấy, trong 5 năm qua (2010-2014), bình quân mỗi năm ODA của Nhật Bản cung cấp cho Việt Nam theo hình thức STEP là 45 tỉ yen (lãi suất chỉ có 0,1%) và theo hình thức untied loan là 124 tỉ yen (thời hạn 30 năm, lãi suất 1,4%/năm). Như vậy ODA không ràng buộc vào công ty Nhật Bản chiếm tới 73%, nghĩa là công ty Nhật phải tham gia đấu thầu trong các dự án phát sinh từ nguồn vay nầy. Tỉ lệ công ty Nhật thắng thầu cũng chỉ có 36%, không phải 100% như nhận định của ông bộ trưởng. Ngay cả trường hợp STEP là loại có thể hoàn toàn ràng buộc vào Nhật, công ty Nhật cũng chỉ chiếm 87% vì họ mời các công ty Việt Nam cùng tham gia trong việc cạnh tranh với các công ty khác của Nhật. Một thí dụ gần đây là dự án sân bay Nội Bài tuy theo hình thức STEP nhưng được thực hiện bởi công ty Xây dựng Taisei của Nhật và Công ty Vinaconex của Việt Nam, dự án cầu Nhật Tân cũng do một liên doanh giữa Nhật và Việt Nam xây dựng.

Việt Nam hiện đang nhận nhiều ODA, trách nhiệm của lãnh đạo, của quan chức liên hệ là làm sao phải chọn lựa những nguồn vốn vay với điều kiện ít phí tổn nhất và mang lại hiệu quả lớn nhất.

Trong quan hệ với Trung Quốc, ta đã thấy có nhiều hiện tượng bất bình thường, như nhập siêu tăng ở mức dị thường, doanh nghiệp Trung Quốc trúng thầu hầu hết các dự án trọng điểm trong các ngành quan trọng của Việt Nam, nhiều dự án họ đưa giá rẻ nhưng sau khi thắng thầu họ điều chỉnh giá và thương lượng lại, nhiều dự án không xây dựng đúng tiến độ và nhiều trường hợp công trình mới xây xong đã bị hỏng hoặc xuống cấp, v.v.. ,.. Lao động chui và lao động được cấp phép từ Trung Quốc sang cũng nhiều một cách khó hiểu.

Nguyên nhân nằm ở đâu? Dự án đường sắt Cát Linh-Hà Đông đã cho thấy một phần của vấn đề. Trước mắt cần công khai nội dung (qui mô vốn vay, thời hạn hoàn trả, ràng buộc hay không, lãi suất, v.v..) tất cả các dự án vay vốn nước ngoài để xây dựng hạ tầng.

Bây giờ là lúc phải chỉnh đốn ngay các quan hệ kinh tế với Trung Quốc, từng bước điều chỉnh để kéo các hiện tượng bất thường nói trên trở lại trạng thái bình thường, giống như quan hệ giữa Việt Nam với các nước khác./.

Trần Văn Thọ
Diễn Đàn
Chú thích :

1 Trong phần phụ lục của chương này, tôi phê phán vấn đề mua tàu của Trung Quốc cho dự án đường sắt Cát Linh-Hà Đông, một vấn đề làm dư luận bức xúc. Bộ trưởng Giao thông Vận tải cho rằng vay tiền của nước ngoài thì phải mua hàng của nước ngoài, một quy định chung cho mọi nước, không riêng Trung Quốc. Đây là một trường hợp điển hình cho thấy sự thiếu hiểu biết đã làm cho Việt Nam lệ thuộc vào Trung Quốc. Cũng có nhiều trường hợp không phải thiếu hiểu biết mà vì quan chức Việt Nam bị Trung Quốc mua chuộc nên đã dành nhiều ưu đãi cho doanh nghiệp Trung Quốc.

2 Gần đây Myanmar cũng cách giác với tham vọng bành trướng của Trung Quốc nên đã cho ngưng lại các dự án hạ tầng liên quan đến Trung Quốc. Chẳng hạn, dự án đường sắt nối Côn Minh của tỉnh Vân Nam đến cảng Kyaukpyu của Myanmar dự kiến cho Trung Quốc đầu tư 20 tỉ USD và vận hành trong 50 năm, nay phải ngưng lại vì bị dân chúng địa phương và các đoàn thể dân sự phản đối rất mạnh (Trung Quốc muốn thông qua đường sắt này để tiến sang Ấn độ dương). Đập thủy điện phía bắc Myanmar do Trung Quốc đầu tư 3,6 tỉ USD cũng đã bị hoãn lại. Theo Asahi Shinbun ngày 20/8/2014.

3 Theo báo Nikkei ngày 1/7/2015, chính sách mới của Việt Nam cho phép người nước ngoài có thể sở hữu địa ốc tối đa 50 năm và được triển hạn thêm 50 năm nữa, tổng cộng là 100 năm (có hiệu lực từ ngày 1/7/2015), và có thể mua 100% cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam trên sàn chứng khoán (có hiệu lực từ 1/9/2015). Cho đến nay người nước ngoài không được phép sở hữu địa ốc và chỉ có thể mua tối đa 49% cổ phần của doanh nghiệp trên sàn chứng khoán.

4 Tàu điện cao tốc (shinkansen) là trường hợp nổi tiếng về nỗ lực tự chủ công nghệ của Trung Quốc.

Vụ Bãi Tư Chính và ‘điểm chết’ khoan dầu nuôi đảng


Hải đăng Trường Sa

Trong cơ cấu thu ngân sách 6 tháng đầu năm 2019 của chính thể độc tài ở Việt Nam, có một tiểu phần đáng chú ý: thu từ dầu thô đạt đến 68% dự toán cả năm.

Vì sao thu ngân sách dầu thô tăng đột biến?

Tỷ lệ trên là khá bất thường so với mức thu ngân sách từ dầu thô vào khoảng 50% hoặc nhỉnh hơn đôi chút trong nửa đầu những năm gần đây, cho thấy vào năm 2019 Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) - doanh nghiệp độc quyền khai thác dầu khí nằm dưới ‘sự lãnh đạo toàn diện của đảng’ - đã được chỉ đạo để tìm cách đẩy nhanh, đẩy gấp tiến độ khai thác dầu và khí, trong bối cảnh ‘tình hình Biển Đông vẫn rất phức tạp’ - nói theo lối mào đầu ấp úng của giới tuyên giáo.

Cơ chế đẩy nhanh tốc độ khai thác dầu khí của PVN cũng cho thấy trước đó đảng cầm quyền và Bộ Quốc phòng Việt Nam có thể đã nắm được một số tin tức xác thực mà từ đó có thể dự báo là phía Trung Quốc sẽ ‘mần’ tiếp vụ Bãi Tư Chính vào năm 2019, do đó nếu PVN cứ nhẩn nha khai thác dầu như những năm không xảy ra gấu ó giữa ‘đảng anh’ và ‘đảng em’ thì nhiều khả năng sẽ không kịp hoàn thành kế hoạch khai thác dầu thô trong nửa cuối năm 2019 và ngân sách chính phủ sẽ bị hụt thu nghiêm trọng.

Còn nếu các lô dầu khí của PVN ở đông nam Việt Nam bị tàu Trung Quốc quần thảo trong suốt nửa cuối năm 2019 thì coi ngân sách đảng CSVN mất ăn.

Chẳng có gì khó khăn để đưa ra dự báo mất ăn trên, bởi liên tiếp trong hai năm trước - 2017 và 2018, Trung Quốc đã tổ chức hai chiến dịch ‘tống tiền’ người đồng chí tốt của mình ở khu vực Bãi Tư Chính - nơi không có mặt tập đoàn dầu khí nào của Hoa Kỳ mà chỉ có chủ yếu Tập đoàn dầu khí Repsol của Tây Ban Nha liên doanh với PVN để khoan thăm dò và khai thác mỏ dầu Cá Rồng Đỏ.

Kết quả của hai chiến dịch trên của ‘đối tác chiến lược toàn diện quan trọng nhất Trung Quốc’ - theo cách ca tụng rất thiếu máu não của giới quan chức Việt - là khá mỹ mãn: rốt cuộc, Repsol không chịu nổi sức ép và đã phải bỏ của chạy lấy người - nhưng theo yêu cầu của phía Việt Nam, còn PVN của Việt Nam thì không những bị đình trệ kế hoạch khai thác mỏ Cá Rồng Đỏ mà còn đang chịu nguy cơ phải bồi thường cho Repsol đến khoảng 300 triệu USD chi phí mà Repsol đã ứng ra cho hoạt động nghiên cứu thăm dò dầu ban đầu.

Không những thế, Trung Quốc còn chớm đạt được mục tiêu ban đầu, nằm trong cả một chiến lược dài hạn, là dần biến ‘vùng chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam’ tại Bãi Tư Chính thành ‘khu vực tranh chấp pháp lý’, làm nền tảng cho khả năng Bắc Kinh sẽ đưa hẳn những giàn khoan lớn vào khu vực này để cướp dầu của ‘đảng em’.

PVN từng kêu cứu ra sao?

Sau khi bị tàu Trung Quốc gây sức ép hai lần vào tháng 7 năm 2017 và tháng 3 năm 2018 tại Bãi Tư Chính, đến tháng 4 năm 2018 PVN buộc phải kêu cứu: “Tập đoàn Dầu khí Việt Nam bước vào thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2018 với những dự báo đầy khó khăn, thách thức đối với hoạt động dầu khí”. Ngoài nguyên nhân do giá dầu thô tiếp tục diễn biến khó lường, “tình hình biển Đông dự báo tiếp tục có những diễn biến phức tạp sẽ ảnh hưởng đến hoạt động tìm kiếm thăm dò dầu khí cũng như ảnh hưởng đến việc kêu gọi các nhà đầu tư nước ngoài tham gia đầu tư tìm kiếm thăm dò dầu khí ở các lô còn mở của Tập đoàn”.

Hiện tượng PVN đăng tải nhận định về “tình hình biển Đông dự báo tiếp tục có những diễn biến phức tạp” là bất bình thường, bởi từ trước tới nay theo thông lệ trong hệ thống chính trị một đảng ở Việt Nam, việc phát hành công khai những quan điểm và dự báo chính trị là thẩm quyền mang tính độc quyền của các cơ quan đảng và nhà nước chứ không phải của doanh nghiệp.

Vào thời điểm kêu cứu trên, PVN có hai dự án lớn về dầu khí – liên doanh với một công ty Tây Ban Nha là Repsol khai thác mỏ khí đốt Cá Rồng Đỏ ở lô 136/03 thuộc Bãi Tư Chính, và liên doanh với hãng dầu khí khổng lồ của Mỹ là ExxonMobil để khai thác mỏ Cá Voi Xanh ở ngoài khơi Quảng Nam, Quảng Ngãi. Đây là vài tiềm năng cuối cùng có thể cứu vãn ngân sách Việt Nam đang cạn kiệt. Nếu Repsol và ExxonMobil khai thác thành công thì ngân sách cùng chế độ Việt Nam sẽ được chia phần không ít.

Sau khi đã gây sức ép tại mỏ Cá Rồng Đỏ vào tháng Ba năm 2018, đến cuối tháng đó Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị đã đến Hà Nội với tối hậu thư “cùng hợp tác khai thác dầu khí”.

Kịch bản thất bại đến mất ngủ ở Bãi Tư Chính đã xảy ra, khiến giới chóp bu Việt Nam phải chịu nguy cơ mất ăn dầu khí ngay trên vùng lãnh hải của mình và càng bế tắc trong cơn ác mộng những khoản nợ nước ngoài đang ập đến như sóng thần Biển Đông.

Nếu chấp nhận “hợp tác cùng khai thác dầu khí” với Trung Quốc theo lối nói không thèm úp mở của Vương Nghị, thậm chí có thông tin ngoài lề cho biết Bắc Kinh đòi chia phần đến 60% số dầu thô khai thác thuần túy là tài sản của Việt Nam, Hà Nội sẽ đồng thời phải thừa nhận một tiền lệ chưa từng có về việc phải cho kẻ cướp chung sống trong nhà mình và PVN dĩ nhiên phải chia sẻ một phần, nếu không nói là một phần lớn, lợi nhuận cho tên kẻ cướp đó.

Nhưng nguy cơ không chỉ có thế…

2025 hết sạch dầu!

Khi mùa xuân ủ rũ của năm 2019 sắp nhoài đến, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã phải lần đầu tiên thừa nhận một sự thật mà bấy lâu nay tập đoàn này và đảng chỉ muốn che giấu càng nhiều càng tốt: sản lượng dầu tại rất nhiều giếng đang suy giảm tự nhiên do khai thác đã quá lâu. Cộng vào đó là trữ lượng gia tăng quá thấp khiến đến năm 2025, sản lượng khai thác dầu sẽ giảm đều đặn mỗi năm 10% - tương đương với hơn 2 triệu tấn.

Ngay cả mỏ Bạch Hổ - cung cấp sản lượng lớn nhất, chiếm hơn 60% sản lượng của PVN từ xưa đến nay - đã vào giai đoạn suy kiệt.

Còn nếu tốc độ khai thác dầu thô gấp gáp hơn nữa để tăng số thu cho ngân sách đảng, “deadline” thực sự cho trữ lượng dầu khai thác ở Việt Nam chỉ còn khoảng 3 năm tính từ năm 2018, tức đến năm 2021 - trùng với kỳ đại hội đảng lần thứ 13, nếu còn có đại hội này.

Với tình trạng trữ lượng dầu cạn kiệt nhanh trong khi quá khó để tìm ra nguồn trữ lượng mới, có thể hình dung là đến năm 2021 nền ngân sách hộc rỗng của chế độ sẽ mất hẳn số thu 70.000 - 80.000 tỷ đồng từ PVN mà do đó sẽ ‘kiến tạo’ một lỗ thủng toang hoác không lấy gì bù trám được.

Cùng với ba tử huyệt nợ công quốc gia, nợ xấu ngân hàng và thâm thủng ngân sách đang lộ ra ngày càng rõ, triển vọng trữ lượng dầu khí cạn kiệt chỉ trong ít năm nữa cộng với cú ‘tống tiền’ của ‘đồng chí tốt’ Bắc Kinh tại Bãi Tư Chính đã bồi thêm một điểm chết nữa mà có thể rút ngắn đáng kể tuổi thọ của chế độ cầm quyền tại Việt Nam trước thời điểm năm 2025.


Phạm Chí Dũng
Blog VOA

Chuyên gia: Khả năng đụng độ vũ trang tại Bãi Tư Chính tăng cao


Tàu hộ vệ tên lửa 016 Quang Trung được trang bị hệ thống vũ khí với khả năng chống hạm, chống ngầm và phòng không mạnh mẽ, là chiến hạm uy lực nhất của Hải quân Việt Nam. (Ảnh tư liệu)

Trong lúc có những thông tin về việc Việt Nam đã cử một tàu hộ vệ tên lửa hiện đại nhất đến khu vực Bãi Tư Chính, các chuyên gia cho rằng khả năng đụng độ quân sự giữa Hà Nội và Bắc Kinh đang tăng cao khi tàu Hải Dương 8 của Trung Quốc tiếp tục các hoạt động bị coi là “bất hợp pháp” tại vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Các nguồn tin không chính thức từ các chuyên gia trong và ngoài nước cho biết, chiến hạm Quang Trung, một trong 4 chiến hạm lớp Gepard 3.9, đã được đưa đến khu vực Bãi Tư Chính nơi tàu thăm dò Hải Dương 8 của Trung Quốc đang hoạt động tại vùng biển mà Việt Nam nói là “hoàn toàn thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán” của mình.

Tàu Quang Trung đang ở gần khu vực Bãi Tư Chính thế nhưng báo chí Việt Nam chắc là được lệnh không nói gì cả.

TS Hà Hoàng Hợp, Viện nghiên cứu ĐNÁ ISEAS
Tàu Hải Dương 8 hôm 13/8 trở lại Bãi Tư Chính, nơi trước đây tàu chấp pháp đôi bên từng “đối đầu” năm 1994 trong một tình huống tương tự, sau gần 1 tuần rút ra khỏi khu vực này.

Bộ Ngoại giao (BNG) Việt Nam hôm 16/8 yêu cầu Trung Quốc “rút toàn bộ nhóm tàu,” bao gồm Hải Dương 8 và các tàu hộ tống, cũng như phản đối việc Trung Quốc tái diễn vi phạm “nghiêm trọng.” Đó là lần thứ 4 BNG Việt Nam lên tiếng về vụ việc này.

Việc tàu Trung Quốc trở lại tiếp tục hoạt động khảo sát địa chấn, theo các chuyên gia, sẽ làm nguy cơ đụng độ giữa Hà Nội và Bắc Kinh trên Biển Đông tăng lên.

Nhà nghiên cứu về hải quân Trung Quốc của Mỹ, Ryan Martinson, hôm 17/8 cho biết qua một cập nhật trên trang Twitter rằng: “Dường như một trong hai chiếc tàu hiện diện của Việt Nam là tàu chiến lớp Gepard (Quang Trung).”



Giáo sư Carl Thayer của Đại học New South Wales, qua một cập nhật trên trang Twitter cá nhân, hôm 18/8 cũng trích dẫn “nhiều nguồn tin ở Hà Nội” nói rằng “Việt Nam đã cử chiến hạm Quang Trung HQ-016 tới Bãi Tư Chính hôm nay 18/8.”

Mặc dù truyền thông trong nước không khẳng định việc tàu Quang Trung được đưa tới Bãi Tư Chính nhưng ZingNews, Infonet và trang tin tức MSN hôm 19/8 cùng đồng loạt đăng tin và ảnh “cận cảnh chiến hạm Quang Trung” với các thông tin về con tàu tên lửa do Nga đóng có bổ sung thêm chức năng dò tìm và chống tàu ngầm cùng dàn phóng ngư lôi loại 533mm.

Việt Nam đã có động thái quân sự hóa vụ đối đầu ở Bãi Tư Chính trước và Trung Quốc giờ đây sẽ đối mặt với thế tiến thoái lưỡng nan.

GS Carl Thayer, Đại học New South Wales
Nói với VOA từ Hà Nội, Tiến sỹ Hà Hoàng Hợp – nhà nghiên cứu an ninh và chính trị khu vực của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á ISEAS có trụ sở ở Singapore, cho biết rằng tàu Quang Trung “hiện đang neo ở một trong những bãi cạn ở Bãi Tư Chính” thông qua dữ liệu hành trình mà ông có được từ MarineTraffic.

“Tàu Quang Trung đang ở gần khu vực Bãi Tư Chính thế nhưng báo chí Việt Nam chắc là được lệnh không nói gì cả,” theo TS Hà Hoàng Hợp. “Cũng giống như khi tàu địa chất Hải Dương 8 đi ra khỏi vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam hôm 8/8 và đến 13/8 quay trở lại nhưng báo chí cũng không được nói. Cho đến ngày 16/8 khi người phát ngôn Bộ Ngoại giao lên tiếng thì các báo lúc đó mới nói.”

Bộ Ngoại giao Việt Nam không ngay lập tức trả lời yêu cầu bình luận của VOA về việc tàu Quang Trung được cử đến bãi Tư Chính trong bối cảnh đụng độ với Trung Quốc.

Việt Nam “quân sự hóa vụ đối đầu”

TS Hà Hoàng Hợp, cũng là thành viên của Viện nghiên cứu IISS và chủ tịch Think Tank Viet, cho rằng việc Việt Nam điều tàu chiến ra khu vực này là điều tất yếu sau một tháng “xua đuổi các tàu (Trung Quốc)” mà không được.

Khả năng đụng độ vũ trang (của Việt Nam) với Trung Quốc đã tăng cao đáng kể.

Ryan Martinson, Đại học Hải chiến Hoa Kỳ
Nhận định về động thái điều tàu Quang Trung ra Bãi Tư Chính, GS Thayer, trong bản tin phân tích chính trị và an ninh khu vực ra ngày 18/8, cho rằng nếu thông tin trên là đúng thì điều này có nghĩa rằng Việt Nam “đang nâng mức độ và đưa ra thông điệp về quyết tâm bảo vệ quyền chủ quyền của Việt Nam cũng như bảo vệ các tàu hải cảnh của họ tại Bãi Tư Chính.”

Theo ông Martinson, người đầu tiên công bố thông tin về cuộc “đối đầu” giữa các tàu hải cảnh của Việt Nam và Trung Quốc tại Bãi Tư Chính, nếu việc tàu Quang Trung được cử đến đó để ngăn cản hoạt động của tàu Trung Quốc là đúng thì “khả năng đụng độ vũ trang (của Việt Nam) với Trung Quốc đã tăng cao đáng kể.”

Vụ việc này giống với vụ “đối đầu” hồi năm 1994 giữa các tàu của Việt Nam và Trung Quốc cũng tại Bãi Tư Chính, theo TS Alexander Vuving, chuyên nghiên cứu về an ninh châu Á và Biển Đông của Trung tâm Nghiên cứu An ninh Châu Á-Thái Bình Dương ở Haiwaii, nhận định trên trang Twitter cá nhân hôm 17/8.



Cho biết về thông tin của vụ việc năm 1994, TS Hà Hoàng Hợp nói bốn tàu chiến của Việt Nam đã được điều ra khu vực Bãi Tư Chính để “xua đuổi” 2 tàu thăm dò của Trung Quốc vào thời gian đó. Vị tiến sỹ này dự đoán nếu Trung Quốc đưa dàn khoan vào vùng thềm lục địa của Việt Nam lần này sau tàu thăm dò địa chấn thì "rủi ro xảy ra đụng độ quân sự là rất cao."

Theo GS Thayer, người chuyên nghiên cứu về các vấn đề Việt Nam và khu vực, với việc đưa tàu Quang Trung đến khu vực đụng độ, Việt Nam “đã có động thái quân sự hóa vụ đối đầu ở Bãi Tư Chính trước” và Trung Quốc giờ đây “sẽ đối mặt với thế tiến thoái lưỡng nan là liệu sẽ đáp trả hay không bằng việc điều các tàu của Hải quân Quân giải phóng Nhân dân ra Bãi Tư Chính.” Vị giáo sư này cho rằng nếu làm như vậy, Trung Quốc sẽ bị coi là “kẻ gây hấn quân sự và gây ra những chỉ trích từ cộng đồng quốc tế đối với Trung Quốc.”

Việt Nam đã lên tiếng kêu gọi sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế và mặc dù Mỹ đã đưa ra những lời chỉ trích về hành động “bắt nạt” của Trung Quốc trong tháng qua, Bắc Kinh vẫn tiếp tục thách thức chủ quyền của Việt Nam.

Hôm 18/8, Đại tướng David Goldfein, tham mưu trưởng Không quân Mỹ, nói rằng Hoa Kỳ “tôn trọng các quyết định và hành động của lãnh đạo" ở Hà Nội liên quan đến việc Trung Quốc điều tàu đến vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

“Chúng tôi luôn luôn ủng hộ quyền tự vệ và phòng vệ chính đáng của Việt Nam,” Đại tướng Goldfein được VietNamNet trích lời nói tại một buổi họp báo tại Hà Nội hôm 18/8. “Chúng tôi sẽ quan sát các hoạt động của Chính phủ Việt Nam để sẵng sàng hợp tác, làm việc với các bạn.”

Tuy nhiên, Giáo sư Carl Thayer từng nói với VOA rằng “Mỹ sẽ không ép (tàu) Trung Quốc ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam” vì Việt Nam không phải là một đồng minh của Mỹ trong khu vực. Điều quan trọng đối với Việt Nam lúc này, theo GS Thayer, là khi Tổng bí thư-Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tới thăm Washington trong thời gian tới trong năm nay, “liệu Việt Nam và Mỹ có nâng mối quan hệ lên tầm đối tác chiến lược hay không? Và liệu Việt Nam sẽ làm điều đó vì áp lực từ Trung Quốc hay không?”


VOA

Bãi Tư Chính: Mỹ sẽ giúp Việt Nam ngăn chặn Trung Quốc trên Biển Đông?


Đại tướng David Lee Goldfein Không quân Hoa Kỳ, hiện đang giữ chức Tham mưu trưởng Không quân. | Jose Luis Magana/AP

Tướng Mỹ thăm Hà Nội giữa lúc Trung Quốc bị cáo buộc xâm phạm chủ quyền Việt Nam khi liên tục điều nhóm tàu Hải Dương 8 tiến vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước này.

Bình luận về hoạt động phi pháp của tàu Trung Quốc ở khu vực Bãi Tư Chính và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam cùng nhiều diễn biến căng thẳng mới đây trên Biển Đông, Tham mưu trưởng Không quân Mỹ David Goldfein khẳng định Mỹ tôn trọng các quyết định và hành động của Việt Nam nhằm tự vệ và phòng vệ chính đáng.

Mỹ tôn trọng chủ quyền và sẵn sàng hợp tác với Việt Nam

Ngày 18/8, Đại tướng David Goldfein, Tham mưu trưởng Không quân Mỹ và Đại tướng Charles Brown Jr, Tư lệnh Không quân Hoa Kỳ tại khu vực Thái Bình Dương đã có chuyến thăm lịch sử đến Hà Nội.

Trong chuyến thăm kéo dài hai ngày 18 và 19/8, lãnh đạo cấp cao của Lực lượng Không quân Mỹ đã gặp gỡ phát biểu trước báo chí về tình hình Biển Đông và vấn đề hợp tác quân sự quốc phòng giữa Mỹ và Việt Nam.

Lần đầu tiên Việt Nam đón Tham mưu trưởng Không quân Mỹ kể từ thời điểm chấm dứt chiến tranh Việt Nam năm 1975.

Tại buổi gặp gỡ báo chí, hai vị tướng Mỹ đều bày tỏ quan điểm thẳng thắn của mình về những diễn biến gần đây trên Biển Đông, đặc biệt là hành động ngang ngược, coi thường luật pháp quốc tế của Trung Quốc, khi nhóm tàu Hải Dương 8 của nước này liên tục xâm phạm vùng biển thuộc chủ quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam.

Tham mưu trưởng Không quân Mỹ nhấn mạnh quan điểm nhất quán của Hoa Kỳ về việc tăng cường sự hiện diện của quân đội nước này trên Biển Đông cũng như nhắc lại hàng loạt tuyên bố trước đó của lãnh đạo ngành ngoại giao về “thói hung hăng”, gây căng thẳng cho khu vực của Trung Quốc:

“Tôi nhấn mạnh lại tuyên bố rất mạnh mẽ của Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo đã đưa ra. Đó là chúng tôi phản đối mạnh mẽ các hoạt động gây ảnh hưởng và thách thức những quyền lợi chính đáng cũng như chủ quyền của Việt Nam trong khu vực”, tướng David Goldfein phát biểu. Theo đó, Ngoại trưởng Hoa Kỳ chỉ trích mạnh mẽ hoạt động của Trung Quốc khi xâm phạm chủ quyền các nước láng giềng, có chung lãnh thổ tranh chấp trên Biển Đông. Mỹ muốn đảm bảo tất cả các quốc gia đều có quyền tiếp cận vùng biển và không phận quốc tế. Khi các nước tuân thủ nguyên tắc chung sẽ đi đến đồng thuận, thống nhất và ngày càng thịnh vượng. Phát ngôn này ám chỉ, Bắc Kinh cũng không phải ngoại lệ.

Bình luận về việc Trung Quốc liên tục đã 2 lần trong một tháng điều tàu trở lại vùng đặc quyền kinh tế, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền biển đảo của Việt Nam, Tham mưu trưởng David Goldfein khẳng định:

“Trước hết Mỹ tôn trọng các quyết định và hành động của Việt Nam. Chúng tôi luôn luôn ủng hộ quyền tự vệ và phòng vệ chính đáng của Việt Nam. Chúng tôi sẽ quan sát chặt chẽ các diễn biến để sẵn sàng hợp tác với Việt Nam”.

Ông cũng nhấn mạnh vai trò chuyến thăm và mong muốn nhìn thấy một Hà Nội thịnh vượng, đóng góp nhiều hơn vào ổn định của khu vực.

“Một lần nữa, sự hiện diện của chúng tôi ở đây là một thông điệp cho cam kết về mối quan hệ gắn bó giữa hai nước”.

Về phần mình, Đại tướng Brown tuyên bố, Mỹ quan sát rất kỹ nhất cử nhất động của Trung Quốc ở khu vực Biển Đông. Có thể thấy, qua những diễn biến gần đây, chính quyền Bắc Kinh hoàn toàn đi ngược lại những gì mình đã cam kết trước cộng đồng quốc tế, khác xa mục tiêu mà Washington hướng đến đó chính là giữ cho khu vực châu Á-Thái Bình Dương rộng mở và tự do.

Theo quan điểm của Tư lệnh Không quân Hoa Kỳ ở khu vực này, hành động của Trung Quốc tác động rất lớn và gây ra nhiều hệ lụy không mong muốn, xâm phạm đến vùng đặc quyền kinh tế của các nước.

Xuyên suốt cuộc họp báo, hai vị tướng Mỹ đều đồng loạt lên án phản đối hành động đối ngược với nguyên tắc tự do hàng hải và hàng không trong khu vực.

“Đối với khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương, mong muốn lớn nhất của chúng tôi là tất cả các quốc gia có thể tiếp cận khu vực biển cũng như không phận quốc tế, tuân thủ luật pháp quốc tế, để tất cả các nước đều được hưởng lợi ích chung”, ông Goldfein, Tham mưu trưởng Không quân Mỹ khẳng định.

Đồng ý với quan điểm này, Đại tướng Brown cũng nhấn mạnh phần quan trọng trong chính sách của Hoa Kỳ là đảm bảo một khu vực Ấn Độ- Thái Bình Dương rộng mở, tự do:

“Một trong những phần quan trọng đảm bảo việc này là làm sao duy trì vận hành tàu thuyền, máy bay trong bất kỳ khu vực nào mà luật pháp quốc tế cho phép, đảm bảo chủ quyền và quyền lợi hợp pháp của không chỉ riêng Việt Nam mà tất cả các nước khác trong các hoạt động ở Ấn Độ-Thái Bình Dương”, ông Brown cho biết.

Về mưu đồ của Trung Quốc khi thiết lập Vùng nhận diện phòng không (ADIZ), ông Brown cho biết, nếu thực tế này xảy ra, Bắc Kinh đã không tuân thủ trật tự và nguyên tắc luật pháp của quốc tế. Việc áp đặt ADIZ làm tăng thêm căng thẳng tại khu vực vốn nhạy cảm trên Biển Đông, gây ảnh hưởng đến quan hệ với Nhật Bản, Hàn Quốc và nhiều nước khu vực Đông Nam Á.

“Với tư cách một phi công đã có hoạt động trên máy bay bay qua khu vực trên không ở Biển Đông, tôi biết rằng Trung Quốc không thích máy bay, không quân của các nước bay qua khu vực này (dựa trên những cuộc gọi đàm thoại qua radio của chúng tôi với Trung Quốc), song chúng tôi sẽ vẫn tiếp tục các hoạt động này. Mục tiêu của chúng tôi là sẽ tiếp tục cho tàu thuyền vận hành ở khu vực trên biển cũng như trên không để chứng tỏ thông điệp là chúng tôi sẽ tiếp tục hoạt động này ở khu vực”, tướng Brown khẳng định.

Mỹ làm gì để hỗ trợ Việt Nam trên Biển Đông?

Báo giới đặt khá nhiều câu hỏi về chính sách hành động của Mỹ tại khu vực trước thói hung hăng, coi thường luật pháp quốc tế của Trung Quốc, gây bất ổn và căng thẳng leo thang trên Biển Đông, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền Việt Nam. Đặc biệt là động thái điều nhóm tàu Hải Dương 8 quay trở lại vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam để tiến hành các hoạt động thăm dò địa chất. Nhiều chuyên gia đã lên tiếng cảnh báo về nguy cơ Trung Quốc có thể tấn công và đánh chiếm những thực thể hiện không thuộc quyền kiểm soát của bất cứ quốc gia nào theo luật quốc tế.

Phát biểu về vấn đề này, Tham mưu trưởng Không Quân Mỹ bày tỏ:

“Với tư cách tư lệnh không quân Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, nhiệm vụ của chúng tôi là viết ra những phương án để các lãnh đạo đưa ra quyết định dựa trên phương án mà chúng tôi đề xuất. Những hướng đi có thể đệ trình, chúng tôi sẽ có trao đổi với Việt Nam, cũng như phù hợp với những lợi ích của các nước trong khu vực mà các hoạt động diễn ra ở khu vực Biển Đông”.

Hai vị tướng 4 sao của Hoa Kỳ đều nhắc lại cam kết của Mỹ nhằm xây dựng và phát triển quan hệ tốt đẹp với Việt Nam.

Tham mưu trưởng Không quân Mỹ, ông Goldfein tiết lộ Việt Nam là chặng dừng vô cùng quan trọng của ông trong lịch trình công tác năm nay với nhiều lý do chủ quan và khách quan, công việc chuyên môn lẫn quan hệ cá nhân.

“Tôi rất tự hào vì đây là chuyến thăm đầu tiên của một Tham mưu trưởng Không quân Mỹ đến Việt Nam kể từ khi chiến tranh kết thúc. Tôi đến đây để thăm một đối tác rất quan trọng và có nhiều lợi ích cũng như mối quan tâm của chúng tôi. Sự hiện diện của hai Đại tướng Không quân Mỹ thể hiện cam kết mạnh mẽ của Mỹ với Việt Nam nói riêng và khu vực nói chung”.

Vị tướng Hoa Kỳ luôn nhấn mạnh đến thông điệp của Tổng thống Donald Trump, ngoại trưởng Mike Pompeo về mong muốn thấy một Việt Nam hùng mạnh, thịnh vượng.

Chuyến thăm Hà Nội lần này vô cùng có ý nghĩa với cá nhân hai vị tướng David Goldfein và Charles Brown Jr vì trước đây cha của họ đều từng là quân nhân, phục vụ trong quân đội Mỹ và đều từng tham chiến tại Việt Nam trong cuộc chiến khốc liệt.

Tham mưu trưởng không quân Mỹ cho hay, việc quan trọng nhất là xây dựng và phát triển quan hệ hợp tác vững chắc, bền chặt, cả hai bên cùng có lợi với Việt Nam:

“Chúng tôi muốn đề cập đến việc xây dựng nhận thức trong khu vực không chỉ về mặt hàng hải mà còn là hàng không. Chỉ có nhận thức đúng đắn, hiểu rõ những khó khăn thách thức phải đối mặt trong một khu vực thì mới có cách ứng phó tốt nhất”, tướng Hoa Kỳ khẳng định.

Về xử lý hậu quả chiến tranh, ông Goldfein cũng nhắc lại cam kết của Mỹ nỗ lực giúp Việt Nam giải quyết vấn đề này. Đồng thời, Hoa Kỳ có tể giúp đào tạo, nâng cao kỹ năng trình độ cho sĩ quan Việt Nam.

“Chúng tôi hoan nghênh và mong muốn chào đón thêm sĩ các quan trẻ từ Việt Nam tới các trường quân sự, học viện không quân ở để học tập và đào tạo”, Đại tướng Goldfein cho biết.

Quân đội Mỹ cam kết duy trì hiện diện quân sự, tuần tra trên Biển Đông

Trả lời báo chí Philippines trong chuyến thăm Manila ngày 16/8 vừa qua, Tham mưu trưởng Không quân Mỹ, ông David Goldfein tái khẳng định cam kết của Washington ở Biển Đông và toàn bộ khu vực châu Á- Thái Bình Dương.

“Mỹ không ngừng duy trì sự sẵn sàng và khả năng điều chiến hạm hoặc máy bay tuần tra tại bất cứ khu vực hoặc bất cứ thời điểm nào chúng tôi cần”, ông Goldfein tuyên bố.

Chuẩn đô đốc Karl Thomas, chỉ huy nhóm tác chiến 70 của tàu sân bay USS Ronald Reagan, ngày 9/8 vừa qua, cũng khẳng định “hải quân Mỹ sẽ tiếp tục hiện diện tại Biển Đông để đảm bảo an ninh và tự do hàng hải”.

Theo người phát ngôn Bộ ngoại giao Mỹ Morgan Ortagus:

“Việc Trung Quốc tiến hành cải tạo và quân sự hóa các tiền đồn ở Biển Đông, cùng với các hành động khác nhằm khẳng định những đòi hỏi bất hợp pháp của Bắc Kinh ở vùng biển này, bao gồm cả việc sử dụng quân sự trên biển để đe dọa các quốc gia khác, là hành động làm xói mòn hòa bình và an ninh khu vực”.

Đáng chú ý, việc điều nhóm tàu Hải Dương 8 của Trung Quốc  tiến hành các hoạt động thăm dò địa chất tại vùng biển thuộc đặc quyền kinh tế của Việt Nam, đang can thiệp trực tiếp vào việc thăm dò và sản xuất dầu mỏ, khí đốt mà Hà Nội đã tiến hành từ lâu, tuân thủ đúng luật pháp quốc tế.

Tàu Haiyang Dizhi 8 (Hải Dương 8) lần đầu tiên vào khu vực biển tranh chấp dưới sự hộ tống của Lực lượng Bảo vệ bờ biển Trung Quốc vào tháng 7 nhằm thực hiện cuộc khảo sát địa chấn tại các vùng biển. Đến ngày 7/8, tàu thăm dò địa chất này đã rời Bãi Tư Chính đến cảng Fiery Cross Reef (Đá Chữ Thập) sau hơn một tháng căng thẳng diễn ra giữa các bên liên quan.

Tranh chấp lãnh thổ Biển Đông

Tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông gồm các tranh chấp về đảo và vùng biển. Quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa là hai quần đảo trên các rạn san hô ở Biển Đông, trong đó quần đảo Hoàng Sa đang là nơi tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam, Trung Quốc và Đài Loan. Quần đảo Trường Sa là nơi tranh chấp chủ quyền của 6 quốc gia và lãnh thổ: Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei; các quốc gia này tuyên bố chủ quyền toàn bộ hay một phần quần đảo Trường Sa


Sputniknews

Số phận Trường Sa




Giống như Gạc Ma, Vành Khăn, Chữ Thập, sự kiện Tứ Chính chỉ là một điểm nhỏ khác trong tiến trình thực hiện chính sách bành trướng của Tập Cận Bình trên toàn bộ Biển Đông.

Tứ Chính ở đâu? Các lãnh đạo thế giới không bao nhiêu người biết và có biết cũng chưa đáng để họ quan tâm. Quá nhiều việc lớn hơn họ phải lo, phải làm, phải đáp ứng hơn là Tứ Chính.

Tiến trình bành trướng của Trung Cộng trên lãnh thổ Việt Nam từ các vùng phía Bắc như Nam Quan, Bản Giốc, Lão Sơn đến Biển Đông được đáp ứng bằng một chuỗi dài im lặng của đảng CSVN và các lãnh đạo thế giới.

Như lịch sử nhân loại chứng minh, chìm trong đáy hồ sâu im lặng của các lãnh đạo các nước tự do là máu của hàng trăm triệu người vô tội, trong đó có nhiều triệu người Việt cả hai miền Nam Bắc.

Sách vở về Thế chiến Thứ Hai còn đang nằm trên giá sách của Barnes & Noble.

Tháng 3, 1935, Hitler vi phạm hiệp ước Versailles khi đơn phương xóa bỏ “status quo” của vùng kỹ nghệ Saar Basin đang trực thuộc quyền cai quản của Anh Pháp và sáp nhập lãnh thổ này vào Đức. Anh Pháp coi như không biết.

Tháng 3, 1936, Hitler đưa quân chiếm đóng khu phi quân sự Rhineland. Anh và Pháp có quyền được quy định trong hiệp ước Versailles để giải giới hay đánh bật quân Hitler ra khỏi vùng Rhineland. Anh Pháp ngồi yên.

Tháng 3, 1938, bằng những xúi giục chính trị từ bên trong Áo và áp lực quân sự bên ngoài biên giới Áo, Hitler đã hoàn thành dự tính chiếm Áo mà y đã viết trong Mein Kampf 1925 không tốn một viên đạn. Anh Pháp làm ngơ.

Tháng 9, 1938, Hitler công khai bày tỏ ý định sáp nhập vùng Sudetenland có đông dân Đức, có nguồn dự trữ nguyên liệu lớn của Tiệp Khắc và dùng khu vực giàu có này làm bàn đạp thôn tính toàn bộ Tiệp Khắc. Anh Pháp nhân nhượng.

Tháng 3, 1939 lợi dụng sự suy yếu trầm trọng của chính phủ Tiệp và đất nước này bị các Ba Lan, Hung xâm lấn, Hitler xua quân chiếm toàn bộ nước Cộng Hòa Tiệp Khắc vốn là một cường quốc của châu Âu. Anh Pháp buông xuôi.

Nếu bất cứ vi phạm nào trong các vi phạm vừa nêu trên của Hitler, hai liên minh Anh-Pháp và Pháp-Tiệp phản ứng một cách quyết liệt, hàng trăm triệu người đã không chết.

Nhưng Pháp đã không giữ cam kết với người bạn lâu năm Tiệp Khắc (Treaty of Alliance 1924 giữa Pháp và Tiệp có giá trị không giới hạn thời gian) và Anh lẫn Pháp đều làm ngơ khi Hitler ráo riết tái vũ trang.

Giả thiết tham vọng của Hitler không điên cuồng mà có giới hạn và biết dừng chân sau mỗi lần chinh phục.

Thay vì tấn công Ba Lan để đẩy thế giới vào lò lửa Thế Chiến Thứ Hai vào đầu tháng 9, 1939, Hitler sau khi thu lại cả vốn lẫn lời về lãnh thổ Đức bị tước đoạt trong hiệp ước Versailles, chọn dừng lại mười năm để củng cố đế quốc Đức mới mênh mông, xóa bỏ mọi tàn tích văn hóa lịch sử của các dân tộc bị chiếm, tăng cường kỹ nghệ quốc phòng và kỹ thuật chiến tranh thì khuôn mặt thế giới sẽ ra sao vào mười năm sau, tức năm 1949?

Thế Chiến Thứ Hai vẫn có thể bùng nổ vào năm 1949 nhưng đồng minh sẽ không chỉ cần sáu năm để chiếm Berlin mà có thể rất lâu và nhân loại không chỉ chết 85 triệu hay 3 phần trăm trong tổng số 2.3 tỉ người, mà có thể vài trăm triệu mới đánh bại được Đế Quốc Đức.

Nhân loại đang đối phó với một Hitler khác, lần này ở Á Châu và có tên là Tập Cận Bình.

Adolf Hitler và Tập Cận Bình có những điểm giống nhau về tham vọng lãnh thổ, độc quyền toàn trị, dã man, tôn thờ cá nhân, tuyên truyền và khủng bố.

Nhưng những kẻ độc tài không phải là những kẻ siêu nhiên, thần thánh. Nhìn cách phản ứng đầy sợ hãi và vội vàng của Tập trong giai đoạn đầu của cuộc chiến thương mại với Mỹ cho thấy Tập cũng chỉ là con người bình thường nếu không muốn nói rất bình thường.

Điểm khác duy nhất giữa Hitler và các lãnh tụ CS Trung Quốc là cách áp dụng chính sách bành trướng.

Thay vì chiếm toàn bộ Trường Sa như Hitler đã làm đối với Áo và Tiệp, Trung Cộng gặm nhấm từng phần của quần đảo giàu tài nguyên thiên nhiên này cho đến hết.

Thay vì quốc hữu hóa toàn bộ Biển Đông một cách nhanh chóng như Hitler đã làm đối với hai khu kỹ nghệ Saar Basin và Rhineland, Tập Cận Bình vẫn để cho tàu bè các nước qua lại nhưng cùng lúc quân sự hóa từng khu vực qua việc xây dựng ít nhất bảy đảo nhân tạo trên Biển Đông.

Tâp Cận Bình tin rằng không gian được cho phép sẽ bị thu hẹp dần cho đến một thời điểm thuận tiện hải quan Trung Cộng đóng cửa và Biển Đông sẽ là một Venice của Trung Cộng.

Câu hỏi được đặt ra Trường Sa của Việt Nam là chặng dừng chân nào trong bản đồ chinh phục đầy tham vọng của Tập? Là Saar Basin? Là Rhineland? Là Áo? Là Sudetenland? Là Tiệp Khắc? Là Ba Lan?

Biết chặng đường nào rất cần thiết vì qua đó đo lường phản ứng của quốc tế. Có chặng họ sẽ làm ngơ. Có chặng họ sẽ nhượng bộ. Có chặng họ sẽ buông xuôi và có chặng buộc quốc tế phải can thiệp võ trang.

Tranh chấp quốc tế cũng đơn giản như nấu một nồi nước. Những mâu thuẫn giữa Mỹ và đồng minh của Mỹ với Trung Cộng vẫn còn trong giai đoạn đầu và còn lâu để nồi nước Biển Đông sôi sục.

Trong giai đoạn từ 1933 đến khi thế chiến thứ hai bùng nỗ liên minh Anh, Pháp, Tiệp cũng nhiều lần biểu dương lực lượng qua các cuộc điều binh và tăng cường phòng thủ. Tuy nhiên những hành động đó chỉ để hổ trợ cho đàm phán chứ không phải để tấn công. Hitler biết rõ điều đó và tiếp tục chính sách bành trướng bằng quân sự.

Lịch sử đang tái diễn. Những căng thẳng ở Biển Đông sẽ ngày càng tăng cường độ nhưng còn lâu mũi tên mới rời khỏi dây cung của Mỹ.

Số phận Trường Sa của Việt Nam hôm nay, vì thế, có thể sẽ giống như các lãnh thổ, các quốc gia bị Hitler và Stalin chiếm đoạt trước tháng 9, 1939.

Ngoài ra, độc giả chắc chưa quên chuyến đi thăm Mỹ của Nguyễn Phú Trọng sau sự kiện Trung Cộng đưa giàn khoan HD-981 đến cách đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa chỉ 17 hải lý và cách đảo Lý Sơn, thuộc tỉnh Quảng Ngãi 120 hải lý.

Nhiều người, trong đó có cả những người không ưa đảng, hồi hộp đợi chờ kết quả chuyến đi của “Tổng Bí Thư” và bộ máy tuyên truyền xem đó như một biến cố lịch sử chưa từng có.

Nhưng rồi đâu cũng vào đó, quyền cai trị của đảng vẫn được các chóp bu CS đặt lên trên sự sống còn của đất nước.

Không giống như quan hệ giữa Philippines và Trung Cộng, quan hệ giữa CSVN và Trung Cộng thực chất là quan hệ giữa hai đảng CS với một quá khứ nhiều nóng lạnh nhưng khó tách rời nhau.

Yêu nước là điều đáng quý, đáng trân trọng nhưng cũng nên đặt đúng chỗ, đúng người.

Đừng để đảng CS dắt đi vòng vòng như đã dắt nhiều thế hệ Việt Nam trong hai cuộc chiến trước đây.

Hãy dành tình yêu đó cho Lê Đình Lượng, Trần Huỳnh Duy Thức, Hoàng Đức Bình, Nguyễn Trung Trực , Trần Thị Nga, Nguyễn Trung Tôn, Trương Minh Đức, Nguyễn Bắc Truyển, Phạm Văn Trội và hàng trăm người Việt Nam khác đang sống trong nhà tù CS, bởi vì, sẽ không ai cứu Việt Nam ngoài chính người Việt Nam.


Trần Trung Đạo
Chính Luận Trần Trung Đạo

Thoát Trung là con đường mà Nhà nước và Nhân dân phải cùng làm




Thoát Trung là chống lại con đường Bắc thuộc mới đang hiện ra ngày càng khốc liệt. Sự nghiệp chống xâm lược của một quốc gia đương nhiên phải do Nhà nước của quốc gia ấy đảm đương và tổ chức. Nhưng việc chống xâm lăng Trung Cộng đối với Nhà nước Cộng sản Việt Nam là việc rất khó thực hiện vì hai lý do:

1- Do nhu cầu bảo vệ quyền lãnh đạo độc tôn của một đảng Cộng sản nên ĐCSVN không muốn Thoát Trung. Việc bảo vệ Tổ quốc Việt Nam lại mâu thuẫn với việc bảo vệ quyền lực độc tôn của đảng, mà lời TBT Nguyễn Văn Linh chính là một minh chứng khi ông đặt ĐCS của ông lên trên Tổ quốc: “Tôi cũng biết rằng, dựa vào Trung Quốc sẽ mất nước, nhưng mất nước còn hơn mất Đảng”. Lời đúc kết ấy, tuyên ngôn ấy “mãi mãi là một vết cắt lịch sử rất sâu vào da thịt Việt Nam”.

2- Đã có những văn bản ràng buộc khiến ĐCSVN không thể Thoát Trung. Điển hình nhất là Công hàm năm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng dưới sự chỉ đạo tối cao của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Công hàm ấy tán thành công hàm của Thủ tướng Trung quốc Chu Ân Lai xác định hải phận của Trung quốc, có bản đồ kèm theo, xác định “Tây Sa” và “Nam Sa” (tức Hoàng Sa và Trường Sa) là của Trung Quốc, tức không phải của Việt Nam. Đó là căn cứ pháp lý mà Trung Quốc đã đưa vào hồ sơ pháp lý trình Liên Hiệp Quốc. Muốn bác bỏ giá trị pháp lý của công hàm Phạm Văn Đồng chỉ có cách duy nhất là lên án công hàm ấy chống lại chủ quyền của nhân dân Việt Nam, cũng tức là lên án chế độ Cộng sản mà Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng đại diện. Đó không chỉ là một văn bản pháp lý bán nước mà còn nặng nề hơn. Bán tức là xác định quyền sở hữu trước đây của mình nhưng nay bán cho nước khác, nhưng công hàm Phạm Văn Đồng công nhận Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc, không phải của Việt Nam, đó là sự chối bỏ chủ quyền, nay biết nói sao trước pháp luật quốc tế? Không chối bỏ cái công hàm tự diệt ấy thì làm sao mà kiện?

Ấy mới là việc ở hải phận và biển đảo, còn sự xâm lăng nội địa và toàn diện tất nhiên còn có những ràng buộc khác cũng không kém phần rắc rối.

Vì hai lý do như trên, muốn Thoát Trung tận gốc, để muôn đời thanh thản, chẳng có cách gì khác hơn là phải thoát ly khỏi thể chế cũ, cái thể chế đã bất đắc dĩ phải cho kẻ thù truyền kiếp mượn đường “môi răng” để tiến hành xâm lược ngọt như tằm ăn dâu.

ĐCS đương nhiên không muốn Thoát Cộng, không thể tự Thoát Cộng. (Chính HCM trước đây đã nói tự Đảng khó sửa lỗi của mình nên cần có sự hỗ trợ của nhân dân). Nhân dân sẽ hỗ trợ Đảng bằng những áp lực. Hai áp lực thông thường nhất là những kiến nghị, yêu sách và các cuộc biểu tình đông đảo, ôn hòa, giúp Đảng biết lắng nghe mà sửa lỗi. Đảng giúp dân thực hiện các hoạt động ấy cũng là cách tự giúp mình thoát hiểm, trở về thành một đảng trong xã hội dân chủ đa nguyên, và mãi mãi sung sướng vì độc lập khỏi kẻ thù truyền kiếp phương Bắc.

Dù dân không nêu khẩu hiệu Thoát Cộng nhưng cuối cùng vẫn phải động vào cái gốc ấy, cái chốt ấy, cái khóa ấy, mới giải quyết được mọi vấn đề.

Trong điều kiện Nhà nước còn có khó khăn, nhiều con đường tại các làng xã, xóm thôn đã theo sáng kiến “Nhà nước và Nhân dân cùng làmnên thôn xóm khang trang, thanh thoát. Sáng kiến ấy rất hay, tôi nghĩ con đường Thoát Trung rất lớn lao này Nhà nước và Nhân dân cũng nên hip đồng, cùng làm như làm những con đường nơi thôn dã vy.

Những trở ngại trên con đường Thoát Trung:

- Trở ngại từ trong ĐCS: Những yêu cầu của trí thức và dân chúng có lẽ chỉ tập trung vào nhu cầu đối ngoại, như yêu cầu Nhà nước kiện Trung quốc ra Liên Hiệp Quốc chẳng hạn, nhưng muốn đáp ứng những yêu cầu ấy đương nhiên phải có những thay đổi sâu sắc từ bên trong đảng, từ bên trong thể chế, dần dà cũng là thay đổi từ gốc. Như trên đã nói, sự tự thay đổi này là rất quan trọng nhưng cũng thật là khó khăn, đòi hỏi một hệ thống quyền lực tự mình giảm thiểu vì lợi ích sống còn của dân tộc vẫn là chuyện không bao giờ dễ dàng.

- Trở ngại về phía nhân dân: Hơn nửa thế kỷ sống trong chiến tranh, trong bất an mà kết quả lại không như ý nên số đông người dân chán nản trước việc chung, từ cái gốc nồng nàn yêu nước nay dẫn đến vô cảm thờ ơ, mặc kệ việc đời, khi chưa thấy có ngọn cờ nào đủ sức gây lại cảm hứng ngày xưa, mà cứ ló ra ngọn cờ là đương nhiên bị diệt.

- Trở ngại từ phía giặc bành trướng: Trung Quốc muốn Việt Nam cứ là cộng sản nhược tiểu thân Tàu để tiếp tục “tàm thực” cho đến tận cùng. Nếu Trung Quốc thấy phía Việt Nam có thay đổi, không nghe lời nữa tất nhiên họ phải có đối sách. Nếu họ dùng bạo lực chiến tranh thì cuộc xâm lược sẽ mau chóng hoàn toàn thất bại. Nếu Việt Nam thực sự muốn đi với thế giới văn minh để chống Bắc thuộc thì mọi sức mạnh bên trong và bên ngoài lập tức sẽ hình thành và hiệp lực thành sức mạnh vô địch không gì cản nổi.

Điều lo ngại nhất là Tàu sẽ chơi nước cờ thâm hiểm: Trước đây Tàu dùng chư hầu nhưng không tạo được cho chư hầu một bộ mặt đẹp đẽ, thế là hạ sách. Nay nếu bên trong họ đẩy nhanh sự lấn át cho thành sự đã rồi, nhưng đồng thời bên ngoài cho phép chư hầu ca bài ái quốc oai hùng bằng miệng để dân bị lừa mà mừng rỡ, mà hy vọng thì đó là điều nguy hiểm không thể coi thường.

Với nỗi niềm của một con dân nước Việt, biết mình chỉ là một công dân “tiểu tốt vô danh”, nhưng lòng chẳng thể yên, nên tôi cứ nghĩ xa thôi lại nghĩ gần mà trút hết nỗi lòng như vậy, mong được lượng thứ nếu còn những điều gì tác giả nghĩ chưa được thỏa đáng.


18/8/2019

Hà Sĩ Phu
BXVN

Lời kêu gọi chống Trung Quốc xâm lược, khởi kiện TQ gây hấn, xâm chiếm biển đảo của VN trên Biển Đông


Thôn tính, biến Việt Nam thành chư hầu, khu tự trị… là chủ trương hàng ngàn năm của bành trướng Đại Hán. Hiện nay Trung Quốc thực hiện ý đồ đó với Việt Nam thông qua chiêu bài ru ngủ: BỐN TỐT, MƯỜI SÁU CHỮ VÀNG, VÌ ĐẠI CỤC. Họa mất nước và nô lệ Trung Quốc Đại Hán, man rợ, độc ác đã là hiện thực từng ngày, từng giờ. Mất đất, mất biển, mất đảo, tài nguyên bị cướp đoạt, môi trường sống bị đầu độc, đưa người Trung Quốc xâm nhập và cư trú bất hợp pháp khắp cả nước không còn là cá biệt. Thủ đoạn xâm lăng Việt Nam của bành trướng đại Hán có khi đưa hàng chục vạn quân tràn sang, có khi chọn chỗ hiễm yếu kiểu tằm ăn dâu như biên giới, Hoàng Sa, Trường Sa hay bãi Tư Chính hiện nay.


Trong tình hình đó, các quan chức cao cấp Việt Nam liên tục sang làm việc với Trung Quốc nhưng không hề có một lời tuyên bố phản đối nào cụ thể. Thậm chí Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam còn ca ngợi sự hợp tác nhân dân, quân đội hai nước. Người dân lên tiếng phê phán, phản đối lại bị bắt bớ, hành hung, bỏ tù với tội danh gây rối, phản động, chống phá tình hữu nghị, đảng, nhà nước…

Chúng tôi hoan nghênh chính phủ Việt Nam vừa qua đã lên án Trung Quốc xâm phạm vào quyền chủ quyền của Việt Nam khi Trung Quốc đưa tàu Hải Dương vào EEZ và thềm lục địa trong khu vực Bãi Tư Chính.

Lịch sử dân tộc đã nhiều lần chỉ ra rằng, mỗi khi người dân chán ghét, không quan tâm đến vận nước (nước là của vua, của đảng), thì đất nước suy yếu, sụp đổ, rơi vào tay ngoại bang. Và lịch sử Việt Nam cũng khẳng định rằng dù tổ quốc nguy khốn đến đâu, nếu được nhân dân ủng hộ thì khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

Để bảo vệ tổ quốc, chống Trung Quốc cướp nước, trước hết là huy động sức mạnh của toàn dân tộc (ở trong và ngoài nước) và sự hỗ trợ của các quốc gia yêu chuộng công lý, hòa bình trên thế giới.

Chúng tôi gồm những tổ chức, cá nhân người Việt trong và ngoài nước lên tiếng kêu gọi toàn thể người Việt hãy hành động cho một Việt Nam, độc lập, tự do, dân chủ, toàn vẹn lãnh thổ, phát triển lành mạnh, văn minh, tiến bộ.

Việc làm ngay: Khởi kiện hành động xâm chiếm, gây hấn của Trung Quốc đối với chủ quyền biển đảo của Việt Nam ở Biển Đông, trước mắt là vi phạm quyền chủ quyền của Việt Nam theo UNCLOS ở bãi Tư Chính.

Quốc hội và Chính phủ cần ra tuyên bố Trung Quốc đã và đang xâm lược biển đảo Việt Nam. Chính phủ phải trả tự do cho các tù nhân bị bắt vì tham gia chống Trung Quốc xâm lược với tội danh ngụy tạo: phản động, chống phá cách mạng…

Cụ thể:

1/ PHÁP LÝ:

  1. Chính phủ Việt Nam yêu cầu Trung Quốc và Việt Nam ngồi lại với nhau để giải quyết với sự chứng kiến của các nước có tranh chấp chủ quyền ở khu vực rộng hơn là Biển Đông như Mã Lai, Phi Luật Tân, Brunei, Indonesia và các tổ chức quốc tế liên quan.
  2. Nếu Trung Quốc từ chối, chính phủ Việt Nam phải đưa Trung Quốc ra Tòa án Trọng tài của Liên Hợp Quốc. Chính phủ mau chóng nộp hồ sơ kiện cho Tòa Luật Biển đúng vào lúc Trung Quốc có hành vi gây tranh chấp như khi khởi sự đục khoét thềm lục địa Việt Nam (Toà sẽ có thẩm quyền bó buộc, dù Trung Quốc không ra hầu Toà). Việt Nam chỉ có ít ngày để theo dõi và bắt quả tang Trung Quốc và kiện gấp kịp thời. Như vậy Việt Nam sẽ có bản án quốc tế chấm dứt hành động bắt nạt của Trung Quốc và tránh khỏi tự trách mình là kiện bóng ma trước một sự đã rồi.
Phải coi việc khởi kiện Trung Quốc là ưu tiên số một hiện nay.

2/ NGOẠI GIAO: Liên kết với các nước tự do dân chủ, văn minh, tiến bộ không có âm mưu xâm lược Việt Nam.

Chấm dứt “Giao lưu học tập” với Trung Quốc kiểu đàn em giao lưu học tập đàn anh trong các lãnh vực: quân sự, công an, thanh niên, phụ nữ, tuyên giáo, đảng, chính quyền… những thứ hình thành tâm thức thua kém, đàn em, cam tâm làm đầy tớ cho đại Hán man rợ.

3/ QUÂN SỰ: Vì nhu cầu tự bảo vệ, quyền tự do hàng hải trên Biển Đông, vì hoà bình và an ninh chung trong khu vực, Việt Nam có quyền tìm và nhận sự hợp tác của bất cứ quốc gia đối tác nào, như việc đặt mua hay tiếp nhận vũ khí từ các nước như Mỹ, Nga, Úc, Nhật, Tây Âu, Do Thái, Ấn độ, v.v., tập trận chung với các quốc gia không tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải với Việt Nam. Vũ khí, khí tài, quân phục… của lực lượng vũ trang Việt Nam phải không giống với Trung Quốc XHCN…

Những việc trên đây thuộc trách nhiệm của ba vịChủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng chính phủ.

CUỐI CÙNG: Mọi người dân Việt yêu nước tùy cách nhìn, hoàn cảnh phải được hành động cho sự tồn vong của tổ quốc Việt Nam yêu quí, vì hạnh phúc của người dân, không ai có quyền cấm cản, hành hung, bắt giam, kết án, đày ải người dân yêu nước cùng nắm tay nhau chống Trung Quốc xâm lược.

Việt Nam, ngày 16 tháng 8 năm 2019

Các tổ chức, cá nhân khởi xướng:

TỔ CHỨC:

Đợt 1
  1. Câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng, đại diện: ông Lê Thân
  2. Diễn đàn XHDS, đại diện: TS Nguyễn Quang A
  3. Ban Vận động thành lập Văn đoàn Độc lập Việt Nam, đại diện: nhà văn Nguyên Ngọc
  4. Diễn đàn Bauxite Việt Nam, đại diện: GS Phạm Xuân Yêm
  5. Hội Bầu Bí Tương Thân, đại diện: ông Nguyễn Lê Hùng
  6. Phong trào Lao Động Việt, đại diện: ông Đoàn Huy Chương

Đợt 2

  1. Giáo xứ Mỹ Khánh, Giáo phận Vinh, đại diện: Linh mục Đặng Hữu Nam
  2. Hội Anh Em Dân Chủ, đại diện Ls Nguyễn Văn Đài
  3. Nhóm Hoạt động ủng hộ Quốc Dân Việt, đại diện: Đoàn Văn Lập, San Jose, California, Hoa Kỳ

CÁ NHÂN:

Đợt 1

  1. Lê Thân, cựu tù Côn Đảo, chủ nhiệm CLB Lê Hiếu Đằng, TP HCM
  2. Nguyễn Khắc Mai, Trung Tâm Minh Triết, Lập Quyền Dân, Hà Nội
  3. Chu Hảo, PGS, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, Đà Nẵng
  4. Nguyễn Viện, nhà văn, Sài Gòn
  5. Nguyễn Quang A, TS, Hà Nội
  6. Nguyên Ngọc, nhà văn, Hội An
  7. Đào Công Tiến, PGS TS, nguyên Hiệu trưởng Đại học Kinh tế TP HCM
  8. Ngô Kim Hoa (Sương Quỳnh), nhà báo tự do, Sài Gòn
  9. Trần Thanh Vân, kiến trúc sư, Hà Nội
  10. Đào Tiến Thi, nhà nghiên cứu ngôn ngữ và văn học, nguyên UV BCH Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Hà Nội
  11. Nguyễn Ngọc Lanh, nguyên GS – NGND ĐH Y Khoa Hà Nội, Hà Nội
  12. Kha Lương Ngãi, nguyên phó Tổng biên tập báo Sài Gòn Giải Phóng, CLB Lê Hiếu Đằng, Sài Gòn
  13. Nguyễn Xuân Diện, TS, Hà Nội
  14. Tiêu Dao Bảo Cự, nhà văn tự do, Đà Lạt
  15. Bùi Minh Quốc, nhà thơ, nhà báo, Đà Lạt
  16. Trần Tiến Đức, nhà báo độc lập, đạo diễn phim tài liệu và truyền hình, Hà Nội
  17. Lê Văn Tâm, nguyên Chủ tịch Hội Người Việt Nam tại Nhật Bản
  18. Võ Văn Tạo, nhà báo, Nha Trang
  19. Lại Thị Ánh Hồng, nghệ sĩ, Sài Gòn
  20. Nguyễn Thị Khánh Trâm, nghiên cứu viên, hưu trí, TP HCM
  21. Huỳnh Sơn Phước, nhà báo, nguyên Phó Tổng biên tập Báo Tuổi Trẻ, Hội An
  22. Nguyễn Tường Thụy, nhà báo độc lập, Hà Nội
  23. Nguyễn Quang Nhàn, hưu trí, CLB Phan Tây Hồ, Đà Lạt
  24. Trần Minh Thảo, viết văn, CLB Phan Tây Hồ, Bảo Lộc, Lâm Đồng
  25. Phan Đắc Lữ, nhà thơ, CLB Lê Hiếu Đằng, Sài Gòn
  26. Hà Sĩ Phu, TS Sinh học, CLB Phan Tây Hồ, Đà Lạt
  27. Nguyễn Đăng Hưng, GS Danh dự Đại học Liège (Bỉ), Sài Gòn
  28. Tống Văn Công, nguyên Tổng biên tập Báo Lao Động, Hoa Kỳ
  29. Trần Ngọc Sơn, kỹ sư, Pháp
  30. Nguyễn Thanh Hằng, dược sĩ, Pháp
  31. Phạm Nguyên Trường, dịch giả, Vũng Tàu
  32. Nguyễn Gia Hảo, chuyên gia tư vấn độc lập, Hà Nội
  33. Nguyễn Huệ Chi, GS Ngữ văn, Hà Nội
  34. Đặng Thị Hảo, TS Văn học, Hà Nội
  35. Nguyễn Đình Nguyên, TS Y khoa, Australia
  36. Trần Đức Quế, nghỉ hưu, Hà Nội
  37. Hoàng Dũng, PGS TS, TP HCM
  38. Nguyễn Phương Quân, lao động tự do, Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà Nội
  39. Nguyễn Mai Oanh, Th.S Kinh tế phát triển, Sài Gòn
  40. André Menras – Hồ Cương Quyết, nhà giáo Pháp – Việt, Cộng hòa Pháp
  41. Phạm Gia Minh, TS Kinh tế, Hà Nội
  42. Võ Minh Trí (Việt Khang), Hoa Kỳ
  43. Nguyễn Thị Tuyết Lan, nội trợ, Nha Trang
  44. Lê Công Định, luật sư, Sài Gòn
  45. Nguyễn Thị Thái Lai, Nha Trang
  46. Mạnh Kim, nhà báo tự do, Sài Gòn
  47. Ngô Thị Thứ, giáo viên hưu trí, Sài Gòn
  48. Nguyễn Đình Thục, linh mục Giáo phận Vinh
  49. Nguyễn Công Thanh, Sài Gòn
  50. Lê Ngọc Thanh, linh mục DCCT, Nhà thờ Sáu Bọng, Cần Thơ
  51. Chí Thảo, nhà báo tự do, Sài Gòn
  52. Lê Thăng Long, doanh nhân, cựu tù nhân lương tâm, Sài Gòn
  53. Chiêu Anh Nguyễn, nhà thơ, Sài Gòn
  54. Lê Thị Kiều Oanh, nội trợ, Sài Gòn
  55. Nguyễn Ngọc Sơn, bác sĩ, Bà Rịa Vũng Tàu
  56. Nguyễn Vũ Bình, nhà báo, Hà Nội
  57. Đoàn Thị Thu Hương, Sài Gòn
  58. Hồ Ngọc Nhuận, nhà báo, Sài Gòn
  59. Hồ Hiếu, nguyên chánh Văn phòng Ban Dân vận Thành ủy TP HCM, cựu tù nhân lương tâm, Sài Gòn
  60. Hoàng Hưng, nhà thơ, dịch giả, Sài Gòn
  61. Nguyễn Nghĩa Trí, Sài Gòn
  62. Lê Xuân Lộc, linh mục Dòng Chúa Cứu Thế, Sài Gòn
  63. Vũ Thạch, kỹ sư, Sài Gòn
  64. Đặng Bích Phượng, hưu trí, Hà Nội
  65. Đoàn Hòa, phiên dịch, Cộng hòa Séc
  66. Nguyễn Đăng Cao Đại, Th.S Xây dựng, Sài Gòn
  67. Đỗ Trung Quân, nhà thơ, Sài Gòn
  68. Lê Hoàng, nhân viên kỹ thuật Cty điện tử Hanel, Hà Nội
  69. Nguyễn Văn Hải, blogger Điếu Cày, California, Hoa Kỳ
  70. Phan Vân Bách, Đống Đa, Hà Nội
  71. Lê Quốc Thăng, linh mục, Tổng Giáo phận Sài Gòn
  72. Đoàn Huy Chương, Phó chủ tịch Phong Trào Lao Động Việt
  73. Nguyễn Khanh, nhà báo, Washington D.C, Hoa Kỳ
  74. Nguyễn Thị Kim Chi, NSƯT, CLB Lê Hiếu Đằng, Sài Gòn
  75. Đặng Đình Mạnh, luật sư, Sài Gòn
  76. Nguyễn Văn Đề, Hà Nội
  77. Phạm Thành, nhà báo, nhà văn, Hà Nội
  78. Nguyễn Đăng Vũ, kinh doanh, Sài Gòn
  79. Lê Thúy Bảo Nhi, chuyên viên tư vấn tâm lý, Sài Gòn
  80. Phạm Bảo Ân, phóng viên, Sài Gòn
  81. Đào Thu Huệ, giảng viên, Hà Nội
  82. Lê Nguyễn Phương Trâm, BTV- PTV Amentv, Sài Gòn
  83. Nguyễn Thanh Tịnh, linh mục Tòa Giám mục Giáo phận Hà Tĩnh
  84. Võ Văn Thôn, nguyên GĐ Sở Tư Pháp TP HCM, CLB Lê Hiếu Đằng, Sài Gòn
  85. Nguyễn Thế Hùng, GS TS, Đại học Đà Nẵng, Phó Chủ tịch Hội Cơ học thủy khí Việt Nam
  86. Tô Lê Sơn, kỹ sư, CLB Lê Hiếu Đằng, Sài Gòn
  87. Trần Đình Sử, GS Văn học, Hà Nội
  88. Nguyễn Thị Bích Hoa, nội trợ, Long Điền, Bà Rịa Vũng Tàu
  89. Vũ Trọng Khải, PGS TS, chuyên gia độc lập về chính sách nông nghiệp, TP HCM
  90. Nghiêm Ngọc Trai, kỹ sư Xây dựng, hưu trí, Đống Đa, Hà Nội
  91. Đinh Đức Long, TS BS, Sài Gòn
  92. Nguyễn Trí Nghĩa, lao động tự do, Sài Gòn
  93. Ngô Trường An, Thăng Bình, Quảng Nam
  94. Phạm Minh Hoàng, hưu trí, Paris, Cộng hòa Pháp
  95. Trần Vũ Anh Bình, nhạc sĩ, cựu tù nhân lương tâm, Sài Gòn
  96. Đàm Ngọc Tuyên, nhà báo độc lập, Quảng Ngãi
  97. Nguyễn Tiến Trung, Th.S, cựu tù nhân lương tâm, Sài Gòn
  98. Huỳnh Công Thuận, nhà báo tự do, Sài Gòn
  99. Trần Đức Nguyên, chuyên gia cao cấp, nghỉ hưu, Hà Nội
  100. Chu Vĩnh Hải, nhà báo độc lập, Vũng Tàu
  101. Lê Đính Kim Thoa, nội trợ, Sài Gòn
  102. Lê Dũng, nhà báo độc lập, Đài truyền hình CHTV Vietnam, Hà Nội
  103. Dương Thị Tân, nhà hoạt động xã hội, Sài Gòn
  104. Mai Thái Lĩnh, nhà nghiên cứu, CLB Phan Tây Hồ, Đà Lạt
  105. Nguyễn Tiến Dân, nhà giáo, Hà Nội
  106. Phạm Đức Nguyên, PGS TS, Hà Nội
  107. Hà Dương Tường, nhà giáo nghỉ hưu, Pháp
  108. Nguyễn Mạnh Hùng, mục sư, Sài Gòn
  109. Nguyễn Duy Tân, linh mục, Xuân Lộc, Đồng Nai
  110. Phan Thị Hoàng Oanh, TS Hoá học, Sài Gòn
  111. Trần Bang, kỹ sư, cựu chiến binh chống Trung Quốc, thành viên CLB Lê Hiếu Đằng, Sài Gòn
  112. Lê Công Bằng, lao động tự do, Sài Gòn
  113. Hà Quang Vinh, hưu trí ở Sài Gòn
  114. Tô Oanh, giáo viên nghỉ hưu, TP Bắc GIang
  115. Trần Nghi Hoàng, nhà văn, nhà báo, Pennsylvania, Hoa Kỳ
  116. Khánh Phương, nhà văn, nhà báo, Pennsylvania, Hoa Kỳ
  117. Lê Thị Thập, nội trợ, Sài Gòn
  118. Hoàng Thị Hà, giáo viên hưu trí, Hà Nội
  119. Ngô Văn Đích, điêu khắc, Quế Võ, Bắc Ninh
  120. Nguyễn Văn Lịch, kỹ sư Cơ khí nghỉ hưu, Đống Đa, Hà Nội
  121. Lã Hiếu Thiên, sinh viên, Sài Gòn
  122. Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học Việt Nam, hiện sống tại TP HCM

Đợt 2

  1. Đặng Hữu Nam, linh mục Giáo phận Vinh, Giáo xứ Mỹ Khánh
  2. Nguyễn Phạm Kim Sơn, nguyên Trưởng đài viễn thông liên kết ICS Hoa Kỳ trước 1975, Đà Nẵng
  3. Phan Văn Phong, Cử nhân Tài chính, làm việc tự do, Hoàn Kiếm, Hà Nội
  4. Trung Dũng Kqđ, hoạ sĩ, TP HCM
  5. Nguyễn Lê Tuấn, kiến trúc sư, Lausanne, Thụy Sĩ
  6. Lê Thị Sáu, công nhân, Lausanne, Thụy Sĩ
  7. Nguyễn Thị Kim Hồng, kế toán (hưu trí), Lausanne, Thụy Sĩ
  8. Bùi Ngọc Lan Hương, dược sĩ, Sài Gòn
  9. Nguyễn Văn Dũng, TS Vật Lý, nguyên cán bộ thuộc Viện Khoa học Việt Nam, Hoa Kỳ
  10. Nguyễn Xuân Nghĩa, TS, nhà giáo, Sài Gòn
  11. Nguyễn Lương Thịnh, Thủ Đức, TP HCM
  12. Uông Đình Đức, kỹ sư Cơ khí, TP HCM
  13. Trần Thi Kim Phụng, thường dân, Tân Bình, Sài Gòn
  14. Vũ Tất Đạt, làm việc tự do, Tân Định, Sài Gòn
  15. Nguyễn Hồng Kiên, nghiên cứu viên, Hà Nội
  16. Đặng Xuân Thanh, kỹ sư cơ khí, Hà Nội
  17. Trần Rạng, nhà giáo, Sài Gòn
  18. Nguyễn vũ Hằng lao động tự do Đông Anh, Hà Nội
  19. Phan Quốc Tuyên, kỹ sư Tin học, Genève, Thụy Sĩ
  20. Phan Thị Châu, nhà báo tự do, TP HCM
  21. Nguyễn Thị Hồng Phượng, cử nhân, Hà Nội
  22. Đoàn Khắc Xuyên, nhà báo, Sài Gòn
  23. Hồ Vĩnh Trực, kỹ thuật viên, Sài Gòn
  24. Ngô Văn Hiền, kỹ sư Xây dựng, Nhà Bè, Sài Gòn
  25. Trà Thành, hưu trí, TP HCM
  26. Nguyễn Minh Tấn, kiến trúc sư, Sài Gòn
  27. Phan Thị Tuyết Hoa, nội trợ, Đà Nẵng
  28. Đỗ Đình Tú, công nhân lao động, TP Cẩm Phả, Quảng Ninh
  29. Nguyễn Đình Dũng, giáo viên, Hà Nội
  30. Nguyễn Tuệ-Hải, hưu trí, Canberra, Australia
  31. Phạm Lưu Vũ, nhà văn, Hà Nội
  32. Huỳnh Quang Minh, cử nhân kinh tế, Quảng Nam
  33. Pham Xuân Thu, luật gia, doanh nhân, Berlin, CHLB ĐỨC
  34. Bùi Công Trường, hưu trí, Hà Nội
  35. Nguyễn Lân Thắng, Hà Nội
  36. Nguyễn Phương Hưng, Bình Chánh, Sài Gòn
  37. Đỗ Đăng Giu, nguyên Giám đốc Nghiên cứu CNRS, Đại học Paris XI, Cộng hòa Pháp
  38. Vũ Thế Khôi, Nhà giáo Ưu tú, Ba Đình, Hà Nội
  39. Nguyễn Quang Thạch, khởi xướng Chương trình Sách hoá Nông thôn Việt Nam, Hà Nội
  40. Lê Văn Oanh, kỹ sư Xây dựng, Hà Nội
  41. Nguyễn Đình Cống-GS, hưu trí ở Hà Nội
  42. Trương Chí Tâm, cử nhân y khoa, cựu chiến binh chiến trường Campuchia, TP HCM
  43. Nguyễn Thành Phước giáo viên hưu trí, Hà Nội
  44. Nguyễn Thanh Nguyện, hưu trí, TP Vũng Tàu
  45. Vũ Văn Trường, hưu trí, Hoàn Kiếm, Hà Nội
  46. Bạch Duy Ngà, nhiếp ảnh, Nghi Xuân, Hà Tĩnh
  47. Nguyễn Xuân Hùng, bác sĩ, Hà Tĩnh
  48. Văn Hiền, lập trình viên, Bình Thuận
  49. Dương Sanh, cựu giáo chức, Nha Trang, Khánh Hòa.
  50. Nguyễn Trọng Nhân, Vilnius, Lithuania
  51. Đinh Thị Bích Ngọc, nhân viên văn phòng, TP HCM
  52. Đặng Doan, kinh doanh, Gia Nghĩa, Đak Nông
  53. Nguyễn Tuấn Anh, cựu sỹ quan chống Trung Quốc tại Vị Xuyên, Việt Trì, Phú Thọ
  54. Nguyễn Xuân Lâm, nghề tự do, Nghi Hòa, Nghi Lộc, Nghệ An
  55. Nguyễn Nam Cường, thạc sỹ, lao động tự do, nguyên Vụ trưởng, chuyên viên cao cấp Văn phòng Chính phủ, nguyên Tổng lãnh sự Việt Nam tại Savannkhet, CHDCND Lào.
  56. Nguyễn Kế Quang, kỹ sư, TP Quy Nhơn, Bình Định
  57. Dương Trọng Chiến, làm tự do, Hà Nội
  58. Đỗ Quốc Minh, lính chiến trường B2 1971-1976, Biên Hoà, Đồng Nai
  59. Lê Phước Sinh, dạy học, Sài Gòn
  60. Phùng Chí Kiên, designer, Hai Bà Trưng, Hà Nội
  61. Ngô Phương Trạch, cán bộ nghỉ hưu, Bà Rịa Vũng Tàu
  62. Nguyễn Thu Giang, luật sư, nguyên Phó Giám đốc Sở Tư pháp, TP HCM
  63. Cấn Văn Tiến, Ba Đình, Hà Nội
  64. Trương Nghiêm, hưu trí, Sài Gòn
  65. Phạm Thái Sơn, Hoàng Mai, Hà Nội
  66. Phạm Dũng, Hàng buồm, Hà Nội
  67. Doãn Quốc Khoa, kiến trúc sư, Hà Nội
  68. Kiều Hồng Sơn, nhà báo, Bắc Hà, Hà Tĩnh
  69. Nguyễn Mạnh Hải, Bayern, CHLB Đức
  70. Đào Minh Đức, quận 7, TP HCM
  71. Nguyễn Văn Phong, Thạch Thất, Hà Nội
  72. Trần Quốc Trọng, đạo diễn, NSƯT, Hà Nội
  73. Nguyễn Văn Tường, bác sĩ, Phan Thiết, Bình Thuận
  74. Đỗ Đình Tú, công nhân TP Cẩm Phả, Quảng Ninh
  75. Vũ Anh Tú, hưu trí, Hoàn Kiếm, Hà Nội
  76. Lê Thân, hưu trí, Hà Nội
  77. Nguyễn Thu Nga, Hoàng Mai, Hà Nội
  78. Lê Đức Thanh, Thái Nguyên
  79. Đào Thanh Thủy, hưu trí, Hà Nội
  80. Trịnh Dzương Minh, hồi hưu, Canada
  81. Pham Cường, đạo diễn phim, Hamburg, CHLB Đức
  82. Đinh Nam Thắng, kỹ sư, Cộng hòa Séc
  83. Vũ Linh Huy, bác sĩ y khoa, Boston, Massachusetts, Hoa Kỳ.
  84. Trần Thanh Tuấn, giảng viên trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội
  85. Bùi Công Tự, hưu trí, Sài Gòn,
  86. Nguyễn Thị Ngọc Trai, nhà văn, nhà báo, Hà Nội
  87. Phan Bá Phi, thạc sĩ Tin học, chuyên viên cấp cao, hưu trí, Hoa Kỳ
  88. Hoàng Vũ, công nhân, Hoa Kỳ
  89. Hà Dương Tuấn, kỹ sư CNTT, đã nghỉ hưu, Cộng hòa Pháp
  90. Nguyễn Vũ Phúc, bảo vệ, quận 7, TP HCM
  91. Nguyễn Trọng Hùng, hưu trí, TP Thanh Hóa
  92. Nguyễn Tuấn Khoa, kỹ sư, Sài Gòn
  93. Nguyễn Văn Trường, HQ/VNCH, Sài Gòn
  94. Nguyễn Tiến Đạt, nhân viên kỹ thuật tại FPT shop, Sài Gòn
  95. Trần Thế Việt, nguyên Bí thư Thành ủy TP Đà Lạt, Lâm Đồng
  96. Trương Lê Khanh, lao động tự do, quận Tân Phú, TP HCM
  97. Phạm Xuân Hảo, nghiên cứu sinh, Atlanta, Hoa Kỳ
  98. Ngô Văn Hoa, bác sĩ, Đà Nẵng
  99. Raymond Addington, phóng viên Cộng Đồng, Hoa Kỳ
  100. Kha Lương Lợi, thương binh chiến tranh biên giới Tây Nam, cán bộ hưu trí, Sài Gòn
  101. Dương Thị Thu Liễu, nội trợ, Giáo xứ Gia Ray, Đồng Nai
  102. Võ Thị Vân, hưu trí, An Giang
  103. Lê Chí Thành, nông dân, Đồng Hới, Quảng Bình
  104. Trịnh Văn Thái, lái xe, Hà Nội
  105. Nguyễn Đình Duy, lao động tự do, Vinh, Nghệ An
  106. Nguyễn Hữu Quý, cán bộ hưu trí, TP Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk
  107. Cát Toàn Thắng, kỹ sư, Đại học Bách Khoa Hà Nội, TP Hà Nội
  108. Lưu Châu, kế toán, Sài Gòn
  109. Nguyễn Trạch Công, lao động tự do, Nghệ An
  110. Nguyễn Trần Hải Quan, sinh viên, Bình Chánh, TP HCM
  111. Nguyễn Văn Đài, luật sư, đang tị nạn cộng sản tại CHLB Đức
  112. Uông Đại Bằng, giáo chức hưu trí, TP HCM
  113. Quảng Tánh Trần Cầm, nhà thơ, Hoa Kỳ
  114. Lê Xuân Hòa, kỹ sư Dầu khí, Thành phố Vũng Tàu
  115. Đoàn Phú Hòa, phiên dịch, Cộng hòa Séc
  116. Nguyễn Xuân Lâm, nghề tự do, Nghệ An
  117. Phạm Kỳ Đăng, làm thơ, viết báo, dịch thuật, Berlin, CHLB Đức
  118. Nguyễn Chí Trung, Dân Xã Đảng, Sài Gòn
  119. Trương Thị Hoàng Nghiêm, Sài Gòn
  120. Phùng Ân Hưng, giáo viên, quận Gò Vấp, TP HCM
  121. Nguyễn Quốc Huy, Manchester, London
  122. Phạm Công Nhiệm, bác sĩ, Hà Nội
  123. Hoàng Châu, hưu trí, Hà Nội

Tổ chức, cá nhân tham gia ký tên KÊU GỌI xin gửi Họ tên, chức danh, nghề nghiệp, tỉnh, thành phố cư trú, với người ở nước ngoài chỉ cần ghi quốc gia.

Hộp thư nhận chữ ký: chongtqxamluocvn@gmail.com


Biển Đông

 

Top ↑ Copyright © 2016. Tiến Bộ - All Rights Reserved
Back To Top ↑