Tin Tức Cập Nhật 24/7

Lời khai của Trương Duy Nhất: 7 ngày bị NBG lừa trên đất Thái như thế nào?


Viết lại theo lời kể của nhân vật A (Bạch Hồng Quyền) và những lời tâm sự của Trương Duy Nhất nói với anh Huy Đức (Trương Huy San) - một người bạn rất thân thiết với Nhất.

Viết lại theo lời kể của nhân vật A (Bạch Hồng Quyền) và những lời tâm sự của Trương Duy Nhất nói với anh Huy Đức - một người bạn rất thân thiết với Nhất.

Đêm 19, rạng sáng ngày 20/1, một chiếc xe van 12 chỗ khởi hành từ biên giới Thái – Miên đi về hướng thủ đô Băng - Cốc với tốc độ tên lửa, trên xe chỉ có Trương Duy Nhất là người Việt, còn lại đều là người Miên.

Sau một đêm mệt nhoài, cuối cùng cũng đến Rangsit. Nhất uể oải bước xuống xe, dáo dác nhìn bốn phía xung quang nhưng vẫn không thấy ai đến đón. Anh ta bèn mở điện thoại gọi cho Người Buôn Gió, không ai bắt máy. Giờ này bên Đức vẫn còn sớm, chắc Hiếu đang ngủ, Nhất nghĩ bụng rồi để lại tin nhắn, sau đó tự tìm một quán cà-phê nghỉ ngơi.

Đang thiu thiu ngồi chợp mắt thì giật thót người khi nghe tiếng ai gọi “Anh Nhất!”, mở mắt ra thì thấy A đã đến. Bắt tay A, Nhất chột dạ nghĩ: “Hóa ra đệ tử Hiếu Gió là thằng này, phen này lành ít dữ nhiều đây!”

Thôi kệ, lỡ phóng lao thì phải đi theo lao, Nhất miễn cưỡng đứng dậy đi theo A vì cũng chẳng còn lựa chọn nào khác. Trên đường, nghe A luôn miệng khoe khoang đủ thứ trên trời dưới đất, Nhất miên man nghĩ lại những cuộc trao đổi với Người Buôn Gió khi còn ở Phnôm Pênh:

“Ông cứ yên chí sang Thái, bí mật nhé, chỉ được “lói” chuyện với tôi thôi. Sang bên ấy, tôi chỉ cần hô một tiếng là bọn đàn em đến đón ông. Chúng “ló” có cả trụ sở to đùng bên đấy, tôi bảo bọn VOICE “ló” cho ông đến lánh “lạn”. Còn bọn “U Lờ” (UN) thì để tôi “lói” chuyện, bảo đảm chưa đến 7 ngày là ông được Ca – “La” - Đa bốc đi…”

Xe dừng trước một nhà nghỉ rẻ tiền, A lấy hộ chiếu của Nhất đưa cho người quản lý, rồi cả hai cùng lên phòng. Nhất buột miệng hỏi:

- Hiếu Gió nói anh là tụi em có trụ sở bên đây?

- Đó là trụ sở của VOICE, em là “sếp” điều hành mọi hoạt động ở đấy. Nhưng anh Hiếu dặn phải giữ bí mật chuyện anh qua Thái, sang đấy dễ bị lộ nên anh cứ tạm ở đây.

- Còn thủ tục tị nạn của em đến đâu rồi, khi nào đi định cư?

- VOICE bảo em là năm sau, nhưng em chưa thích đi. Nói thật nhé, chỉ cần em gật đầu hôm nay là hôm sau Đại sứ quán 3 nước Mỹ, Đức, Canada mua vé máy bay “bốc” em qua ngay. Nhưng nếu em đi thì VOICE Thái Lan chỉ còn đường đóng cửa, với lại em với “sự phụ” (Hiếu Gió) đang thực hiện nhiệm vụ bí mật để sát cánh với anh em trong nước. Cái này bí mật nhé, em chỉ kể với anh thôi, nhiệm vụ đó là…

Biết A sinh gần kho đạn Long Bình, Nhất viện lý do cần đi tắm để không phải nghe tiếp. Thằng A tuy tốt tính, nhưng không giữ được bí mật, lại quen thói bốc phét, khoe khoang y như sư phụ nó.

Trong phòng tắm, anh nghe giọng của A gọi cho ai đó, nói oang oang: “Hế lô anh, đang nhậu với ai thế? Em mới đón Trương Duy Nhất sang, nói với anh thôi, đừng kể ai nghe nhé”.

Bực mình, Nhất bước ra định mắng cho A một trận thì Người Buôn Gió gọi đến:

“DM, chúng “ló” bảo tôi đưa Trịnh Xuân Thanh, Vũ Nhôm đi trốn thì cả hai đều bị bắt. Bây giờ tôi sẽ lên “phây” cho chúng “ló” biết là tôi đưa ông sang Thái trót lọt. Tôi đang viết “Trương Duy Nhất – con dê tế thần” đây, dạo này view thấp quá, gửi tôi ảnh hộ chiếu của ông để làm bằng chứng nhé”

Chưa kịp trả lời thì hàng loạt tin nhắn gửi đến điện thoại Nhất hỏi thăm việc sang Thái. Nhất chán nản tắt điện thoại, vắt tay lên trán nghĩ: “Bí mật kiểu gì mà gặp ai cũng khoe khoang. Giờ thì bạn bè ai cũng biết mình đang trốn sang Thái”.

*

Sáng ngày 25/1, A đưa Nhất đến UNHCR làm thủ tục tị nạn. Đường đông, xe kẹt, mãi mới nhích thêm được vài mét. Nhất vẫn kiên nhẫn vì nghĩ đến lời hứa của Người Buôn Gió: “Đến đấy cứ “lói” là anh Hiếu bên Đức giới thiệu, sẽ có người của U-Lờ (UN) đưa ông vào trong làm thủ tục rồi cấp thẻ tị “lạn”. Vài ngày sau sẽ được “bốc” đi như con bé tên gì người Ả-rập Sau-đi ấy”.

Đến UN, thực tế những gì diễn ra sau đó không như Nhất nghĩ, anh vẫn phải xếp hàng, điền đơn xin lịch hẹn và chờ đợi phỏng vấn như bao người khác, không có một ưu tiên đặc biệt nào như lời Hiếu Gió nói. Một cảm giác thất vọng tràn trề.

Nhất hỏi chuyện một người tị nạn đang ngồi gần thì mới biết rằng để được công nhận tị nạn thì nhanh nhất cũng phải 1 năm, còn muốn đi định cư thì trên 3 năm… Nghe đến đây, một tương lai xám xịt hiện ra trước mắt.

Nhất bèn đến hỏi chuyện một nhân viên UN, họ nói không biết Hiếu Gió là ai. Gặng hỏi, thằng A sợ quá phải thừa nhận nó chỉ là một chân chạy vặt cho VOI, giữa Hiếu Gió và VOICE không có bất kỳ sự liên quan nào. “Tất cả toàn là bố láo, mình bị chúng nó lừa rồi!”, Nhất nghĩ.

Nhớ lại chuyện Vũ Nhôm khi trốn sang Sing-ga-po, cũng chỉ vì nghe lời Hiếu Gió mà bị dẫn độ về Việt Nam, rồi thêm cả chuyện Trịnh Xuân Thanh nữa… Hiếu Gió đang bí đề tài, hắn chỉ muốn lợi dụng tên tuổi của Nhất để viết bài câu view cho blog của hắn. Nhất dần dà đã hiểu ra mọi chuyện.

Về đến khách sạn, Người Buôn Gió lại gọi: “Tôi mới đưa tin là thằng Phúc hói biết ông sang Thái, “ló” ra lệnh Tổng cục 2 sang bắt ông về. Mình cứ bịa ra thế cho chúng “ló” tức. Kỳ này thằng Trương Huy San còn lâu mới thạo tin bằng bố nhé…”

Nhất bực bội cúp điện thoại giữa chừng, Hiếu Gió gọi lại mấy lần cũng không bắt máy. Hiếu quay sang gọi cho A, A kể lại toàn bộ sự tình, Hiếu nói: “Thôi kệ mẹ “ló”, tao phải viết tiếp đây. Phây-bút tao đang “lóng”, mày vào xem chúng “ló” khen tao nhiều lắm “lày”!” 

Tối hôm đó, Hiếu Gió nhắn tin gửi cho Nhất: “Tôi đã giúp đưa ông đi trốn, ông phải giúp lại tôi viết bài. Nếu không tôi bỏ mặc ông bên đấy”.

*

Hôm sau, nhiều cuộc điện thoại lạ gọi đến đe dọa Nhất. Số phôn này chỉ có A và Hiếu Gió biết. Thấy có điều bất thường, Nhất vội vã thu dọn hành lý và bắt xe đến Future Park, rồi gọi A đến giúp, A ngập ngừng nói: “Anh Hiếu không cho em gặp anh nữa!”
Vậy là đã rõ mặt nhau, Nhất bẻ sim và tắt luôn điện thoại.

Đến chiều, Hiếu Gió nhắn A gọi lại cho Nhất, nhưng không ai nghe máy. Sợ Nhất đi kể với mọi người, A bèn gọi phôn khắp nơi thanh minh, kể lể.

Gọi cho Kami, Kami ôn tồn khuyên nhủ: “Anh và Nhất cùng là đồng nghiệp với nhau, nếu gặp Nhất thì em khuyên anh ta nên trốn kỹ. Bảo Nhất tránh xa những người đã đưa anh ta sang đây”.

Gọi Cao Lâm, Cao Lâm chửi oang oang trong điện thoại: “Thằng nào chỉ đạo cho mày mà ngu như con bò, ai lại để một thằng trốn truy nã lo cho một thằng bị truy lùng. Muốn cả hai bị bắt hết hay sao?”.

Gọi cho Huân, Sương, H, T, S... thì không ai chịu nghe máy, ai cũng sợ nói chuyện với A vì biết rõ những cuộc nói chuyện riêng tư này sẽ được kể lại cho cả cộng đồng tị nạn Thái Lan biết.

Nghe A báo cáo vụ việc, Người Buôn Gió đập bàn quát: “Bọn Kami, Cao Lâm chắc chắn là Tổng Cục 2. Dám chống tao thì chỉ có thể là Tổng Cục 2. Được rồi, tao sẽ vạch mặt bọn mày lên “phây” cho biết tay”.

“Nhưng họ đều là người tốt, họ giúp đỡ, cưu mang bọn em…”, A phân bua.

“Im ngay. Bọn “ló” tốt với mày vì muốn tiếp cận tao. Tao là sư phụ của mày, đệ tử mà đòi khôn hơn sư phụ hả? Tao có tài liệu mật hết đây “lày”, bọn “ló” là Tổng cục 2 hết đấy”. Hiếu Gió dứt lời, nghe giọng A run rẩy, nói lí nhí câu gì nghe không rõ.

Trước mặt Hiếu Gió, bản thảo “Trương Duy Nhất – Con Dê Tế Thần” vẫn đang còn dở dang, nếu không có Trương Duy Nhất thì những chi tiết giả tưởng, giật gân sẽ chẳng còn ai đọc. Nhìn lên facebook, thấy lượt like hôm nay giảm hơn hôm qua, lòng Hiếu đau đớn, ruột gan như thắt lại. Bỗng một ý tưởng mới lóe lên, Hiếu lúi cúi vào google tìm kiếm hình ảnh Cao Lâm, Kami, Huân, Sương… Tết sắp đến, lòng Hiếu còn vui hơn cả tết vì anh ta đã có đề tài mới để câu like, cảm giác thật sung sướng biết chừng nào.

Trong khi đó, Nhất lặng lẽ nhấp ngụm cà – phê ngon tuyệt trong quán Holly, nhìn ngắm khung cảnh náo nhiệt trong trung tâm mua sắm Future Park một ngày cuối tuần. Lần đầu tiên sau hơn hai tháng lẩn trốn, lòng anh bình yên và nhẹ nhõm.

Đó cũng là lần cuối cùng người ta thấy Trương Duy Nhất xuất hiện. Không ai biết anh đi đâu, có người bảo anh bắt xe sang Lào, có kẻ lại nói anh đang bị giam ở B14./


Châu Thái
TTHN

Bộ Công Thương tìm hướng "cứu" dự án nhiệt điện 41.000 tỷ


Theo tin từ Bộ Công Thương, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh đã có phương án trong tháng 3/2019 sẽ cử một Đoàn công tác của Bộ về Thái Bình làm việc về các nội dung liên quan đến Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình.

Nhiệt điện Thái Bình 2 có tổng đầu tư lên tới 41.000 tỷ đồng.

Theo Bộ trưởng, đây là một dự án lớn, có công suất 1.200 MW. Dự án này do Tập đoàn Dầu khí Quốc gia (PetroVietnam) làm chủ đầu tư, hiện mới đạt khoảng 83% khối lượng, tiến độ.

Bộ trưởng nhấn mạnh: "Không có lí do gì mà chúng ta lại để thất thoát tài sản, thất thoát nguồn lực đầu tư lớn như vậy, nhất là khi Dự án có điều kiện để hoàn thành". Để khắc phục, Bộ trưởng cho rằng cần sự phối hợp với Ủy ban Quản lý vốn tại doanh nghiệp, với các Bộ, ngành liên quan và địa phương.

Nhiệt điện Thái Bình 2 có tổng vốn đầu tư 41.000 tỷ đồng (tương đương 1,827 tỷ USD) sau nhiều lần điều chỉnh. Dự có quy mô công suất 2x600MW thuộc Trung tâm điện lực Thái Bình, được xây dựng tại Mỹ Lộc, Thái Thuỵ, Thái Bình, phê duyệt tại Quyết định 5844 ngày 2/7/2010 do Tổng công ty Xây lắp dầu khí (PVC ) làm tổng thầu EPC.

Liên quan đến siêu dự án này, Bộ Công Thương cũng có văn bản gửi Thủ tướng Chính phủ cho biết hiện tại, dự án đã giải ngân được trên 31.200 tỷ đồng đạt khoản 82%. Tuy nhiên, đến năm 2020 dự án này mới có khả năng hoàn thành (kế hoạch vận hành tổ máy số 1 vào năm 2017, tổ máy 2 vào năm 2018). Như vậy, dự án Nhiệt điện Thái Bình 2 đã chậm tiến độ 55-57 tháng.

Báo cáo của Petro Vietnam cho biết, đến giữa tháng 10/2018 tiến độ tổng thể của dự án đạt 82,78%. Một số tồn tại vướng mắc chính của dự án được chỉ ra như PVC chưa có kinh nghiệm làm tổng thầu EPC nhà máy nhiệt điện than, năng lực tài chính của PVC kém, không đảm bảo khả năng thanh toán cho các công việc đã hoàn thành và tạm ứng cho các hợp đồng đã ký với nhà thầu phụ.

Việc PVC sử dụng tiền tạm ứng của dự án 1.115 tỷ đồng vào mục đích khác đã làm thiếu hụt nguồn tiền thực hiện dự án. Theo báo cáo của Petro Vietnam, dự kiến đến khi hoàn thành dự án, tổng thầu PVC sẽ bị thiếu hụt khoảng 55,18 triệu USD và 1.095 tỷ đồng so với giá trị Hợp đồng EPC được ký điều chỉnh sau khi tổng mức đầu tư được điều chỉnh lần 2 được duyệt.

Petro Vietnam còn khó khăn trong thu xếp vốn còn thiếu, đến nay nhiều thiết bị chưa đưa vào sử dụng nhưng đã bị quá thời hạn bảo hành của nhà sản xuất/nhà chế tạo. Việc dự án tiếp tục chậm tiến độ sẽ dẫn đến tăng rủi ro liên quan đến chất lượng thiết bị đã quá thời hạn bảo hành của nhà sản xuất/nhà chế tạo.

"Dự án có quy mô lớn, nếu không sớm thực hiện, hoàn thành sẽ dẫn đến phát sinh chi phí và gây thiệt hại lớn về kinh tế, ảnh hưởng tới việc đảm bảo cung cấp điện và tạo dư luận không tốt. Tổng thầu PVC thiếu kinh nghiệm, năng lực tài chính hạn chế, không có đủ vốn lưu động để đảm bảo dòng tiền thực hiện dự án…", Bộ Công Thương nhận định





Petro Vietnam lại kiến nghị “giải cứu” dự án nhiệt điện 41.000 tỷ
Hiện tại, dự án đã giải ngân được trên 31.200 tỷ đồng nhưng đang chậm tiến độ khoảng 55 - 57 tháng...


Bộ Công Thương vừa có văn bản gửi Thủ tướng Chính phủ liên quan đến các kiến nghị của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petro Vietnam) đối với dự án nhiệt điện Thái Bình 2. Đây là dự án do Petro Vietnam là chủ đầu tư với tổng vốn đầu tư lên tới 41.000 tỷ đồng (tương đương 1,827 tỷ USD) sau nhiều lần điều chỉnh.

Dự có quy mô công suất 2x600MW thuộc Trung tâm điện lực Thái Bình, được xây dựng tại Mỹ Lộc, Thái Thuỵ, Thái Bình, phê duyệt tại Quyết định 5844 ngày 2/7/2010 do Tổng công ty Xây lắp dầu khí (PVC ) làm tổng thầu EPC.

Thiếu vốn, chậm tiến độ 55-57 tháng

Hiện tại, dự án đã giải ngân được trên 31.200 tỷ đồng đạt khoản 82%. Theo Petro Vietnam, đến năm 2020 dự án này mới có khả năng hoàn thành và mặc dù vậy, với mốc mới này (kế hoạch vận hành tổ máy số 1 vào năm 2017, tổ máy 2 vào năm 2018), dự án Nhiệt điện Thái Bình 2 đã chậm tiến độ 55-57 tháng.

Báo cáo của Petro Vietnam cho biết, đến giữa tháng 10/2018 tiến độ tổng thể của dự án đạt 82,78%.

Một số tồn tại vướng mắc chính của dự án được chỉ ra như PVC chưa có kinh nghiệm làm tổng thầu EPC nhà máy nhiệt điện than, năng lực tài chính của PVC kém, không đảm bảo khả năng thanh toán cho các công việc đã hoàn thành và tạm ứng cho các hợp đồng đã ký với nhà thầu phụ.

Việc PVC sử dụng tiền tạm ứng của dự án 1.115 tỷ đồng vào mục đích khác đã làm thiếu hụt nguồn tiền thực hiện dự án.

Theo báo cáo của Petro Vietnam, dự kiến đến khi hoàn thành dự án, tổng thầu PVC sẽ bị thiếu hụt khoảng 55,18 triệu USD và 1.095 tỷ đồng so với giá trị Hợp đồng EPC được ký điều chỉnh sau khi tổng mức đầu tư được điều chỉnh lần 2 được duyệt.

Petro Vietnam còn khó khăn trong thu xếp vốn còn thiếu, đến nay nhiều thiết bị chưa đưa vào sử dụng nhưng đã bị quá thời hạn bảo hành của nhà sản xuất/nhà chế tạo. Việc dự án tiếp tục chậm tiến độ sẽ dẫn đến tăng rủi ro liên quan đến chất lượng thiết bị đã quá thời hạn bảo hành của nhà sản xuất/nhà chế tạo.

"Dự án có quy mô lớn, nếu không sớm thực hiện, hoàn thành sẽ dẫn đến phát sinh chi phí và gây thiệt hại lớn về kinh tế, ảnh hưởng tới việc đảm bảo cung cấp điện và tạo dư luận không tốt. Tổng thầu PVC thiếu kinh nghiệm, năng lực tài chính hạn chế, không có đủ vốn lưu động để đảm bảo dòng tiền thực hiện dự án…", Bộ Công Thương nhận định

"Giải cứu" nhiệt điện 41.000 tỷ bằng cách nào?

Để "giải cứu" dự án Nhiệt điện Thái Bình 2, Petro Vietnam kiến nghị lên Bộ Công Thương cho phép sử dụng khoảng 2.500 tỷ đồng từ nguồn chi phí dự phòng trong tổng mức đầu tư điều chỉnh lần 2 và lợi nhuận từ nguồn sản xuất kinh doanh của Tập đoàn để tập trung nguồn lực hoàn thành dự án. Chi phí này sẽ được kiểm toán, quyết toán riêng.

Bộ Công Thương phản hồi lại rằng, Petro Vietnam cần báo cáo rõ nguồn vốn sử dụng, mục đích sử dụng cụ thể và có đánh giá tổng thể liên quan đến dự án cũng như các nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên theo hợp đồng EPC, nội dung liên quan đến quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại tập đoàn cần được Uỷ ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp xem xét.

Petro Vietnam cũng kiến nghị cho phép điều chỉnh tiến độ dự án hoàn thành dự án tháng 6/2020 (tổ máy 1) và tháng 10/2020 (tổ máy 2), vấn đề này ý kiến của đoàn công tác liên ngành là Petro Vietnam cần rà soát, cập nhật lại tiến độ, việc xác định lại tiến độ hoàn thành dự án không miễn trừ các nghĩa vụ, trách nhiệm của chủ đầu tư, của PVC theo hợp đồng EPC đã ký và theo quy định pháp luật.

Petro Vietnam kiến nghị cho phép miễn phạt hợp đồng với điều kiện PVC nỗ lực tối đa hoàn thành dự án theo tiến độ điều chỉnh đã cam kết, đoàn công tác Bộ Công Thương cho rằng, việc phạt chậm tiến độ có ảnh hưởng đến quyền lợi, trách nhiệm của tập đoàn do đó đề nghị Petro Vietnam phải báo cáo Uỷ ban quản lý vốn xem xét.

Đối với một số kiến nghị khác như cơ chế, các khoản vay đầu tư dự án, số dư tàu khoản uỷ thác của Tập đoàn (khoảng 955 tỷ đồng), chi phí quản lý của tổng thầu… đoàn công tác của Bộ Công Thương cho rằng Petro Vietnam phải báo cáo Uỷ ban Quản lý vốn nhà nước để giải quyết.

Hiên Petro Vietnam đã được Bộ Công Thương chuyển giao về Uỷ ban Quản lý vốn Nhà nước quản lý.


Bạch Dương | Bạch Huệ
VnEconomy

Chính sách liên minh của Mỹ: Quá khứ, hiện tại và tương lai


Một trong những hòn đá tảng của bá quyền Mỹ là hệ thống liên minh toàn cầu bao phủ khắp các châu lục và đại dương. Tuy nhiên, công trình an ninh đồ sộ này không phải là sản phẩm của một “bản vẽ ” lớn mà xuất phát từ một loạt các quyết định tình thế nhằm đối phó với các mối đe doạ khác nhau, đặc biệt trong thời kỳ đầu của Chiến tranh Lạnh. Kết quả là một cấu trúc liên minh phức tạp với nhiều mảnh ghép khác biệt. Bài viết này sẽ phân tích ba đặc điểm chủ đạo trong chính sách liên minh của Mỹ và đánh giá triển vọng của hệ thống liên minh này trước sự trỗi dậy của Trung Quốc, từ đó rút ra hàm ý chính sách cho Việt Nam.

Chính sách liên minh của Mỹ: Quá khứ, hiện tại và tương lai

Hệ thống liên minh quân sự toàn cầu mà nhiều thế hệ lãnh đạo người Mỹ dày công xây dựng từ lâu đã trở thành một trong những trụ cột chính yếu của trật tự thế giới tự do cũng như đại chiến lược Mỹ.[1] Mạng lưới căn cứ quân sự và đồng minh toả khắp năm châu là nền tảng vững chắc cho sức mạnh Mỹ, cho phép nước này triển khai sức mạnh quân sự tới bất kỳ nơi nào trên thế giới chỉ trong vỏn vẹn một giờ đồng hồ.[2] Không có các đồng minh, Mỹ không thể duy trì được ưu thế áp đảo quân sự cũng như sức ảnh hưởng chính trị ở tất cả các khu vực trọng yếu cùng lúc. Vì vậy, Tổng thống Trump dù đã nhiều lần đe doạ rút khỏi các cam kết an ninh của Mỹ nhưng đến nay vẫn duy trì các mối quan hệ đồng minh đã được thiết lập.[3]

Công trình an ninh đồ sộ này là sản phẩm của cả một quá trình kiến thiết lâu dài qua nhiều thời kỳ khác nhau. Trên thực tế, hệ thống liên minh Mỹ không phải là tác phẩm của một “bản vẽ” (blueprint) mà xuất phát từ một loạt các quyết định tình thế nhằm đối phó với nhiều mối đe doạ khác nhau, đặc biệt trong thời kỳ đầu của Chiến tranh Lạnh. Vì vậy, hệ thống liên minh Mỹ chưa bao giờ là một khối đồng nhất mà là một hệ thống phức tạp với nhiều mảnh ghép khác biệt, có giá trị không tương đồng. Bài viết này do đó sẽ phân tích ba đặc điểm chủ đạo của chính sách liên minh Mỹ và đánh giá triển vọng của hệ thống liên minh này trước sự trỗi dậy của Trung Quốc, từ đó rút ra hàm ý chính sách cho Việt Nam.

Lược sử quá trình hình thành hệ thống liên minh quân sự Mỹ

Từ khi giành độc lập vào năm 1776 cho đến khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, nước Mỹ về cơ bản đã theo đuổi đường lối đối ngoại “biệt lập” (isolationist).[4] Mặc dù mức độ can dự quốc tế của Mỹ tăng dần theo thời gian cùng sự phát triển về tiềm lực quốc gia nhưng chỉ sau năm 1945 các nhà lãnh đạo Mỹ mới đi đến kết luận rằng được bao bọc bởi hai đại dương vẫn không đủ để bảo vệ nước Mỹ khỏi các mối đe doạ từ bên ngoài. Do đó, trong khi xây dựng liên minh để tạo cân bằng quyền lực từ lâu đã là nét đặc trưng của chính trị cường quyền Châu Âu[5] thì mãi đến khi Chiến tranh Lạnh nổ ra Mỹ mới lần đầu tiên tham gia vào liên minh quân sự trong thời bình.[6]

Nhìn lại Chiến tranh Lạnh, các nhà quan sát đương thời sẽ dễ lầm tưởng rằng các liên minh quân sự mà Mỹ thiết lập trong thời kỳ này chỉ đơn thuần là những mảnh ghép khác nhau của cùng một hệ thống được “thiết kế” duy chỉ để kiềm chế Liên Xô toàn diện. Mặc dù một trong các mục tiêu của những liên minh quân sự mà Mỹ tạo ra là kiềm chế Liên Xô, song không phải liên minh nào cũng lấy việc kiềm chế Liên Xô làm mục tiêu chủ đạo. Trên thực tế, hệ thống liên minh toàn cầu này được cấu thành từ một loạt các quyết định tình thế với các lôgic riêng biệt để đối phó với những mối đe dọa khác nhau; kiềm chế Liên Xô nhiều khi chỉ là mục tiêu phụ.

Hiệp ước tương hỗ Liên Mỹ Châu (còn gọi là Hiệp ước Rio) được ký kết năm 1947[7] trong bối cảnh quan hệ Mỹ – Xô đã trở nên rất căng thẳng và Mỹ bắt đầu lo ngại trước sự xâm nhập của Liên Xô vào sân sau của mình. Do khoảng cách địa lý, các quốc gia Mỹ – Latinh không đối mặt với mối đe doạ quân sự lớn như các quốc gia nằm cạnh “Bức màn Sắt”. Không có tính chất hợp tác quốc phòng chặt chẽ như NATO, khối Rio ngay từ đầu đã được xem như một sự thiết chế hóa của Học thuyết Monroe hơn là một liên minh quân sự thuần tuý.[8]

Khối NATO (1949) được thiết lập trên hết để ngăn ngừa quân đội Liên Xô tấn công xâm lược Tây Âu. Tuy Mỹ từ lâu đã là lãnh đạo của khối NATO nhưng trên thực tế NATO không phải là sáng kiến của Mỹ mà là của các nước Tây Âu. Không những vậy, nhà ngoại giao kỳ cựu George Kennan – cha đẻ của chiến lược kiềm chế (containment) khi đó còn lên tiếng phản đối NATO mạnh mẽ.[9] Chỉ sau nhiều biến cố ở khu vực này, bao gồm cả sự kiện Berlin bị phong toả thì Mỹ mới đồng ý tham gia vào liên minh này.[10]

Không có tính ràng buộc chặt chẽ và thậm chí không phải là một hiệp ước phòng thủ chung (mutual defense treaty) đúng nghĩa[11], khối Liên minh Trung Đông (CENTO) ở Trung Đông được thành lập năm 1955 phần để giúp Anh Quốc duy trì sức ảnh hưởng với các nước thuộc địa cũ, phần để Mỹ ngăn Liên Xô gây ảnh hưởng tại khu vực giàu tài nguyên chiến lược này.

Ở Đông Á, các liên minh của Mỹ cũng phục vụ nhiều mục đích khác nhau. Nếu như các liên minh song phương Mỹ – Nhật (1951), Mỹ – Hàn (1953) xuất phát từ nhu cầu bình ổn bán đảo Triều Tiên sau khi chiến tranh nổ ra thì liên minh Mỹ – Đài (1954) lại là biện pháp răn đe Trung Quốc, vốn nuôi ý định dùng vũ lực chiếm lại Đài Loan sau khi Nội chiến Trung Quốc kết thúc. Bên cạnh đó những liên minh này cũng được Mỹ sử dụng như công cụ để kiểm soát chính sách đối ngoại của các đồng minh, tránh trường hợp những nước này lôi kéo Mỹ vào những xung đột ngoài ý muốn.[12]

Trong khi đó, những thập niên 1950 là thời kỳ thuyết domino[13] đặc biệt có ảnh hưởng trong giới lãnh đạo Mỹ. Washington khi đó lo rằng chỉ cần một nước Đông Nam Á theo chủ nghĩa cộng sản, làn sóng đỏ sẽ mau chóng nhấn chìm khu vực này nếu không có sự can thiệp của Mỹ. SEATO vì vậy được thành lập vào năm 1954 không chỉ để răn đe các cuộc tấn công quân sự chính quy trong khu vực mà còn để chống lại sự phá hoại chính trị trong nội bộ các nước thành viên của khối.[14]

Quá trình hình thành hệ thống liên minh toàn cầu Mỹ cho cấu trúc an ninh này phát triển từ từ một cách tự nhiên và có một số đặc điểm như sau. Thứ nhất, các liên minh của Mỹ chia làm hai dạng rõ rệt: liên minh chính thức (formal alliance) được thành lập theo hiệp ước quốc tế và liên minh không chính thức (informal alliance) không có hiệp ước liên minh. Thứ hai, trong khi một số liên minh của Mỹ ở Châu Á là liên minh song phương thì số còn lại đều là các liên minh đa phương. Cuối cùng, các liên minh quân sự của Mỹ không có giá trị ngang bằng nhau, tức cam kết của Mỹ đối với an ninh của một số đồng minh rõ ràng và chặt chẽ hơn một số cam kết khác. Đây là những đặc điểm mấu chốt của hệ thống liên minh Mỹ bởi những đặc điểm này không phổ biến đối với các liên minh khác và có ảnh hưởng rất lớn đối với an ninh của Mỹ và các đồng minh. Trong phần tiếp theo, tác giả sẽ phân tích sâu hơn những đặc điểm này, từ đó đánh giá triển vọng của hệ thống trước sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Liên minh: chính thức và không chính thức

Ở mức độ cơ bản nhất, liên minh quân sự là một cam kết hợp tác an ninh giữa ít nhất hai quốc gia.[15] Theo giới học thuật, những cam kết này có thể tồn tại dưới hai dạng cơ bản: chính thức hoặc không chính thức. Trong một liên minh chính thức, các điều khoản quy định nội dung hợp tác quốc phòng giữa các nước thành viên sẽ được soạn thành một bản hiệp định quốc tế có tính ràng buộc pháp lý.[16] Vì vậy, việc không thực hiện đúng các cam kết đã được nêu ra trong hiệp ước liên minh không những vi phạm luật quốc tế mà còn có thể gây tổn thất nặng nề về mặt uy tín. Hơn nữa, trong trường hợp của Mỹ, tất cả các hiệp định quốc tế được ký kết phải được Thượng Viện phê chuẩn trước khi có hiệu lực. Điều này gửi đi tín hiệu rằng bất kỳ liên minh chính thức nào của Mỹ đều nhận được sự ủng hộ lớn từ lưỡng đảng. Tất cả những yếu tố này giúp giảm thiểu khả năng Mỹ phản bội một đồng minh chính thức.

Liên minh không chính thức thường không có tính ràng buộc cao bằng liên minh chính thức bởi nó thường dựa vào những sự hiểu biết ngầm giữa hai bên hoặc các thoả thuận trong biên bản ghi nhớ. Các tổng thống Mỹ có thể sử dụng các bài diễn văn cùng các hợp đồng chuyển nhượng hay bán vũ khí để thể hiện cam kết của mình đối với an ninh của các đồng minh không chính thức như Israel hay Đài Loan. Tuy nhiên, do không có hiệp ước quốc tế ràng buộc các bên nên các thành viên của một liên minh không chính thức không có nghĩa vụ phải hỗ trợ nước đồng minh bị tấn công. Do đó, cái giá của việc phản bội một đồng minh không chính thức nhìn chung sẽ nhỏ hơn việc phản bội một đồng minh chính thức.

Ngoài các đồng minh chính thức, Mỹ duy trì mối quan hệ đồng minh không chính thức với một số nước như Ả Rập Xêut, Bahrain, Đài Loan, Israel, Pakistan, v.v…[17] Câu hỏi đặt ra là, dù vô tình hay hữu ý, tại sao các đồng minh của Mỹ lại được “chia” thành hai nhóm như vậy, nhất là khi điều này có thể sẽ khiến các đối thủ của Mỹ nghi ngờ cam kết của Washington đối với an ninh của những nước không thuộc nhóm đồng minh chính thức.

Một nghiên cứu mới đây cho thấy rằng yếu tố chính quyết định việc Mỹ có thiết lập quan hệ đồng minh chính thức hay không là mức độ tương đồng trong lợi ích. Một nước vừa có nhiều lợi ích tương đồng với Mỹ, vừa thiếu năng lực tự vệ trước các mối đe dọa an ninh sẽ vừa nhận được cam kết an ninh từ Mỹ, vừa được hỗ trợ về mặt khí tài quân sự.[18] Tuy nhiên, luận điểm này chưa hẳn thuyết phục bởi so với liên minh Mỹ – Israel thì khối Rio rõ ràng có sợi dây liên kết lỏng lẻo hơn. Khó có thể nói rằng một nước như Uruguay lại có mức độ song trùng lợi ích với Mỹ lớn hơn là Israel. Mặc dù vậy, trên thực tế Uruguay mới là nước đồng minh chính thức của Mỹ chứ không phải là Israel.[19]

Bên cạnh đó, cũng không thể loại trừ khả năng Mỹ chỉ ký hiệp ước đồng minh chính thức với những nước họ cho rằng có ít khả năng tự phát động chiến tranh. Là một cường quốc hạt nhân với vị trí địa – chính trị “trời cho”, mối lo ngại lớn nhất đối với Mỹ là phải tham gia vào những cuộc chiến phi nghĩa, không phục vụ lợi ích sát sườn. Do đó, sẽ dễ hiểu nếu Mỹ không muốn có quan hệ đồng minh quá thân thiết với những nước bị cho là có tiềm năng lôi kéo Mỹ vào những cuộc chiến ngoài ý muốn. Mặt khác, một trong những công cụ giúp Mỹ kiềm chế nước khác hữu hiệu nhất chính là một liên minh chặt chẽ. Nhật Bản và Hàn Quốc đến nay vẫn chưa phát triển vũ khí hạt nhân một phần vì liên minh với Mỹ.[20] Hơn nữa, Tổng thống Hàn Quốc Syngman Rhee trước đây tuy muốn sử dụng vũ lực để thống nhất Bán đảo Triều Tiên song cũng do sức ép của Mỹ nên từ bỏ ý định này.[21]

Một trong những điểm đáng chú ý của quá trình hình thành hệ thống liên minh Mỹ đó là tất cả các liên minh chính thức đều được thành lập trong vòng khoảng một thập niên đầu của Chiến tranh Lạnh. Hiệp ước liên minh chính thức mà Mỹ ký kết là Hiệp ước Rio pact (1947) và hiệp ước cuối cùng là Hiệp ước phòng thủ chung Mỹ – Nhật (1960). Kể từ năm 1960 cho đến nay, Mỹ chỉ thiết lập thêm quan hệ đồng minh chính thức thông qua khối NATO chứ không xây dựng bất kỳ liên minh chính thức mới nào. Do đó một giả thiết tiềm năng khác là những liên minh chính thức của Mỹ hiện nay là sản phẩm của một giai đoạn lịch sử đặc biệt.

Sau khi Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, Mỹ trở thành cường quốc hùng mạnh nhất. Với bộ máy công nghiệp khổng lồ và tài nguyên dồi dào cùng quyết tâm to lớn, Liên Xô đã nhanh chóng thu hẹp khoảng cách giữa hai siêu cường. Tuy nhiên kể cả khi Liên Xô mạnh nhất thì họ vẫn chưa bao giờ có thể trực tiếp đe doạ được an ninh của Mỹ, trừ khi phát động chiến tranh hạt nhân. Do đó, mối hiểm hoạ lớn nhất trong mắt các lãnh đạo Mỹ là việc Liên Xô đẩy mạnh làn sóng cộng sản và thu phục các quốc gia trọng yếu về phe mình. Trong bối cảnh đó, có thể xem các liên minh chính thức như các “chốt chặn” giúp khoá chặt ảnh hưởng của Mỹ ở các “nước chiến trường”.[22]

Một khi đã trở thành đồng minh chính thức của Mỹ, những nước này sẽ nhận được sự hỗ trợ đáng kể về mặt kinh tế – quân sự nhưng cũng chịu sự chi phối về mặt chính sách rất lớn bởi Washington. Hơn nữa, khi đã trở thành đồng minh chính thức của Mỹ, các nước này sẽ không còn lựa chọn đi theo Liên Xô dù muốn đi chăng nữa. Bằng chuỗi liên minh chính thức này, Mỹ vô hình trung thiết lập một vành đai liên minh để ngăn không cho ảnh hưởng của Liên Xô và chủ nghĩa cộng sản lan rộng. Sau khi đã hoàn thành vành đai an ninh này, Mỹ không còn nhu cầu tìm kiếm thêm đồng minh chính thức nữa bởi những nước trọng yếu nhất và dễ bị Liên Xô tấn công hoặc thu phục nhất đã nằm dưới sự kiểm soát của Mỹ. Nếu điều này đúng thì nhiều khả năng Mỹ sẽ chỉ thiết lập thêm các liên minh chính thức mới nếu cạnh tranh Mỹ – Trung trở nên đặc biệt gay gắt giống như cạnh tranh Mỹ – Xô trong Chiến tranh Lạnh trước đây và kể cả khi đó thì Mỹ cũng sẽ chỉ chấp nhận quan hệ đồng minh chính thức với những nước vừa có vị trí địa – chính trị quan trọng, vừa có khả năng ngả theo Trung Quốc chống lại Mỹ.

Song phương và đa phương: hai hình thái, nhiều câu trả lời

Một trong những câu hỏi lớn nhất về liên minh Mỹ là tại sao Mỹ lại chọn hình thái liên minh song phương ở Đông Á trong khi các liên minh ở những khu vực còn lại như Tây Âu hay Đông Nam Á đều là liên minh đa phương. Nói cách khác, tại sao không có một NATO ở khu vực Đông Á? Cho đến thời điểm này, giới học thuật đã đưa ra một vài cách lý giải khác nhau cho bài toán hóc búa này như sau.

Thứ nhất, yếu tố địa – chính trị ngăn cản việc Mỹ thiết lập liên minh đa phương ở Châu Á. Ở Châu Âu, Mỹ có sẵn các đồng minh truyền thống và trục đối đầu Đông – Tây với Berlin làm tâm điểm trở nên rất rõ ràng sau khi Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc. Trong khi đó ở Đông Á, Mỹ không có bất kỳ đồng minh nào và với đặc điểm địa lý của mình, Đông Á không có một “bức màn sắt” nào rõ ràng chia cắt hai khối đối đầu. Do đó, Mỹ không có điều kiện thuận lợi để thiết lập một liên minh đa phương.

Thứ hai, theo hai học giả Christopher Hemmer và Peter Katzenstein, Mỹ chọn hình thái đa phương ở Châu Âu nhưng lại song phương ở Đông Á bởi sự song trùng về giá trị dân chủ và tôn giáo cùng sự gần gũi về mặt sắc tộc.[23] Cụ thể hơn, trong khối NATO, các quốc gia thành viên đều là các nước “da trắng” và đều là các nước dân chủ – tư bản. Điều này khiến các nhà hoạch định chính sách Mỹ cảm thấy Mỹ và các đồng minh Tây Âu – Bắc Mỹ cùng là một bộ phận của cộng đồng Đại Tây Dương, trong khi đó nhìn nhận châu Á như một cộng đồng chính trị xa lạ. Đây là những yếu tố quan trọng cho các đồng minh hoà hợp trong một liên minh. Vì vậy Mỹ chọn phương án song phương với các quốc gia Đông Á.

Một quan điểm thứ ba lại cho rằng Mỹ chọn liên minh song phương ở Đông Á trước hết để “trói tay” các đồng minh được cho là có thể theo đuổi chính sách đối ngoại liều lĩnh. Dù Nhật Bản đã bị đánh bại nhưng bản thân Mỹ và các quốc gia láng giềng của Nhật Bản đều lo rằng nước này có thể tái vũ trang và trả thù cho sự thất bại trong cuộc Thế Chiến. Trên Bán đảo Triều Tiên, Mỹ biết rằng Tổng thống Syngman Rhee có ý định phát động chiến tranh xâm lược Bắc Triều Tiên để thống nhất đất nước. Tương tự như vậy, Đài Loan dưới thời Tưởng Giới Thạch vẫn nuôi mộng chiếm lại Trung Hoa đại lục và thậm chí đã lên bảng biểu rõ ràng cho một cuộc tấn công xâm lược qua eo biển Đài Loan.[24] Theo cách giải thích này, Mỹ chọn liên minh song phương với những nước trên để tối đa hoá sức mặc cả với các đồng minh, ngăn các đồng minh này đẩy Mỹ vào thế buộc phải dấn thân vào những cuộc chiến ngoài ý muốn.

Những cách lý giải này tuy có những điểm hợp lý nhất định nhưng nhìn chung không đủ sức thuyết phục. Thứ nhất, luận điểm dựa trên yếu tố địa – chính trị mang tính không giải thích được tại sao Mỹ lại theo đuổi liên minh đa phương ở Tây Bán Cầu (khối Rio), ở Trung Đông (khối CENTO) và ở Đông Nam Á (khối SEATO). Tương tự, nếu vấn đề gần gũi về mặt sắc tộc hay giá trị mang tính quyết định thì việc Mỹ thiết lập các liên minh đa phương ở những khu vực nêu trên là bất hợp lý. Cuối cùng, tuy không thể phủ nhận được giá trị của liên minh trong việc “trói tay” các đồng minh nhưng không có lý do gì để tin rằng liên minh song phương luôn thực hiện mục tiêu này tốt hơn liên minh đa phương. Trong một liên minh đa phương, một nước “liều lĩnh” như Hàn Quốc dưới thời Syngman Rhee sẽ không những vấp phải sự phản đối của Mỹ mà còn của các đồng minh khác trong khối vì không nước nào muốn tham chiến khi không có lợi ích sát sườn bị đe dọa. Do đó thậm chí có thể lập luận rằng liên minh đa phương sẽ đạt được mục tiêu kiềm chế đồng minh tốt hơn đa phương.

Câu trả lời hợp lý hơn cả là hình thái liên minh sẽ phụ thuộc vào bản chất của mối đe dọa đối với các đồng minh. Ở các khu vực Mỹ thiết lập liên minh đa phương, mối đe dọa chủ yếu đến từ một nơi duy nhất là Liên Xô. Khi các đồng minh cùng chia sẻ cùng đối mặt với một mối đe dọa, việc phối hợp ngang sẽ trở nên đặc biệt trọng yếu để đảm bảo không có mắt xích nào trong liên minh dễ bị thao túng. Hình thái đa phương là phù hợp nhất đối với mục tiêu phối hợp ngang giữa các đồng minh có chia sẻ cùng một mối đe dọa bởi khi đó hiệu suất phối hợp sẽ cao hơn.

Ngược lại, khi mỗi đồng minh đối mặt với một mối đe dọa riêng, ưu tiên cao nhất không phải là phối hợp ngang mà là đưa ra được giải pháp nhanh gọn và hiệu quả nhất trong mọi tình huống. Một liên minh đa phương có nhiều thành viên nên sẽ có nhiều điểm phủ quyết (veto point), hệ quả là quá trình ra quyết sách sẽ dễ bế tắc và thiếu hiệu quả hơn. Cách tiếp cận này giải thích hợp lý sự hình thành của các liên minh của Mỹ tại châu Á vào những năm 1950. Vào thời điểm đó, Đài Loan lo ngại nhất sự tấn công quân sự của Trung Quốc qua eo biển Đài Loan; Hàn Quốc lại chỉ bận tâm tới mối đe dọa quân sự từ Bắc Triều Tiên. Hơn nữa, tại thời điểm đó cả hai nước trên đều còn nhiều ác cảm với Nhật Bản. Trong trường hợp đó, phương án đa phương gần như không khả thi và vì vậy, lựa chọn liên minh song phương với từng đồng minh là phù hợp với nhu cầu và tình thế của Mỹ ở Đông Á hơn cả.

Hơn nữa, cách tiếp cận này cũng làm rõ nguyên nhân hình thành và giải tán của Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO). Năm 1954, SEATO ra đời trong bối cảnh khối xã hội chủ nghĩa mở rộng ở Đông Nam Á. Các nước Đông Nam Á cùng có chung thách thức an ninh từ chủ nghĩa cộng sản. Do đó, hình thức liên minh đa phương là hình thái hợp lý để đối phó với cùng một mối đe doạ. Năm 1977, mặc dù khối xã hội chủ nghĩa mở rộng thêm ở Đông Nam Á, nhưng làn sóng cộng sản đã không xảy ra theo kiểu domino. Thời điểm này, Mỹ không còn e ngại nhiều về sự gia tăng của chủ nghĩa cộng sản: hoà hoãn với Liên Xô, bắt đầu quá trình bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc, và không cản trở Việt Nam gia nhập Liên Hợp Quốc. Do đó, SEATO mất mối đe doạ chung, vì vậy các đồng minh và Mỹ cũng mất lý do chính để tồn tại.

Cam kết an ninh: không phải liên minh nào cũng “bình đẳng” như nhau

Bất kể liên minh nào cũng là một sự hợp tác quân sự giữa các nước tham gia nhưng không phải vì vậy mà tất cả các liên minh đều giống nhau. Trên lý thuyết, các liên minh có thể được chia ra làm năm dạng cơ bản[25]. Liên minh phòng thủ yêu cầu các đồng minh phải bảo vệ lẫn nhau trong trường hợp bất kỳ thành viên nào bị tấn công. Liên minh tấn công buộc các thành viên hỗ trợ đồng minh của mình trong cả trường hợp đồng minh chủ động sử dụng vũ lực tấn công nước khác. Trong khi đó, dạng liên minh thứ ba – liên minh tham vấn (consultation pact) chỉ yêu cầu các nước đồng minh trao đổi, tham vấn lẫn nhau trong trường hợp bất kỳ đồng minh nào lâm vào một cuộc khủng hoảng có thể dẫn đến xung đột vũ trang. Yếu hơn chút nữa, liên minh trung lập chỉ yêu cầu các đồng minh cam kết không hỗ trợ bất kỳ bên thứ ba nào khi một trong các đồng minh bị tấn công. Cuối cùng, hình thức liên minh lỏng lẻo nhất là một hiệp ước “bất tương xâm” (non-aggression pact). Ví dụ điển hình là Liên Xô và Đức Quốc Xã ký kết năm 1939. Hai nước ký kết hiệp ước bất tương xâm chỉ cam kết không tấn công lẫn nhau trong thời gian hiệp ước còn giá trị.

Các quốc gia hiểu rằng liên minh quân sự trước hết là công cụ để tập hợp lực lượng và nhìn chung nhằm ngăn ngừa chiến tranh.[26] Nếu như thế, cam kết càng chặt chẽ và rõ ràng thì sức mạnh của liên minh càng lớn và ngược lại. Do đó, để tối đa hóa sức mạnh răn đe, các quốc gia có động lực để chọn hình thức liên minh chặt chẽ nhất với mức độ cao nhất trong mọi trường hợp. Tuy nhiên thực tế cho thấy các quốc gia lựa chọn nhiều hình thức liên minh đa dạng, linh hoạt theo từng tình huống chứ không theo bất kỳ một khuôn mẫu nào. Vì các quốc gia sẽ chọn hình thức liên minh một cách có chủ đích chứ không phải ngẫu nhiên nên chiều sâu của một liên minh sẽ phản ánh tính chất và mức độ gần gũi trong mối quan hệ giữa các đồng minh.

Như đã phân tích ở trên, các liên minh của Mỹ có thể chia thành hai nhóm: liên minh chính thức và không chính thức. Sự phân chia này không nhất thiết dẫn đến kết luận rằng tất cả các đồng minh chính thức của Mỹ đều quan trọng hơn các đồng minh không chính thức bởi luôn có những trường hợp ngoại lệ như Israel hay Đài Loan. Tuy nhiên, nhìn chung thì khó có thể đặt Bahrain hay Singapore ngang tầm với Hàn Quốc hay Đức. Chỉ dấu rõ ràng nhất cho thấy sự khác biệt là số lượng căn cứ quân sự và số lính Mỹ đồn trú trên lãnh thổ của các đồng minh. Ở Hàn Quốc, Mỹ có 15 căn cứ quân sự và ở Đức, Mỹ có tới 21 căn cứ như vậy. Trong khi đó, Mỹ chỉ có 2 căn cứ ở Bahrain và Singapore[27]. Theo ước tính của Trung tâm nghiên cứu Pew, Mỹ có khoảng 34.600 quân lính đồn trú ở Đức và hơn 24.000 lính ở Hàn Quốc. Mỹ không có bất kỳ binh lính nào ở Singapore và ở Bahrain, Mỹ chỉ có khoảng 5.300 lính.[28] Do đó, dù vô tình hay cố ý, Mỹ gửi đi tín hiệu rằng các đồng minh chính thức ở các điểm nóng được coi trọng hơn và ưu tiên hơn so với các đồng minh khác.

Sự phân cấp “ngầm” này không chỉ tồn tại giữa các đồng minh không chính thức và chính thức mà còn tồn tại giữa các liên minh chính thức của Mỹ. Trong mười hiệp ước liên minh mà Mỹ ký kết trong giai đoạn 1947-1960, hiệp ước Baghdad (1955) tạo ra khối CENTO là hiệp ước duy nhất không có điều khoản yêu cầu các thành viên của liên minh phải tham gia vào nỗ lực phòng thủ chung khi bất kỳ đồng minh nào bị tấn công. Đối với các thành viên của CENTO, mức độ cam kết hợp tác quốc phòng bắt buộc chỉ dừng lại ở tham vấn. Trong khi đó, những hiệp ước phòng thủ chung còn lại đều có điều khoản quy định rằng “bất kỳ cuộc tấn công vũ trang nào vào một hay một số thành viên của liên minh đều được coi là một cuộc tấn công vào toàn bộ liên minh”.[29] Vì vậy có thể xem khối CENTO (bị giải thể vào năm 1979) là mắt xích yếu nhất trong chuỗi liên minh toàn cầu của Mỹ trong Chiến tranh Lạnh.

Tuy nhiên điều này không có nghĩa là tất cả các hiệp ước phòng thủ chung của Mỹ đều bao hàm mức độ cam kết như nhau. Ví dụ điển hình và có hàm ý trực tiếp nhất đối với Việt Nam là trường hợp liên minh Mỹ – Nhật và Mỹ – Philippines . Một trong những câu hỏi thu hút nhiều sự chú ý trong thời gian qua là liệu Mỹ có sẵn sàng bảo vệ Nhật Bản và Philippines hay không nếu Trung Quốc dùng vũ lực để chiếm những đảo và đá đang có tranh chấp ở Biển Đông và Hoa Đông. Đây là mối lo ngại lớn của hai đồng minh trên bởi lâu nay Mỹ vẫn duy trì lập trường trung lập trong vấn đề chủ quyền ở những khu vực có tranh chấp trên. Hơn nữa, một cuộc tấn công vào những đảo có tranh chấp nhiều khả năng không đặt ra mối đe doạ nghiêm trọng đối với Mỹ như một cuộc tấn công vào phần lãnh thổ đất liền của Nhật Bản hay Philippines.

Nếu các hiệp ước phòng thủ chung của Mỹ đều có giá trị ngang bằng nhau, Mỹ sẽ bảo vệ các đồng minh như nhau trong các trường hợp giống nhau. Cụ thể hơn, điều này có nghĩa là nếu Mỹ bảo vệ Nhật Bản khi đảo Senkaku bị tấn công thì Mỹ cũng phải bảo vệ Philippines khi bãi cạn Scarborough bị tấn công. Tuy nhiên cho đến giờ, Mỹ mới chỉ công khai khẳng định rằng đảo Senkaku được bảo trợ bởi Hiệp ước an ninh Mỹ – Nhật.[30] Trong khi đó, tại Diễn đàn Shangri-La năm nay, Bộ trưởng quốc phòng James Mattis đã không đưa ra tuyên bố tương tự khi được hỏi về cam kết của Mỹ đối với an ninh của Philippines trong trường hợp tàu chiến hay đảo của nước này ở Biển Đông bị tấn công.[31]

Sự “phân biệt đối xử” rõ rệt của Mỹ trong hai trường hợp không phải là ngẫu nhiên. Nếu như điều khoản số 5 của Hiệp ước an ninh Mỹ – Nhật (1960) nêu rõ rằng bất kỳ cuộc tấn công vũ trang nào đối với một trong hai thành viên trên lãnh thổ dưới sự quản lý (administration) của Nhật Bản là mối đe doạ đối với cả hai thì điều khoản số 5 của Hiệp ước an ninh Mỹ – Philippines (1951) chỉ xem các cuộc tấn công vũ trang trên lãnh thổ thuộc quyền tài phán (jurisdiction) của cả hai ở khu vực Thái Bình Dương là mối đe doạ chung đối với an ninh của cả hai. Hơn ai hết, các nhà lãnh đạo Mỹ hiểu rằng việc giới hạn phạm vi của hiệp ước liên minh sẽ giảm tác dụng răn đe ở khu vực có tranh chấp nhưng họ vẫn chấp nhận sự đánh đổi đó và chủ đích soạn hai bản hiệp ước liên minh với nội dung khác nhau để giảm thiểu khả năng phải tham gia vào một cuộc chiến không đáng có ở Biển Đông.

Những ví dụ trên chứng minh rằng hệ thống liên minh Mỹ không phải là một khối thống nhất mà là sự tổng hoà của nhiều mảnh ghép khác nhau với giá trị không tương đồng. Bởi việc không tôn trọng cam kết bảo vệ đồng minh có thể ảnh hưởng đến uy tín của Mỹ nói chung và uy tín của Mỹ đối với các đồng minh nói riêng, Mỹ vẫn luôn có động lực lớn để bảo vệ các đồng minh khi an ninh của những nước này bị đe doạ. Tuy nhiên không phải đồng minh nào cũng quan trọng như nhau trong mắt các nhà lãnh đạo Mỹ và nếu như vậy, một bản hiệp ước phòng thủ chung với Mỹ chưa chắc đã là một sự bảo đảm tuyệt đối với an ninh của một quốc gia.

Triển vọng liên minh quân sự Mỹ và hàm ý cho Việt Nam

“Nếu có nguyên tắc đối ngoại nào là bất biến ở Washington thì đó là hệ thống liên minh quân sự và trật tự thế giới Mỹ là bất khả xâm phạm.”[32]

Nếu một tổng thống thích và sẵn sàng tạo ra sự xáo trộn lớn như Donald Trump vẫn chấp nhận gò mình vào khuôn khổ liên minh mà các thế hệ lãnh đạo Mỹ đi trước đã dày công xây đắp thì khả năng rất cao là mạng lưới liên minh toàn cầu này vẫn sẽ đứng vững trong thời gian sắp tới. Các đồng minh và hàng trăm căn cứ quân sự toả khắp năm châu sẽ vẫn là bàn đạp để Mỹ thi triển sức mạnh quân sự của mình và kiềm chế các cường quốc có tiềm năng trở thành bá quyền. Vì thế, ngày nào Mỹ vẫn còn đủ sức để duy trì công trình an ninh đồ sộ này, ngày đó liên minh vẫn còn là trụ cột trong chính sách đối ngoại Mỹ.

Tuy nhiên đây cũng là một điểm bất lợi tiềm tàng của Mỹ trong cuộc cạnh tranh chiến lược hiện nay với Trung Quốc, đặc biệt ở khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương. Trong khi Trung Quốc có thể tập trung gần như toàn bộ sức lực của mình cho một mặt trận duy nhất thì hệ thống liên minh toàn cầu buộc Mỹ phải căng trải sự chú ý và nguồn lực cho nhiều khu vực khác nhau.[33] Do đó, Mỹ gần như chắc chắn sẽ phải tiếp tục cạnh tranh với Trung Quốc ở thế thiệt hơn trong một khoảng thời gian rất dài, trừ khi Mỹ suy yếu đến mức bắt buộc phải cắt giảm các cam kết khác để đầu tư cho việc kiềm chế Trung Quốc.

Mặt khác, kể cả những học giả cho rằng Mỹ nên cắt giảm các cam kết toàn cầu và hạn chế can dự vào các vấn đề quốc tế vẫn ủng hộ việc Mỹ duy trì các quan hệ đồng minh ở Đông Á trước một Trung Quốc ngày càng cứng rắn hơn ở Biển Đông.[34] Mặc dù tuyên bố chấm dứt chính sách xoay trục, chiến lược “Ấn Độ – Thái Bình Dương tự do và rộng mở” (FOIP) mà Trump đề xuất có nhiều nét tương đồng với chiến lược của người tiền nhiệm Obama. Các đồng minh vẫn là những hòn đá tảng trong chiến lược FOIP. Và dù là xoay trục hay FOIP, kiềm chế Trung Quốc và đảm bảo tự do hàng hải đồng thời giảm thiểu rủi ro xung đột vũ trang nổ ra ở Biển Đông vẫn là hai mục tiêu song song mà Mỹ kiên trì theo đuổi bấy lâu nay.

Câu hỏi đặt ra là những liên minh Mỹ sẵn có trong khu vực hiện nay liệu đã đủ để giúp Mỹ đạt được hai mục tiêu trên hay chưa. Liệu Mỹ có cần tìm kiếm thêm đồng minh mới để ngăn chặn bước tiến của hải quân Trung Quốc hay không? Trong những năm gần đây, một số nhà quan sát đã lên tiếng kêu gọi việc thành lập một liên minh quân sự Việt – Mỹ để kiềm chế Trung Quốc.[35] Tuy ông Trump đã ngay lặp tức rút ra khỏi Hiệp định TPP sau khi lên nắm quyền nhưng quan hệ hợp tác quốc phòng Việt – Mỹ vẫn có những bước tiến lớn trong thời gian vừa qua với minh chứng rõ ràng nhất là chuyến thăm lịch sử của tàu sân bay USS Carl Vinson tới Đà Nẵng đầu năm nay. Mặc dù vậy, những động thái này không đồng nghĩa với việc hai bên đang tiến đến thiết lập quan hệ đồng minh. Hơn nữa, việc xây dựng liên minh sẽ còn gặp nhiều rào cản đáng kể chừng nào phía Việt Nam còn lấy nguyên tắc quốc phòng “ba không”: (i) không liên minh quân sự, (ii) không cho phép bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ Việt Nam và (iii) không dựa vào nước này để chống nước kia[36], làm kim chỉ nam cho chính sách đối ngoại.

Như đã phân tích ở trên, cách thức mà Mỹ đã phát triển hệ thống liên minh của mình cho thấy nhiều khả năng Mỹ sẽ không tìm kiếm một đồng minh chính thức để đối phó với Trung Quốc trong tương lai gần. Một đồng minh chính thức đang có tranh chấp “nóng” với kình địch sẽ gia tăng rủi ro đáng kể cho phía Mỹ. Dù ai là chủ nhân của Nhà Trắng đi nữa thì Mỹ đều không muốn phải đụng độ quân sự với Trung Quốc, nhất là nếu chỉ vì vài hòn đảo hay bãi đá ở Biển Đông.[37] Hơn nữa, chiến lược “cắt lát salami” của Trung Quốc rất có thể sẽ làm xói mòn tính răn đe của một liên minh chính thức và nhanh chóng cho thấy sự trống rỗng của cam kết an ninh từ phía Mỹ.[38] Điều này không chỉ đe doạ mối quan hệ Việt – Mỹ mà còn có thể làm suy yếu lòng tin của các đồng minh khác vào Mỹ.

Chiến lược FOIP mà Mỹ đang theo đuổi thường được gắn liền với “kim cương an ninh” gồm bốn cường quốc dân chủ ở khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương. Tuy nhiên một liên minh đa phương chính thức như NATO không phải là giải pháp khả thi bởi khoảng cách địa lý và sự khác biệt trong lợi ích đồng nghĩa với việc những nước này có những ưu tiên rất khác nhau. Đối với Nhật Bản, biển Hoa Đông vẫn là ưu tiên số một còn Ấn Độ vẫn dè chừng đối với Pakistan trên đất liền hơn là Trung Quốc ở Biển Đông. Úc có lợi ích trong việc duy trì hoà bình, ổn định và tự do hàng hải ở Biển Đông nhưng không có yêu sách chủ quyền và cũng không bị đe doạ quân sự trực tiếp từ Trung Quốc. Khác với các quốc gia nằm ở phía tây của “bức màn sắt” trong Chiến tranh Lạnh, sự song trùng lợi ích giữa các đồng minh dân chủ của Mỹ ở Châu Á không đủ lớn để đẩy họ vào thế buộc phải hợp tác với nhau chặt chẽ.

Mặc dù vậy, cần nhấn mạnh rằng việc một liên minh như NATO có hình thành ở Châu Á hay không sẽ phụ thuộc rất nhiều vào cách Trung Quốc hành xử trong thời gian tới. Nếu Bắc Kinh tiếp tục sử dụng con bài “chia để trị” một cách khôn ngoan, vừa làm tan băng quan hệ với một số nước, vừa gây sức ép với một số khác thì gần như chắc chắn một “NATO Châu Á” sẽ không thể hình thành. Mặt khác, nếu Trung Quốc chọn đường lối ngoại giao hung hăng hiếu chiến như Đức trước thềm Chiến tranh thế giới thứ nhất, và đặc biệt nếu Bắc Kinh sử dụng vũ lực để tấn công chiếm đảo, các nước còn lại sẽ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc bỏ qua các mối quan tâm thứ yếu và tập hợp lực lượng để ngăn Trung Quốc.

Nếu lãnh đạo hai nước Việt – Mỹ quyết định làm sâu sắc mối quan hệ hợp tác quốc phòng hiện nay hơn nữa thì một mối quan hệ hợp tác chiến lược không chính thức như liên minh Mỹ – Israel là khả thi nhất. Về mặt hình thức, mối quan hệ này sẽ được xây dựng trên nền tảng các bản ghi nhớ hợp tác quốc phòng thay vì một hiệp ước quốc tế. Nếu hai bên ký kết một hiệp ước liên minh, bản hiệp ước này sẽ cần phải được phê chuẩn bởi Thượng Viện Mỹ trước khi có hiệu lực. Do sự khác biệt về hệ thống chính trị và ý thức hệ, quá trình này sẽ gặp nhiều rào cản. Tuy nhiên nếu hai bên hợp tác qua bản ghi nhớ và những sự hiểu biết ngầm, Tổng thống Mỹ sẽ có toàn quyền quyết định. Vì vậy hình thức không chính thức sẽ khiến việc nâng cao quan hệ hợp tác quốc phòngtrở nên dễ dàng hơn.

Trong trường hợp lý tưởng, Mỹ sẽ đơn phương cam kết đảm bảo an ninh cho Việt Nam trong trường hợp Trung Quốc chủ động dùng vũ lực để tấn công và chiếm đóng bất kỳ phần lãnh thổ nào hiện đang thuộc sự quản lý của Việt Nam. Hai bên có thể cũng sẽ thiết lập các kênh chia sẻ tình báo nhằm phòng tránh trường hợp bất kỳ nước thứ ba nào bất ngờ tạo ra “sự đã rồi” ở khu vực có tranh chấp. Tuy nhiên, phía Mỹ có thể sẽ yêu cầu Việt Nam cam kết không tham gia vào bất kỳ tập hợp lực lượng nào để chống lại Mỹ và thậm chí phải tạo điều kiện để hải quân Mỹ sử dụng các căn cứ hậu cần trong cả thời bình và thời chiến. Hơn nữa, trong một mối quan hệ hợp tác chặt chẽ như vậy, Washington cũng sẽ đề nghị Hà Nội tham vấn họ trước khi đi đến bất kỳ thỏa thuận nào với Trung Quốc và ASEAN trong vấn đề tranh chấp ở Biển Đông.

Đối với một siêu cường như Mỹ, liên minh song phương không chỉ là một công cụ để răn đe kình địch, trấn an đồng minh mà còn là cách để họ kiểm soát các nước khác. Người Mỹ dù không muốn Trung Quốc tấn công Việt Nam nhưng cũng đồng thời muốn đảm bảo rằng Việt Nam không vì có nước lớn “chống lưng” nên sẽ thi hành chính sách ngoại giao mạo hiểm hơn. [39] Tuy nhiên là nước luôn đặt mục tiêu duy trì hòa bình và ổn định khu vực lên trên hết và chưa bao giờ chủ động dùng vũ lực để giải quyết tranh chấp, Việt Nam sẽ không chịu thiệt đáng kể bởi sự kiểm soát từ phía Mỹ.

Nhìn chung, một liên minh Việt – Mỹ dù không chính thức vẫn là một viễn cảnh của tương lai xa. Việc thành lập một liên minh như vậy chắc chắn sẽ gặp phải rào cản chính trị đáng kể ở cả hai nước. Trong khi phía Mỹ lo ngại rằng việc có một đồng minh ở sát biên giới với Trung Quốc như vậy sẽ là một sự khiêu khích đối với Bắc Kinh thì Việt Nam lại lo rằng Mỹ có thể sẽ “thí” những đồng minh của họ như đã từng làm với Đài Loan hay Việt Nam Cộng Hòa.

Kể cả khi cam kết an ninh của Mỹ đối với Việt Nam là một chiều và Việt Nam không công khai tuyên bố rằng mình đã chấm dứt chính sách “ba không” thì phía Trung Quốc vẫn thừa hiểu rằng đây là một nước đi đánh dấu bước ngoặt lớn trong chính sách ngoại giao của Việt Nam. Trong trường hợp đó, rất có thể Trung Quốc sẽ có những đòn “nắn gân” để thử thách độ vững chắc của liên minh này, đẩy cả hai đồng minh Việt Nam và Mỹ vào thế khó. Như sự kiện Bãi cạn Scarborough năm 2012 hay cuộc khủng hoảng giàn khoan năm 2014 đã cho thấy, Trung Quốc có rất nhiều cách tạo sức ép dưới mức gây ra chiến tranh. Trong trường hợp đó, liên minh sẽ bị vô hiệu hóa bởi nhiều khả năng Mỹ sẽ không can thiệp để bảo vệ đồng minh của mình. Do đó, hai bên Việt Nam và Mỹ chỉ nên tính đến việc thiết lập một liên minh như trên nếu cả hai bên có thể tìm ra phương cách để hóa giải chiến lược bành trướng kiểu “cắt lát salami” của Trung Quốc ở Biển Đông/.


Ngô Di Lân
NCQT
Ghi Chú:

[1] Hal Brands và Peter Feaver, “What Are America’s Alliances Good For?” Parameters 47, số 2 (2017): 26.

[2] Michael Beckley, Unrivaled: Why America Will Remain the World’s Sole Superpower (Ithaca: Cornell University Press, 2018): 1.

[3] Paul K. McDonald, “America First? Explaining Continuity and Change in Trump’s Foreign Policy,” Political Science Quarterly 133, số 3 (2018): 414.

[4] Những bài diễn văn kinh điển về chính sách đối ngoại Mỹ như diễn văn từ nhiệm của Tổng thống Washington (1796), diễn văn của Tổng thống John Quincy Adams trước Hạ Viện Mỹ về chính sách đối ngoại (1821) cũng như việc Thượng viện Mỹ không phê chuẩn Mỹ tham gia Hội Quốc Liên cho thấy xu hướng biệt lập trong đường lối đối ngoại Mỹ trước năm 1945.

[5] Đặc điểm địa – chính trị của Châu Âu với nhiều cường quốc cùng chia sẻ biên giới trên đất liền khiến việc tham gia vào liên minh quân sự để tạo thế cân bằng quyền lực trở thành một nhu cầu tự nhiên.

[6] Mỹ từng tham gia vào một số liên minh quân sự trước Chiến tranh Lạnh (ví dụ như liên minh với Pháp chống lại Anh trong Cách mạnh Mỹ. Tuy nhiên những liên minh đó đều ngắn hạn và phục vụ mục tiêu cụ thể trong thời kỳ chiến tranh.

[7] Đây là liên minh quân sự chính thức đầu tiên Mỹ tham gia trong thời bình.

[8] Sean Kay, NATO and the Future of European Security (Oxford: Rowman & Littlefield Publishers, 1998): 15.

[9] John L. Gaddis, Strategies of Containment: A Critical Appraisal of American National Security Policy during the Cold War (Oxford: Oxford University Press, 2005): 71.

[10] Lawrence A. Kaplan, “The United States and the Origins of NATO 1946-1949,” The Review of Politics 31, số 2 (1969): 217.

[11] Một hiệp ước liên minh không phải là hiệp ước phòng thủ chung nếu không có điều khoản bắt buộc tất cả các nước thành viên phải bảo vệ lẫn nhau khi bất kỳ thành viên nào của liên minh bị tấn công.

[12] Xem thêm Victor D. Cha, “Powerplay: Origins of the U.S. Alliance System in Asia,” International Security 34, số 3 (2009/2010): 158-196.

[13] Xem thêm Jerome Slater, “The Domino Theory and International Politics: The Case of Vietnam,” Security Studies 3, số 2 (1993): 186-224.

[14] John Duffield, “Why is there no APTO? Why is there no OSCAP?: Asia-Pacific security institutions in comparative perspective,” Contemporary Security Policy 22, số 2 (2001): 86.

[15] Stephen M. Walt, “Why alliances endure or collapse,” Survival 39, số 1 (1997): 157.

[16] Về sự khác biệt giữa cam kết chính thức và không chính thức trong quan hệ quốc tế xem thêm Charles Lipson, “Why are some international agreements informal?” International Organization 45, số 4 (1991): 495-538.

[17] Tất cả những quốc gia mà Đạo luật Viện trợ quốc tế năm 1961 (Foreign Assistance Act of 1961) quy định là “đồng minh lớn không thuộc khối NATO” (major non-NATO ally) nhưng không có hiệp ước liên minh với Mỹ được coi là đồng minh không chính thức của Mỹ.

[18] Keren Yarhi-Milo, Alexander Lanoszka và Zack Cooper, “To Arm or to Ally? The Patron’s Dilemma and the Strategic Logic of Arms Transfers and Alliances,” International Security 41, số 2 (2016): 100.

[19] Nền tảng của liên minh Mỹ – Israel là hai bản ghi nhớ hợp tác quốc phòng. Liên minh không chính thức Mỹ – Israel thường được xem như một thoả hiệp với các nước Trung Đông thù địch với Israel. Xem thêm Shai Feldman, The Future of U.S.-Israel Strategic Cooperation (Washington D.C.: Washington Institute for Near East Policy, 1996): ix.

[20] Barry Posen, Restraint: A New Foundation for U.S. Grand Strategy (Ithaca: Cornell University Press, 2014): 105.

[21] Cha, “Powerplay,” 176.

[22] Về khái niệm “nước chiến trường”, xem thêm Ngô Di Lân, “Việt Nam: ‘Nước chiến trường’ trên bàn cờ Biển Đông,” Nghiên cứu quốc tế, ngày 19/11/2017, http://nghiencuuquocte.org/2017/11/19/viet-nam-nuoc-chien-truong-tren-ban-co-bien-dong/

[23] Xem thêm Christopher Hemmer và Peter Katzenstein, “Why Is There No NATO in Asia? Collective Identity, Regionalism, and the Origins of Multilateralism,” International Organization 56, số 3 (2002): 575-607.

[24] Cha, “Powerplay”, 167-168.

[25] Xem Brett Ashley Leeds, Jeffrey M. Ritter, Sara McLaughlin Mitchell, và Andrew G. Long, “Alliance Treaty Obligations and Provisions, 1815-1944,” International Interactions 28 (2002): 237-260.

[26] Đa số các liên minh được ký kết trong lịch sử đều là liên minh phòng thủ. Xem Brett Ashley Leeds, Jeffrey M. Ritter, Sara McLaughlin Mitchell, và Andrew G. Long, “Alliance Treaty Obligations and Provisions, 1815-1944,” International Interactions 28 (2002): 237-260.

[27] Số lượng căn cứ quân sự của Mỹ ở những nước trên được lấy từ trang web Militarybases.com

[28]Kristen Bialik, ” U.S. active-duty military presence overseas is at its smallest in decades,” Pew Research Center, ngày 22/8/2017, http://www.pewresearch.org/fact-tank/2017/08/22/u-s-active-duty-military-presence-overseas-is-at-its-smallest-in-decades/

[29] Trường hợp ngoại lệ là Hiệp ước liên minh Mỹ – Nhật đầu tiên (1951). Tại thời điểm đó Mỹ vẫn đang đô hộ Nhật Bản và nước này bị cấm vũ trang nên cam kết an ninh của Mỹ đối với Nhật Bản là đơn phương và một chiều.

[30] Ankit Panda, “Mattis: Senkakus Covered Under US-Japan Security Treaty,” The Diplomat, ngày 6/2/2017, https://thediplomat.com/2017/02/mattis-senkakus-covered-under-us-japan-security-treaty/

[31] Ian Nicolas Cigaral, ” US commitment to defend Philippines in sea dispute uncertain,” Philstar Global, ngày 2/6/2018, https://www.philstar.com/headlines/2018/06/02/1820966/us-commitment-defend-philippines-sea-dispute-uncertain

[32] Thomas Wright, “Realism’s utopia: why academic realism almost never works in Washington”, Brookings, ngày 13/1/2016, https://www.brookings.edu/blog/order-from-chaos/2016/01/13/realisms-utopia-why-academic-realism-almost-never-works-in-washington/

[33] Về lợi thế của Trung Quốc trong cạnh tranh Mỹ – Trung, xem thêm Ngô Di Lân. “Vì sao Mỹ thất bại ở Biển Đông?” Nghiên cứu quốc tế, ngày 24/4/2017, http://nghiencuuquocte.org/2017/04/24/vi-sao-my-that-bai-o-bien-dong/

[34] Xem John J. Mearsheimer và Stephen M. Walt, “The Case for Offshore Balancing: A Superior U.S. Grand Strategy,” Foreign Affairs 95, số 4 (2016): 70-83.

[35]Xem Nhung Bui, “Vietnam Should Abandon Non-Alignment Now,” The Diplomat, ngày 29/1/2016, https://thediplomat.com/2016/01/vietnam-should-abandon-non-alignment-now/; Alexander Vuving, “What Vietnam Can Offer America,” The National Interest, ngày 27/5/2017, https://nationalinterest.org/feature/what-vietnam-can-offer-america-20874

[36] TTXVN, “Chính sách ‘ba không’ của quốc phòng Việt Nam,” VNExpress, ngày 26/8/2010, https://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/chinh-sach-ba-khong-cua-quoc-phong-viet-nam-2173776.html

[37] Quan điểm phổ thông trong giới học giả Mỹ cho rằng lợi ích cốt lõi của họ nằm ở tự do hàng hải. Bản thân các đảo và đá ở Biển Đông không có mấy giá trị về mặt chiến lược. Do đó Mỹ không nên tham chiến trừ khi Trung Quốc đe doạ sẽ phong toả hoàn toàn khu vực Biển Đông và biến vùng biển này thành một cái “ao” của Trung Quốc.

[38] Truong-Minh Vu và Ngo Di Lan, “This Is How to Stop China from Dominating the South China Sea,” The National Interest, ngày 8/4/2016, https://nationalinterest.org/blog/the-buzz/how-stop-china-dominating-the-south-china-sea-15732

[39] Một số chuyên gia người Mỹ như Lyle Goldstein thậm chí còn lo rằng các đồng minh như Philippines sẽ lợi dụng cam kết an ninh của Mỹ để khiêu chiến với Trung Quốc. Xem Lyle J. Goldstein, “The South China Sea Showdown: 5 Dangerous Myths,” The National Interest, ngày 29/9/2015, https://nationalinterest.org/feature/the-south-china-sea-showdown-5-dangerous-myths-13970

"Côn đồ Đặng Tiểu Bình" từng chủ trương xóa bỏ Việt Nam


Những bồi bút, văn nô của đảng trong thời gian qua xuất bản hàng loạt sách ca ngợi Đặng Tiểu Bình với những cái tựa đọc lên rất dễ bị tăng xông máu như “Con đường phi thường của Đặng Tiểu Bình”, “Đặng Tiểu Bình, một trí tuệ siêu việt” v.v…

Đặng Tiểu Bình và Hồ Chí Minh. Nguồn: internet

Lẽ ra nên có một tác phẩm kể tội ác của y đối với dân tộc Việt Nam và đặt tựa là “Côn đồ Đặng Tiểu Bình” mới đúng. “Côn đồ” là chữ y dùng để chỉ Việt Nam.

Lý do vì “Côn đồ Đặng Tiểu Bình" đã từng chủ trương xóa bỏ nước Việt Nam trong bản đồ thế giới bằng một cuộc chiến đánh phủ đầu (preemptive war).

“Đánh phủ đầu” theo chủ trương của “Côn đồ Đặng Tiểu Bình" không phải là để dời vài cột mốc, đụng độ lẻ tẻ dọc biên giới mà là cuộc tấn công quyết định trước khi Việt Nam có khả năng chống trả.

“Côn đồ Đặng Tiểu Bình" nói với Tổng thống Jimmy Carter trong chuyến viếng thăm Mỹ đầu năm 1979: “Bất cứ nơi nào, Liên Sô thò ngón tay tới, chúng ta phải chặt đứt ngón tay đó đi.”

Cựu Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger giải thích quan điểm này trong tác phẩm Về Trung Quốc (On China):

“Những gì Đặng Tiểu Bình đề nghị về căn bản là chính sách đánh phủ đầu, đó là một lãnh vực trong chủ thuyết quân sự ngăn chận tấn công của Trung Quốc… Nếu cần thiết, Trung Quốc sẽ chuẩn bị phát động các chiến dịch quân sự để phá vỡ kế hoạch của Liên Sô, đặc biệt tại vùng Đông Nam Á”.

“Đông Nam Á” và “ngón tay” theo ý “Côn đồ Đặng Tiểu Bình" không phải là mục tiêu nào khác mà là Việt Nam.

Trong chuyến viếng thăm Mỹ đầu năm 1979, Đặng không mua chuộc được sự ủng hộ công khai của Mỹ. Mỹ chỉ đồng ý giúp theo dõi sự động binh của 55 sư đoàn Liên Sô phía Bắc và chụp không ảnh các trận đánh vùng biên giới.

Đặng tưởng đó là một thành công nhưng hóa ra là một thất bại. Nhờ những tấm ảnh chụp từ vệ tinh mà các cơ quan truyền thông quốc tế biết dân quân Việt Nam vùng biên giới dù không chuẩn bị đã dạy cho Trung Cộng một bài học đích đáng.

Theo nhận xét của Đại Tá Russell D. Howard thuộc Học Viện An Ninh Quốc Gia của Không Quân Hoa Kỳ, Trung Cộng thiệt hại chỉ trong vài ngày bằng hơn một nửa số tổn thất của Mỹ trong 10 năm tham dự chiến tranh Việt Nam.

Sau tuần lễ đầu chịu đựng nhiều thiệt hại nhưng danh sách các vùng chiếm được chỉ là những làng xã dọc biên giới, “Côn đồ Đặng Tiểu Bình" ra lịnh bằng mọi giá phải chiếm cho được thành phố Lạng Sơn, thủ phủ tỉnh Lạng Sơn để lấy tiếng trước khi rút lui. Chiều ngày 4 tháng Ba, sau nhiều trận giao tranh đẫm máu quân Trung Cộng tiến vào Lạng Sơn.

Khi rút khỏi những nơi này, quân Trung Cộng san bằng tất cả nhà cửa để trả thù cho số thương vong quá lớn.

Ký giả Nayan Chanda thăm vùng giao tranh vài ngày sau cuộc chiến đã ghi nhận không chỉ các công sở mà cả trường học, bịnh viện đều bị quân Trung Cộng giựt sập.

Để ngăn chận khối Việt Miên Lào liên minh nhau, tháng 8 năm 1975, “Côn đồ Đặng Tiểu Bình" chia sẻ với Khieu Samphan, nhân vật số ba trong Khmer Đỏ “Khi một siêu cường [Mỹ] rút đi, một siêu cường khác [Liên Sô] sẽ chụp lấy cơ hội mở rộng nanh vuốt tội ác của chúng đến Đông Nam Á”.

Để xóa bỏ Việt Nam, “Côn đồ Đặng Tiểu Bình" ủng hộ CS Campuchia giết một cách dã man đồng bào Việt sống dọc biên giới Việt Miên.

“Côn đồ Đặng Tiểu Bình" gặp riêng "khát máu Pol Pot" từ 28 tháng 9 đến 22 tháng 10, 1977 tại Bắc Kinh.

"Khát máu Pol Pot" chủ trương chỉ cần một người Campuchia diệt được ba chục người Việt, dân Campuchia sẽ tiêu diệt toàn bộ dân tộc Việt Nam. Các cuộc đột kích vào đảo Thổ Châu, Phú Quốc, nhiều địa phương thuộc các tỉnh An Giang, Tây Ninh, đốt phát làng mạc, giết người, bắt cóc, bịt mắt thả sông của Khmer Đỏ trong giai đoạn 1977-1978 phát xuất từ chủ trương này.

Về mặt đối ngoại, “Côn đồ Đặng Tiểu Bình" cố gắng thuyết phục các quốc gia Đông Nam Á, Á Châu và Mỹ.

Từ cuối năm 1978 đến đầu năm 1979, Đặng viếng thăm hàng loạt quốc gia châu Á như Nhật, Thái Lan, Mã Lai, Singapore, Miến Điện, Nepal. Tại mỗi quốc gia thăm viếng, họ Đặng luôn đem thỏa ước Việt-Sô ra hù dọa các nước láng giềng như là mối đe dọa cho hòa bình và ổn định Đông Nam Á.

Đặng phát biểu tại Bangkok ngày 8 tháng 11 năm 1978: “Hiệp ước [Việt Sô] này có ý nghĩa quan trọng hơn đối với Á Châu và Thái Bình Dương. An ninh và hòa bình châu Á, Thái Bình Dương và toàn thế giới bị đe dọa”. Ngoại trừ Singapore, Đặng nhận sự ủng hộ của hầu hết các quốc gia Đông Nam Á.

Lý Quang Diệu sáng suốt chỉ ra cho “Côn đồ Đặng Tiểu Bình" thấy: “Không có một cộng đồng Nga kiều nào tại các nước Đông Nam Á có thể dẫn đến các cuộc nổi dậy của Cộng Sản do Liên Sô ủng hộ nhưng ở đâu cũng có các cộng đồng Hoa kiều được đảng và nhà nước Trung Cộng xúi dục và ủng hộ”.

Việt Nam, quốc gia vùng trái độn giữa hai quyền lực thế giới, chưa bao giờ đứng trước một chọn lựa sinh tử như hôm nay.

Một người có trách nhiệm với tương lai đất nước, dù cá nhân mang một thiên kiến chính trị nào, cũng phải biết thức tỉnh, đặt quyền lợi dân tộc lên trên, chọn hướng đi thích hợp với đà tiến văn minh dân chủ của thời đại, chấm dứt việc cấy vào nhận thức của tuổi trẻ một tinh thần bạc nhược, đầu hàng, vinh danh kẻ thù dân tộc.

Chỉ với vài trong số rất nhiều tội ác mà lịch sử sẽ lần lượt viết ra trong tương lai, Đặng Tiểu Bình xứng đáng được gọi “Côn đồ”.


Trần Trung Đạo
FB Trần Trung Đạo

CA Điện Biên gặp bão dư luận vì ‘được thưởng’ về vụ cô gái bị hiếp, giết


Cộng đồng những người sử dụng mạng xã hội và một số cơ quan báo chí ở Việt Nam chỉ trích việc công an tỉnh Điện Biên được khen thưởng sau vụ một cô gái trẻ bị bắt cóc, hãm hiếp và giết hại trong dịp Tết vừa qua.

Bài báo trên Thanh Niên về việc công an được thưởng sau vụ án mạng, 19/2/2019

Cộng đồng những người sử dụng mạng xã hội và một số cơ quan báo chí ở Việt Nam chỉ trích việc công an tỉnh Điện Biên được khen thưởng sau vụ một cô gái trẻ bị bắt cóc, hãm hiếp và giết hại trong dịp Tết vừa qua.

Tin tức trên nhiều tờ báo cho hay Ủy ban Nhân dân tỉnh Điện Biên hôm 18/2 tặng bằng khen và thưởng tiền cho các nhân viên công an sau khi họ “điều tra, bắt giữ” 5 nghi phạm bị cáo buộc đã hãm hại nữ sinh Cao Thị Mỹ Duyên, 22 tuổi.

Theo các bài tường thuật của báo chí trong nước, chị Duyên bị mất tích hồi chập tối 4/2 (30 Tết) khi đi giao gà cho một người đặt mua qua điện thoại. Gia đình đã trình báo với công an địa phương ngay tối hôm đó, đồng thời nhờ họ hàng tìm kiếm suốt đêm, và cũng đã “cầu cứu” trên mạng xã hội.

Ba ngày sau khi chị Duyên mất tích, vào sáng hôm 7/2 (mùng 3 Tết), một số người dân thường đã phát hiện thi thể của chị ở một ngôi nhà hoang.

Đến ngày 10/2, công an tỉnh Điện Biên bắt tạm giam nghi phạm đầu tiên, và trong ba ngày 12, 15, 16/2, công an tiếp tục bắt 4 nghi phạm khác, theo các bản tin. Các nghi phạm khai với công an rằng cho đến chiều ngày 6/2 chị Duyên vẫn còn sống, các báo cho biết, dẫn lại thông tin từ một cuộc họp báo của công an.

Đại diện của công an tỉnh Điện Biên nói với báo chí trong cuộc họp báo hôm 18/2 rằng “sau khi nhận được tin báo, Ban Giám đốc Công an tỉnh đã chỉ đạo các đơn vị nghiệp vụ Công an tỉnh, Công an các huyện, Công an thành phố Điện Biên Phủ tổ chức truy tìm”. Tuy nhiên, không có thông tin rõ ràng cho biết việc “tổ chức truy tìm” đã bắt đầu từ ngày giờ cụ thể nào.

Trên mạng xã hội rất nhiều người ngay lập tức lên tiếng chỉ trích việc công an được khen thưởng sau vụ án thương tâm. Họ cho rằng công an đã không hàng động đủ nhanh để có thể kịp thời cứu sống chị Duyên, còn việc truy bắt các nghi phạm sau khi án mạng đã xảy ra là việc đương nhiên phải làm.

Trong số hàng trăm lời phê phán, chỉ trích là những tiếng nói của các cây viết có nhiều ảnh hưởng như các nhà hoạt động Bạch Cúc, Nguyễn Thúy Hạnh, Nguyễn Tường Thụy, Lê Văn Dũng; nhà văn Đỗ Hoàng Diệu, nữ doanh nhân Lê Hoài Anh, nhà báo tự do Đỗ Cao Cường, thày giáo Đỗ Việt Khoa, nhà báo Hoàng Linh, v.v…

Chủ đề này cũng được mổ xẻ, tranh luận trong các diễn đàn “Nhật ký Yêu nước”, “Bàn luận về Kinh tế - Chính trị” và “Góc nhìn Báo chí - Công dân” có tổng cộng trên 1 triệu thành viên.

Các ý kiến tập trung vào chất vấn công an “đã làm gì”, “ở đâu” trong gần 3 ngày cô gái trẻ bị 5 nghi phạm “giam cầm” và “hành hạ”. Những người chỉ trích công an cho rằng trong thời gian đó, nếu cơ quan điều tra làm việc gấp gáp, nghiêm túc, sử dụng thẩm quyền và năng lực của họ để lần theo các cuộc gọi điện thoại di động của nạn nhân và khoanh vùng, có thể chị Duyên đã được giải cứu.

Những người có nhiều ảnh hưởng và cộng đồng mạng tiếp đến bày tỏ quan điểm rằng họ “không đồng tình” với quyết định khen thưởng, nhất là dành cho các nhân viên công an tỉnh Điện Biên.

Nhà hoạt động Nguyễn Tường Thụy viết trên Facebook một cách thẳng thắng rằng ông thấy “không nên thưởng cho ban chuyên án vụ này mà cần kỷ luật”. Ông đưa ra lý do cho lập luận của mình rằng công an đã “chậm trễ, không tích cực” nên dẫn đến việc chị Duyên bị giết, dù công an đã được trình báo về việc chị bị mất tích từ rất sớm.

Chung một góc nhìn, nhà hoạt động Lê Văn Dũng, hay còn gọi là Dũng Vova, viết: “Tôi cho rằng lãnh đạo Bộ công an cần xem xét lại việc Điện Biên vội vã khen thưởng cho tập thể và các cá nhân tham gia vụ án này. Người dân phát hiện ra hiện trường vụ án và báo thì công an mới biết, vậy đó không phải là công của cơ quan điều tra”.

Nhà văn Đỗ Hoàng Diệu và nhà giáo Đỗ Việt Khoa bày tỏ ý kiến rằng thay vì nhận thưởng, công an Điện Biên “nên xin lỗi gia đình nạn nhân, xin lỗi nhân dân, xin lỗi cấp trên” vì đã không cứu được cô gái.

Gay gắt hơn, nhà hoạt động Bạch Cúc đặt câu hỏi là các nhân viên công an “không biết nhục và không bị lương tâm cắn rứt hay sao mà còn hớn hở vỗ tay nhận bằng khen và tiền thưởng”?

Nhìn chung, cộng đồng mạng đánh giá rằng sau khi nạn nhân đã bị giết, việc công an điều tra, bắt giữ các nghi phạm vài ngày sau đó là công việc thuộc trách nhiệm của họ, được trả lương bằng tiền thuế của người dân, trong đó, có cả phần thuế của gia đình nạn nhân.

VOA đã liên lạc với ông Hồ Sỹ Tiến, cựu cục trưởng Cục Cảnh sát Điều tra Tội phạm về Trật tự Xã hội, để hỏi ông liệu những bình luận của công chúng về hoạt động nghiệp vụ của công an Điện Biên có công bằng hay không. Song cựu thiếu tướng công an chỉ nói ngắn gọn với VOA:

“Tôi đã nghỉ hưu. Tôi có biết gì đâu mà hỏi. Thôi nhé”.

VOA cũng cố liên lạc với công an Điện Biên để lắng nghe ý kiến từ phía họ, song không kết nối được.

Không chỉ có những tiếng nói trên mạng xã hội, hai báo lớn là Thanh Niên và Tuổi Trẻ cũng đã đăng bài viết tỏ ý không đồng tình về việc công an Điện Biên được khen thưởng.

Bài trên Thanh Niên có tựa đề “Vụ sát hại nữ sinh ở Điện Biên: Sao có thể nhận thưởng trong nỗi đau của gia đình nạn nhân?”

Còn bài trên Tuổi Trẻ mang hàng tít “Vụ cô gái giao gà, dân phát hiện, sao khen thưởng lực lượng phá án?”

Lúc này, giới luật sư nhận định rằng cả 5 nghi phạm trong vụ cô gái giao gà bị hãm hiếp và sát hại đều có thể đối diện mức án tử hình. Những kẻ này đều đã thực hiện những hành vi “man rợ, mất nhân tính”, nên cần “loại bỏ” chúng khỏi đời sống xã hội, các luật sư nói với một số tờ báo trong nước.


VOA

Vụ Trương Duy Nhất sẽ thổi bùng ngọn lửa xung đột nội bộ?


Sau khi vụ ‘Trương Duy Nhất mất tích ở Bangkok’ xảy ra được hai tuần và từ đó đến nay, đã hiện ra những dấu hiệu mà qua đó có thể gián tiếp xác nhận chính quyền Việt Nam liên đới vụ này

Trương Duy Nhất trong một cuộc phỏng vấn với Đài Á Châu Tự Do, 31 tháng Năm, 2016. (Hình: RFA Vietnamese)

Thanh minh cho ‘đảng ta’

“Đi tìm chân dung Trương Duy Nhất, kẻ cơ hội!” là tựa đề loạt bài viết của tác giả Hồng Hà gửi cho một số trang mạng xã hội. Trong bài viết này, tác giả tập trung mổ xẻ mối quan hệ giữa Trương Duy Nhất và Vũ ‘Nhôm’, cùng hoạt động của ông Nhất thời còn là đại diện thường trú của báo Đại Đoàn Kết tại Đà Nẵng và yếu tố phe phái chính trị của Trương Duy Nhất, đặc biệt nhấn mạnh ông Nhất là ‘đệ’ của bí thư thành ủy thời đó là Nguyễn Bá Thanh.

Cùng thời điểm bài viết của Hồng Hà, đã lan truyền một luồng dư luận cho rằng Trương Duy Nhất ‘dính’ với ông Đinh Đức Lập - cựu tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết và Vũ ‘Nhôm’ trong vụ Vũ ‘Nhôm’ ‘gom’ đất vàng từ trụ sở của tờ báo này, và sau tết nguyên đán 2019 sẽ có một chiến dịch bắt bớ đối với ‘một số nhà báo lớn’. Không có nhiều dấu hiệu cho thấy luồng dư luận này là do suy đoán hay được khẳng định bởi mạng xã hội, trong khi khá nhiều ý kiến lại cho rằng luồng dư luận này - với khá nhiều chi tiết cụ thể và mang tính điều tra về mối quan hệ Trương Duy Nhất - Vũ ‘Nhôm’- hẳn phải xuất phát từ nội bộ đảng; và thậm chí, đây là một luồng dư luận được cố ý tung ra vào thời điểm này, khi Trương Duy Nhất ‘mất tích’, nhấn mạnh việc ông Nhất nếu có bị bắt thì cũng chẳng có gì oan sai bởi Nhất bị liên đới trách nhiệm hình sự trong vụ án Vũ ‘Nhôm’.

Cách đặt vấn đề, dẫn dắt của tác giả Hồng Hà là khá giống với nhiều bài viết của những tác giả được xem là dư luận viên phe ‘lề đảng’ và phe ‘Ba X’ về chủ đề nội bộ và đấu đá nội bộ, được đăng tải trên một số trang mạng xã hội mà không phải là báo nhà nước. Và cũng như một số tác giả ‘nội bộ’ khác, Hồng Hà rất có thể chỉ là một bút danh của một người muốn ẩn danh, muốn lợi dụng mạng xã hội để dư luận được ‘rộng đường tham khảo’, hoặc thực tế hơn muốn hướng lái dư luận vào tính ‘chính nghĩa’ của một phe cánh chính trị nào đó nhằm triệt cho được một phe khác trong nội bộ đảng CSVN.

Bài “Đi tìm chân dung Trương Duy Nhất, kẻ cơ hội!” của tác giả Hồng Hà là có thể đoán trước được, và đó là một bài viết - như một dấu hiệu - cần được chờ đợi xuất hiện. Bởi đơn giản là nếu chính quyền Việt Nam không dính líu đến vụ Trương Duy Nhất - có thể bị ‘mất tích’ hoặc bị bắt cóc tại Bangkok hay ở một nơi nào đó ngoài biên giới Việt Nam, đã chẳng hiện ra bài viết nào của tác giả Hồng Hà nhằm thanh minh cho ‘đảng ta’ như một loại phản ứng nhanh nằm trong chủ trương ‘chủ động thông tin đối ngoại’, mà hẳn là Bộ Chính trị đảng cùng các cơ quan giúp việc cho nó đã ‘rút kinh nghiệm sâu sắc’ từ vụ ‘bắt cóc Trịnh Xuân Thanh’ ở Berlin vào tháng 7 năm 2017, để làm sao trong lúc vẫn giữ được quan điểm ‘hy sinh đối ngoại để xử lý đối nội’ thì vẫn làm cho ‘uy tín Việt Nam không ngừng nâng cao trên trường quốc tế’.

Nhưng tàn tích thời ‘hậu Quang’

Cho tới nay, Thượng tá tình báo công an Phan Văn Anh Vũ vẫn chưa đi hết ‘mười tám tầng địa ngục’. Những phiên tòa nối tiếp nhau được mở ra, với những mối dính líu mới về tham nhũng và những tội danh mới vẫn tiếp tục bắt ‘của thiên trả địa’ đối với đại gia từng làm mưa làm gió dải đất miền Trung và cả Sài Gòn.

Những ‘tầng địa ngục’ mới, sâu thẳm hơn và thể hiện ‘tình đồng chí’ ở mức độ thê thảm hơn, tiếp tục hiện ra sau khi một quan chức cao cấp được đồn đoán là ‘chú của Trần Đại Vũ’ (hàm ý Vũ ‘Nhôm’) là Chủ tịch nước Trần Đại Quang bị đột tử đầy nghi vấn vào tháng 9 năm 2018. Ít tháng sau, hai viên tướng thứ trưởng Bộ Công an có dính líu tới Vũ ‘Nhôm’ là Bùi Văn Thành và Trần Việt Tân đều phải ra tòa, tuy mức án bị dư luận xem là ‘nhẹ hều’ và khiến cho cái gọi là ‘cán cân công lý xã hội chủ nghĩa’ càng thêm sụp gãy.

Nhưng Bùi Văn Thành và Trần Việt Tân có phải là những cái đuôi cuối cùng thời ‘hậu Quang’ bị chiến dịch hồi tố của Nguyễn Phú Trọng chặt đứt? Liệu sau đó còn những kẻ nào khác?

Cái gì đã được dự đoán thì đã và sẽ xảy ra trong một sớm một chiều. Cái thực tế tàn nhẫn ‘cá lớn nuốt cá bé’ hay trần trụi hơn nữa là ‘đánh rắn phải đánh dập đầu’ - như chính một số cảm tình viên của Nguyễn Phú Trọng đã từng hô hào thẳng tuột và hiếu thắng như thế - đã và sẽ còn xảy ra với ‘phe cánh chính trị’ của kẻ đã trở thành người thiên cổ. Không chỉ ‘thay máu’ Bộ Công an bằng đề án ‘tái cơ cấu’ vào đầu năm 2018, trong đó xóa bỏ toàn bộ các tổng cục của bộ này trong khi vẫn giữ nguyên các tổng cục của Bộ Quốc phòng, chẳng có gì chắc chắn là tân chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng sẽ không chặt nốt những cái đuôi còn lại của một thời ăn uống xả láng, lộng hành và kiêu binh.

Trong khi đó, xảy ra vụ ‘Trương Duy Nhất mất tích ở Bangkok’…

Cứ nhìn vào cái cách mà blogger Người Buôn Gió đột nhiên sôi sục và còn có vẻ như hằn học trên diễn đàn mạng xã hội với hàng loại bài viết về vụ Trương Duy Nhất, có thể hình dung ra vụ việc này không hề đơn giản như cái cách mà một số dư luận ‘định hướng’ rằng Trương Duy Nhất có thể bị áp vào tội danh kinh tế trong vụ án Vũ ‘Nhôm’.

Mà phải là cái gì đó lớn hơn thế, hơn nhiều hoặc hơn thế rất nhiều.

Một bí mật ghê gớm?

Đang xuất hiện những nghi ngờ về việc Trương Duy Nhất, nếu quả thực bị bắt cóc bởi Tổng cục 2 (tình báo quân đội) như một cáo buộc (chưa được kiểm chứng) của Người Buôn Gió, thì rất khó có thể chỉ do việc ông Nhất nắm giữ những bí mật kinh doanh của Vũ ‘Nhôm’ mà bị bắc cóc, bởi cơ quan điều tra Việt Nam sau khi bắt được Vũ ‘Nhôm’ đã khai thác tình báo viên này đến mức khó mà còn bí mật nào.

Mà hẳn Trương Duy Nhất phải nắm giữ một bí mật ghê gớm nào đó và đụng chạm đến quyền lực chính trị hoặc lợi ích kinh tế của một phe cánh chính trị nào đó trong đảng, cái bí mật mà nếu Trương Duy Nhất tung ra công khai thì có thể giết chết tươi một số quan chức nào đó… Và suy cho cùng, đó phải là một bí mật mang tính sinh tử khiến cho nhóm quan chức này phải một lần nữa, bất chấp vụ bắc cóc Trịnh Xuân Thanh mà đã gây ra cơn địa chấn an ninh - tình báo và kéo theo cuộc khủng hoảng ngoại giao lan rộng từ Đức sang Slovakia và cả một phần khối Liên minh châu Âu, ‘liều mình như chẳng có’ để tổ chức thêm một vụ bắt cóc nữa, lần này trên đất Thái.

Bí mật ghê gớm đó, nếu có, là gì?

Cần nhắc lại, lệnh truy nã đầu tiên của Bộ Công an đối với Vũ ‘Nhôm’ vào cuối tháng 12 năm 2017 không phải là tội danh kinh tế, mà ‘cố ý làm lộ tài liệu bí mật nhà nước’.

Có một lối suy đoán, hoặc có thể được hiểu như lối dẫn dắt rất thiếu thuyết phục của blogger Người Buôn Gió: trong loạt bài viết của mình, blogger này cho rằng sở dĩ Thủ tướng Phúc phải chỉ đạo cho Tổng cục 2 cử hẳn một đội đặc nhiệm 10 người sang Thái Lan để bắt cóc Trương Duy Nhất là do Nhất nắm được những vụ bê bối của Nguyễn Xuân Phúc vào thời ông Phúc còn làm việc ở tỉnh Quảng Nam. Vì nếu quả thực vào thời đó mà Nguyễn Xuân Phúc ‘có vấn đề’, thì mức độ bê bối của nó chẳng ăn thua gì so với rất nhiều dư luận đồn đãi về tai tiếng của ông Phúc khi ông ta là phó thủ tướng và từ sau đó đến nay trở thành thủ tướng.

Dường như cả Người Buôn Gió, tác giả Hồng Hà và một luồng dư luận cho rằng Trương Duy Nhất ‘dính’ Vũ ‘Nhôm’ đều chủ ý né tránh cái bí mật ghê gớm mà có thể đã khiến Trương Duy Nhất phải ‘mất tích’ ở Bangkok.

Ba tuần sau vụ ông Nhất bị mất tích ở Bangkok, bắt đầu xuất hiện vài tin tức mơ hồ về ‘Trương Duy Nhất đã có mặt ở Việt Nam’, nhưng không phải từ các cơ quan ‘có trách nhiệm’ hay báo chí của Việt Nam, mà chỉ từ những facebooker ‘lề đảng’ và có mối quan hệ gần gũi với công an.

Vụ Trương Duy Nhất cũng vì thế đã không còn mang phạm vi cá nhân của blogger này mà đang trở nên ‘quốc tế hóa’ - theo nghĩa đen và theo cả nghĩa bóng, tức đang lôi kéo sự tham gia và xung đột của ít nhất hai phe phái trong nội bộ đảng, chẳng khác gì hậu vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh.

Nguồn tin hay gián điệp?

Sau cáo buộc của Người Buôn Gió về ‘Tổng cục 2 bắt cóc Trương Duy Nhất’, người ta vẫn đang chờ đợi blogger này có trưng ra được bằng chứng nào đủ sức thuyết phục hay không.

Trong khi đó, phe ‘bảo vệ đảng’ cũng đang ráo riết công bố thông tin và dẫn dắt dư luận về mối quan hệ tay ba Vũ ‘Nhôm’ - Người Buôn Gió - Trương Duy Nhất, và rằng Người Buôn Gió thực chất là người thuộc về một phe cánh trong nội bộ đảng…

Không phải chỉ vào lúc này mà trước đây nhiều tháng, hẳn phe ‘bảo vệ đảng’ đã rất muốn truy xét một chủ đề cực kỳ nhạy cảm: nguồn tin. Hay còn mang một khái niệm khác: gián điệp.

Với quá nhiều thông tin cực mật của nội bộ giới quan chức, cộng thêm cách mô tả chi tiết về cuộc bắt cóc Trương Duy Nhất của Tổng cục 2 cứ như thể người trong ruột của Người Buôn Gió, không chỉ phe ‘bảo vệ đảng’ mà rất nhiều người khác đã tò mò về việc Người Buôn Gió, nếu không phải bởi trí tưởng tượng quá sức phong phú, lấy đâu ra những tin tức đó?

Bức tranh một vụ án ‘truy bắt gián điệp nội bộ’ đang dần hiện hình trên bình diện ‘an ninh quốc gia’ trong nội tình đảng CSVN…


Phạm Chí Dũng
Blog VOA

Hoàng Hải Vân - TRUMP ƠI, CỐ LÊN !


Tổng thống Donald Trump đã chơi trên cơ Hạ viện do Đảng Dân chủ chi phối bằng một động thái thượng phong : ký thông qua luật ngân sách không có chi phí 5,7 tỷ đô la cho bức tường ngăn chặn người nhập cư bất hợp pháp, đồng thời ban bố tình trạng khẩn cấp để có thể huy động được 8 tỷ đô la từ ngân sách các cơ quan liên bang cho mục đích này.

Tổng thống Donald Trump. Hình BBC

Phía Dân chủ phản ứng gay gắt. Bỏ qua những lời tuyên bố ông Trump “lạm quyền”, “đứng trên pháp luật”, “xé bỏ Hiến pháp”, hãy xem phái Dân chủ có thể làm gì được ông ? Chiếm đa số trong Hạ viện, phái này có thể khởi xướng một dự luật phế bỏ quyết định của Tổng thống, nhưng dự luật có thể được Hạ viện thông qua song chưa chắc được thông qua tại Thượng viện, mà dù có được lưỡng viện thông qua thì cũng sẽ bị Trump phủ quyết. Và họ chắc chắn sẽ không thành công trong việc huy động 2/3 thành viên lưỡng viện phế bỏ sự phủ quyết của ông Trump.

Nhưng cuộc chiến pháp lý vẫn đang được khởi động rầm rộ. Đã có 17 bang do Đảng Dân chủ nắm quyền chi phối đồng loạt khởi kiện ông Trump về việc ban bố tình trạng khẩn cấp này. Nhưng dù nhiều bang hơn nữa khởi kiện thì cũng chẳng làm gì được ông Trump. Các tòa án liên bang và khu vực do Đảng Dân chủ chi phối có thể phán quyết phế bỏ tình trạng khẩn cấp, nhưng con bài tẩy của ông là tại Tòa tối cao Mỹ. Với 2 thẩm phán theo khuynh hướng tự do truyền thống của Đảng Cộng hòa (mà người Mỹ gọi là “bảo thủ”) mới được Thượng viện phê chuẩn theo đề nghị bổ nhiệm của ông Trump, Tòa tối cao đang có 5/9 đại thẩm phán “bảo thủ” ủng hộ Trump, chiến thắng của ông là điều gần như chắc chắn.

Với thành tựu kinh tế ngoạn mục sau hai năm cầm quyền (tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống mức thấp nhất trong vòng nửa thế kỷ, thu nhập thực tế của người dân tăng do giảm thuế…), mặc dù bị báo chí liên tục công kích, nhưng thực tế ngày càng chứng tỏ sự lựa chọn của người dân bầu ông Trump làm tổng thống là đúng đắn. Về đối ngoại, với chủ trương tăng sức mạnh quốc phòng của Mỹ đi đôi với việc giảm bớt sự can dự của Mỹ vào chuyện nội bộ của các nước, đồng thời thiết lập lại sự công bằng cho nước Mỹ trong quan hệ quốc tế…, dù không được sự hoan nghênh của châu Âu và nhiều nước khác cũng như nhiều trí thức văn hay chữ tốt của Việt Nam, nhưng phù hợp với xu thế hòa bình.

Hiện thế giới và người Mỹ đang chú ý vào cuộc gặp thượng đỉnh giữa Trump và nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Yong-un tại Hà Nội. Sau thành công về kinh tế, thành công trong việc giải trừ vũ khí hạt nhân và thiết lập quan hệ hòa bình trên bán đảo Triều Tiên sẽ là yếu tô quan trọng giúp chính quyền Trump giải quyết vấn đề đối nội và tạo tiền đề cho ông có thể chiến thắng thêm một nhiệm kỳ Tổng thống nữa.

Lâu nay truyền thông thường nói phe Dân chủ là “bồ câu” còn phe Cộng hòa là “diều hâu” nhưng thực tế lịch sử gần 3/4 thế kỷ nay có vẻ như ngược lại. Ném những quả bom nguyên tử không cần thiết xuống Hiroshima và Nagasaki cuối Đại chiến 2 và tham chiến trên bán đảo Triều Tiên là lệnh của một Tổng thông Dân Chủ (Truman), trực tiếp đem quân sang Việt Nam và tăng cường chiến tranh Việt Nam là lệnh của hai Tổng thống Dân chủ (Kenedy và Johnson). Tổng thống Cộng hòa Nixon tuy nhiều tai tiếng và mang tiếng hiếu chiến nhưng chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của ông này thực tế là rút quân Mỹ ra khỏi Việt Nam. Tất nhiên nhận xét này có tính tương đối, vì Tổng thống Cộng hòa Bush con cũng đem quân sang đánh Iraq.

Trump sẽ đi vào lịch sử với tư cách là một trong những vị tổng thống kiên cường nhất trong nỗ lực khôi phục lại chủ nghĩa tự do truyền thống của nước Mỹ. Riêng tôi thích Trump vì hai lẽ : cắt giảm thuế má mạnh mẽ nhất cho người dân Mỹ và không can dự vào chuyện nội bộ của nước khác nếu lợi ích của nước Mỹ không bị xâm phạm. Đó cũng là hai yếu tố quan trọng nhất góp phần bảo đảm hòa bình thế giới. Thuế má mà giảm mạnh thì có muốn chiến tranh cũng không có tiền gây chiến tranh, muốn can dự vào chuyện nội bộ của nước khác cũng không có tiền mà can dự. Còn in thêm tiền để gây chiến thì đã quá xưa rồi.

Nhìn 2 phe Dân chủ và Cộng hòa của Mỹ như hai đội bóng tranh hùng, tôi là người “bắt” đội của Trump. Tôi mong ông chiến thắng, như từng mong ông chiên thắng trong cuộc tranh cử hai năm trước !


Hoàng Hải Vân
FB Hoàng Hải Vân

Đức Thánh Trần đột nhiên cần… trang nghiêm?


Hai thành ngữ “lợi bất cập hại” và “họa vô đơn chí” giờ cùng ứng vào việc dời đỉnh đặt ở chân tượng Trần Hưng Đạo, tọa lạc trước Bến Bạch Đằng, quận 1, TP.HCM, đi nơi khác, đúng vào ngày 17 tháng 2 năm 2019.

Tượng Trần Hưng Đạo tại Sài Gòn. (Hình: Dennis Jarvis)

Nếu trong ngày 17 tháng 2, chỉ có ông Nguyễn Thiện Nhân – Bí thư Thành ủy TP.HCM bị công chúng xúm vào nguyền rủa trên mạng xã hội thì hôm sau, 18 tháng 2, có thêm bà Trần Kim Yến, Bí thư quận 1 “đưa đầu chịu báng”.

Cứ theo tường thuật của báo giới Việt Nam thì việc dời đỉnh đặt ở chân tượng Trần Hưng Đạo là chủ trương riêng của quận ủy và chính quyền quận 1, không dính dáng gì tới thành ủy, chính quyền TP.HCM và tất nhiên ông Nhân… vô can.

Cho dù bà Yến khẳng định, việc dời đỉnh đúng vào ngày 17 tháng 2 – thời điểm nhiều người cư trú ở TP.HCM dự tính sẽ đến nơi đặt tượng Trần Hưng Đạo, thắp hương tri ân liệt sĩ và tưởng niệm đồng bào uổng tử trong cuộc chiến chống Trung Quốc xâm lược cách nay 40 năm - là “bình thường” (vì theo kế hoạch chỉnh trang các khu vực công cộng ở quận 1) và “hợp lý” (vì chỉ nên đặt đỉnh ở đình, đền, chùa, miếu), song hành động mà bà Yến khăng khăng là “bình thường và hợp lý” (1) này đã biến toàn bộ nỗ lực “rửa mặt” của hệ thống chính trị, hệ thống công quyền Việt Nam (sắp đặt để hệ thống truyền thông chính thống đồng loạt lên tiếng về cuộc chiến ở biên giới Việt – Trung cách nay 40 năm, tổ chức một hội thảo cấp quốc gia về cuộc chiến,…) thành… công cốc! Sự nghi ngại và bất bình của công chúng đối với hệ thống chính trị, hệ thống công quyền Việt Nam không những không giảm mà còn cao hơn.

Chưa kể lập luận của bà Yến còn tạo ra tiền đề và việc dời đỉnh ở chân tượng Trần Hưng Đạo tại TP.HCM còn tạo ra tiền lệ để công chúng đòi dời hết đỉnh đặt trước tượng những lãnh tụ như: Hồ Chí Minh (2), Nguyễn Văn Cừ (3), Trường Chinh (4),… đi nơi khác.

***

Trong tâm thức của người Việt, đỉnh – nơi dâng hương có tính công cộng - là vật thiêng chẳng khác gì bát hương trên bàn thờ gia đình – chỗ trú ngụ của tổ tiên, ông bà, cha mẹ, những thân nhân đã khuất. Khấn vái, cắm vào đỉnh hay vào bát hương một thẻ nhang không chỉ đơn thuần là bày tỏ sự tôn kính, nỗi nhớ mong mà còn nhằm tạo lập, gìn giữ mối liên kết giữa hữu hình với vô hình.

Bởi xúc phạm, đập phá bát hương có thể dẫn đến những hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, kể cả an ninh, trật tự của cả một khu vực, nên tháng 5 năm 2015, sau khi có hàng trăm bát hương ở Nghĩa trang Kha Lâm (Kiến An, Hải Phòng) và kế đó là Nghĩa trang Dương Nội (Hà Đông, Hà Nội) bị đập nát, nhiều luật sư, cựu thẩm phán cùng cho rằng, cần khởi tố, điều tra hành vi “xâm phạm mồ mả” để an dân (5).

Không phải tự nhiên mà đỉnh hay bát hương chưa bao giờ là đối tượng cần được “chỉnh trang”. Đặc biệt là đỉnh trước tượng một nhân vật như Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn (Trần Hưng Đạo) không đơn thuần là đỉnh. Với cha ông người Việt, Trần Hưng Đạo không chỉ là Anh hùng dân tộc, ông còn là một “Thượng đẳng Phúc thần” phù hộ cho sự nghiệp chống ngoại xâm, bảo vệ quốc gia, dân tộc, trừ tà, sát quỉ (6).

Thờ Đức Thánh Trần là tín ngưỡng dân gian. Một khảo luận của Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2004, cho biết, riêng Việt Nam hiện có khoảng 1.000 cơ sở tín ngưỡng thờ “Đức Thánh Trần” (7). Đền thờ Đức Thánh Trần không chỉ có ở Hải Dương, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hà Nội, Hải Phòng, Thanh Hóa, Thừa Thiên – Huế, Khánh Hòa, Đồng Nai, Vũng Tàu, Bình Dương, TP.HCM,… mà còn ở cả bên ngoài Việt Nam.

***

Đỉnh mới bị dời khỏi chân tượng Trần Hưng Đạo đối diện Bến Bạch Đằng, TP.HCM đã nằm ở đó từ giữa thập niên 1960. Ai cũng biết lý do chính dẫn tới dời đỉnh không phải do “chưa đúng vị trí, chưa trang nghiêm” mà vì còn đỉnh thì còn người đổ đến thắp hương, tri ân liệt sĩ, tưởng niệm đồng bào uổng tử ở biên giới Việt Trung hồi 1979, ở Hoàng Sa 1974, ở Trường Sa 1988.

Dưới mắt hệ thống chính trị, hệ thống công quyền Việt Nam, tri ân liệt sĩ nguy hại cho “di sản quý báu là sự tương đồng ý thức hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc với đặc trưng là một đảng cộng sản lãnh đạo”, nền tảng của “mối quan hệ đặc biệt giữa Việt Nam và Trung Quốc”, “chi phối cách ứng xử của cả hai”, bởi giới lãnh đạo Việt Nam cần có “một người bạn xã hội chủ nghĩa rất lớn bên cạnh ủng hộ và hợp tác” (8).

Tương tự, những buổi thắp hương tưởng niệm đồng bào sẽ khiến “khuynh hướng ghét Trung Quốc, ngại nói điều tích cực về Trung Quốc” trở thành “phổ biến” và “nguy hiểm” vì “bảo vệ chủ quyền lãnh thổ vẫn phải bảo vệ… thành quả cách mạng, giữ quan hệ hữu nghị với Trung Quốc” (9). “Thành quả cách mạng” là tối thượng, không thể có ngoại lệ, kể cả đó là Đức Thánh Trần!

Bảo vệ “thành quả cách mạng” bất chấp luân thường, bất kể đạo lý, làm lấy được, nói lấy được sẽ còn được trong bao lâu? Chưa biết! Chỉ biết lợi rõ ràng là bất cập hại và họa chắc chắn không chỉ đổ vào đầu bà Trần Kim Yến, ông Nguyễn Thiện Nhân. Thêm lần này, không biết bà Yến và những người như bà đã thấm thế nào là mặt trái của “Ăn cơm chúa, múa tối ngày” hay chưa?


Trân Văn
Blog VOA
Chú thích

(1) https://dantri.com.vn/xa-hoi/quan-1-len-tieng-ve-viec-di-doi-lu-huong-truoc-tuong-dai-tran-hung-dao-20190218125620241.htm
(2) http://www.baohoabinh.com.vn/16/111671/Tuong-dai-Bac-Ho-diem-nhan-kien-truc-tren-cong-trinh-thuy-dien-Hoa-Binh.htm
(3) https://vnanet.vn/vi/tin-anh/tin-thoi-su-trong-nuoc-1/dang-huong-tuong-niem-106-nam-ngay-sinh-tong-bi-thu-nguyen-van-cu-262955.html
(4) http://baonamdinh.com.vn/channel/5093/201602/tong-bi-thu-truong-chinh-kien-truc-su-cua-su-nghiep-doi-moi-dat-nuoc-2468351/
(5) http://danviet.vn/tin-tuc/dap-pha-bat-huong-o-ha-noi-hai-phong-som-khoi-to-de-ran-de-580914.html
(6) https://vi.wikipedia.org/wiki/Tín_ngưỡng_Đức_Thánh_Trần
(7) https://daophuongthaoblog.wordpress.com/2017/05/24/su-tho-cung-duc-thanh-tran-hung-dao-o-thanh-pho-ho-chi-minh/
(8) http://tuoitre.vn/khong-ai-quen-loi-ich-quoc-gia-dan-toc-527794.htm
(9) http://thanhtra.com.vn/chinh-tri/doi-ngoai/xu-the-ghet-trung-quoc-nguy-hiem-cho-dan-toc_t114c1065n84289
 

Top ↑ Copyright © 2016. Tiến Bộ - All Rights Reserved
Back To Top ↑