Tin Tức Cập Nhật 24/7

Rút Quân ở Syria – Người Đi Kẻ Đến


Chiến lược, chiến thuật quân sự, tùy mỗi chiến trường, mỗi thời điểm, tùy mục đích lâu dài, mục tiêu ngắn hạn, tùy lực lượng, tùy tình huống và tùy cả hệ tư tưởng, tình hình chính trị hiện tại trong và ngoài nước vân vân… Điều này ai học ở các trường huấn luyện sĩ quan quân đội có thể đã trải qua ít nhiều, và dĩ nhiên tùy ở mức độ lĩnh hội và vận dụng của từng người mà kết quả khác nhau.



Vị trí và suy nghĩ của một ông tướng cho dù là tướng tài, trăm trận trăm thắng cũng chỉ ở trong phạm vi chiến đấu, hoặc đánh hay ngưng như thế nào trong các trận. Còn lãnh đạo tối cao, như Tổng tư lệnh quân đội Hoa Kỳ chẳng hạn, [tổng thống] vừa phải hiểu biết cả toàn bộ tình hình đất nước, sức mạnh kinh tế, tài chánh, quân lương chính trị, đo lường khả năng lợi hại bao nhiêu, đển những gì liên quan đến khả năng quân sự,... trước khi làm một quyết định tối hậu đầy khó khăn.

Truyền thông bát nháo thì khỏi nói, vì nó không đứng vào hàng nào cả, trong chiến lược quân sự. Bùm! chỗ này bao nhiêu người chết; Bùm! chỗ kia giặc chạy són đ…, bắn c..t, sút quần! Hay đùng đùng! loại đạn này, loại súng kia, quân ta, quân địch ai thua, ai thắng, thiệt hại tới đâu, vân vân…, Đó là việc làm của truyền thông.

Nhưng như chúng ta đã thấy, thời nay nhiều vị tự lãnh luôn nhiệm vụ quân sư quạt mo cho Tổng tư lệnh quân đội hùng mạnh nhất thế giới [HK], trên mấy cái FaceBook hay trên mặt báo, trên đài TV. Nghe tổng thống HK đưa ra quyết định rút quân khỏi Syria, thì tràn ngập lời chỉ trích, nào là sai lầm; nào là bỏ rơi đồng minh, ông Trump không biết gì cả, hoặc thậm chí, có cụ gốc ‘Mít’ đưa ra ý kiến rằng:

Ông Trump bị công chúng chỉ trích mãnh liệt, kể cả trong nội bô đảng Cộng Hòa. Ông Trump chỉ cần tái đắc cử trước. Ông không có bạn, không có đồng minh, chỉ cần giao dịch, mặc cả. Hễ thấy có lợi cho cá nhân là cứ làm!

Chỉ vài câu, đã tự khoe cái hồ đồ chính ình ra đó rồi: Ông Trump cần thắng cử trước thì sao lại bất chấp dư luận chống đối MÃNH LIỆT? (điều này tác giả Vũ Linh đã làm công đức rồi). “Không có bạn, không có đồng minh!” Bạn gì ở đây? Đồng minh gì? Đồng minh nào ở đây? “Còn hễ thấy có lợi cho cá nhân thì cứ làm”. Lợi gì cho cá nhân ông Trump ở đây?... Quý độc giả nghĩ giùm xem, quần chúng người Việt ở đây, đa số những người ít biết tiếng Anh, được giúp đỡ gì qua các bài báo bèo nhèo như thế? Lẽ nào họ đã quen xem người dân là những cái thùng chứa rác xã hội!

Còn các ông bà dân biểu, nghị sĩ, lên tiếng vì nhiệm vụ của họ là nói lên ý của một số cử tri ở vùng mà họ đại diện, nhiều khi chỉ là suy nghĩ của cá nhân, có thể đúng, có thể không, nhưng chắc chắn một điều không tránh khỏi là vì chính trị, cụ thể là chiêc ghế của họ. Họ đã nghiên cứu vấn đề kỹ càng chưa? Chưa chắc!... Chính trị gia chỉ cái mồm tranh luận, làm luật, hàng ngày loanh quanh bên mấy đống tài liệu, đi lòng vòng trong hội trường, chứ không ở chiến trường.

Các ông tướng tá chỉ giỏi về đánh trận, nhưng không phải là người hiểu hết những vấn đề liên quan đến rất và rất nhiều mặt của đất nước. Ông có thể phát biểu ý kiến chê - khen, nhưng ông không có trách nhiệm cho sự tồn vong của cả quốc gia.. Chỉ có chỉ huy trưởng - ở đây không phải là chỉ huy trưởng một mặt trận, mà là người đòi hỏi có kiến thức tổng hợp và chịu trách nhiệm với cả quốc dân, không phải chỉ bây giờ mà trước lịch sử.

Ông Trump dĩ nhiên đã nghe thuyết trình tình hình, ngọn ngành trước sau của một cuộc chiến và ảnh hưởng của nó đối với từng con em đang cầm súng dưới tay mình, và cả vận mệnh quốc gia, trước khi chọn lựa một quyết định, nhiều khi khó khăn vô cùng. Ở cạnh tổng tống trong Tòa Bạch Ốc chưa chắc biết hết mọi điều. Đó là chưa kể việc binh ‘nói thiệt mà lại hư, nói hư mà lại thiệt’. Nhà báo biết được bao nhiêu, mà chỉ chỏ ầm cả lên, ông Trump thế này hay ông Trump thế kia? Họ không cần biết nhưng chúng ta thì cần biết để khỏi bị bọn họ lừa.

Trước khi đưa ra những nhận định dễ nghe về lệnh rút quân của Tổng thống, có lẽ chúng ta nên bình tĩnh kiểm tra lại hiểu biết căn bản về nơi, có thể nói là nồi xôi trộn đậu đen, đỏ, trắng … ở Syria, cũng như Trung Đông của thế giới tôn giáo phức tạp, huynh đệ tương tàn trên đường đến cổng thiên đàng thánh thiện.

Trước hết là nghĩ thế nào về hai chữ BẠN và ĐỒNG MINH?:

Truyền thông thổ tả Mỹ (TTTT) lừa mị, và một số vị trong giới mà người Việt thường xếp vào hạng “nói láo ăn tiền” đã mê lầm khi lấy cái tình bạn, trong bạn thân, hay xem tình đồng minh như tình đồng chí trong đảng CS, hay đồng minh trong tiệc nhậu, làm cơ sở để chỉ trích ông Trump từ lúc gieo giống cho đến mùa thu gặt. Kiểu tình cảm BẠN BÈ đơn giản, chân chất như thế, hoặc sự ràng buộc trong mối quan hệ gọi là ĐỒNG MINH giữa các quốc gia theo kiểu suy nghĩ quê kệch như thế, không có chỗ đứng trong quan hệ giữa các nước, hay trong chính trị.

Gặp những bài viết lấy tình tự này làm căn cứ để chê trách người này hay kẻ kia trong chiến trường hay chính trường, tốt hơn hết là sớm vứt ngay vào sọt rác – và cũng đừng bỏ lộn vào thùng recycle, vì máy xay cũng không nhận nổi. Bởi BẠN ở đây còn cộng thêm ẩn số chính trị và quyền lợi quốc gia, như người tùy thời tiết và môi trường mà sổ mũi, nhức đấu, ho hen khác nhau; ĐỒNG MINH cũng vậy, có nhiều cấp độ và giới hạn khác nhau tùy sự giao kết, phân chia trách nhiệm, và quyền lợi đối với từng quốc gia, chưa kể đến mức độ tuân thủ khác nhau, tùy trường hợp. Nó không được lắp đặt như máy vi tính, hoặc như bài toán lớp một 2+2 nhất định phải là 4!

Thứ đến, khi làm một quyết định lớn, dĩ nhiên người ta có lý do nhất định. Trước khi đưa ra nhận định gì, điều cốt lõi lá phải biết lý do, nguyên nhân xa gần của vấn đề. Thiếu hiểu biết này mà phê phán thì thật là hồ đồ, cãi bướng như những gã mù sờ voi, dễ thường đã bị TTTT cấy cho cái bệnh ghét Trump đi hành nghề chửi mướn.

Bây giờ điều mà chúng ta cần tìm hiểu là quan hệ Hoa Kỳ với người Kurd ở Syria như thế nào? Câu hỏi như thế chưa đủ; phải hỏi rằng người Kurd ở Syria có bao nhiêu nhóm, mỗi nhóm khác nhau thế nào, và Hoa Kỳ cùng chiến đắu với nhóm nào, và vì sao? Ngoài ra còn phải biết Thổ Nhĩ Kỳ (TN. Kỳ) muốn gì và tại sao?

Sau khi đế chế Ottoman sụp đổ, vào những thập niên 1990 sau Đệ Nhất Thế Chiến, ý niệm thống nhất người Kurd mới hình thành. Mãi cho đến nay họ bị mắc kẹt như một cộng đồng thiểu số ở khắp các vùng đồi núi của các quốc gia như Thổ Nhĩ Kỳ (TN.Kỳ), Iraq, Iran và Armenia. Họ có khoảng 35– 40 triệu người, dân số lớn thứ tư ở Trung Đông. Họ không có đất nước hẳn hòi, chưa có một phương ngữ chính thống, nhưng chỉ là cộng đồng dựa trên chủng tộc, tập tục văn hóa và ngôn ngữ. Đại đa số người Kurd theo Hồi giáo, hệ phái Sunni/Muslim. Nỗ lực mang lại một nhà nước độc lập của họ suốt thế kỷ 20 đều bị phá vỡ.

Ở Syria, người Kurd chiếm khoảng 10% dân số, hầu hết sống ở Damacus và Aleppo trước khi cuộc nổi dậy chống Tống thống Bashar al-Assad (2011). Ở đây họ cũng không có quyền công dân cơ bản. Đất của họ bị trao cho người Ả Rập để dần hồi ‘Ả Rập hóa’ khu vực.

Dưới thời Tổng thống Trump, Iraq đã thông qua một cuộc trưng cầu dân ý về độc lập của người Kurds vào ngày 25/9/2017. Ý tưởng độc lập đã bị các nước láng giềng Iran, TN.Kỳ, Syria phản đối trong suốt chiều dài lịch sử, vì lo ngại người Kurd sẽ dấy lên phong trào ly khai ở trong nước của họ.

Cách đây 70 năm, Quốc gia TN.Kỳ đã lập một hiến pháp phủ nhận sự tồn tại của các sắc tộc có văn hóa khác biệt với văn hóa chính thống. Người Kurd đã bị đàn áp, cao điểm là đến năm 1991, họ bị cấm sử dụng ngôn ngữ riêng và những ai có bất cứ biểu hiện nào về dân tộc đều bị cầm tù. Người Kurd mon men đến chính trị, và thành viên của phe nhóm chính trị bị xem là tội phạm.

Hiện nay có nhiều tổ chức của người Kurd phải nói là ‘tùm hum’, và mỗi phe nhóm có nền tảng tư tưởng, đường lối riêng, đều có vũ trang, và đối với nhau bạn thù nhiều khi nóng lạnh bất phân, như PKK, PDK hay KDP, PUK, PYD, YPG, KRG bên cạnh còn có anh em rất đặc biệt là ISIS cũng từ một tôn giáo- Hồi giáo (HG) mà ông Trump gọi huỵch toẹt là Khủng bố HG Cực đoan, còn Obama và DC sợ phạm húy kỵ nên xá dài, gọi là đội bóng trung học (JV Team) chứ không bao giờ dám gọi đích danh.

Đọc thuộc hết tên các tổ chức rối như đống bùi nhùi, dễ mất mấy viên Advil như chơi. Họ là ai, ra đời từ lúc nào, họ muốn gì và đặc biệt là có quan hệ với HK như thế nào?

1. PKK: Đảng Công Nhân người Kurd (Kurdistan Workers’ Party) (1978)

Sự ngăn cấm và ‘phá thai tư tưởng’ thái quá ở Thổ quốc đã khiến người Kurd ở đây đẻ ra một đứa con hoang của Liên Bang Xô Viết cũ - phong trào ly khai ngoài vòng pháp luật, có vũ trang gọi là Đảng Công Nhân, hình thành năm 1978 gọi là PKK (Partiya Karkerên Kurdistanê = Kurdistan Workers’ Party) có tư tưởng cực tả, nói ngay là tư tưởng cộng sản (Maxism – Leninism) còn có thêm tín ngưỡng thuần túy HG, có cơ sở trong TN.Kỳ và cả Iraq. Từ 1984 tổ chức này xung đột vũ trang với Thổ quốc và đòi độc lập. Sau khi thỏa thuận ngưng bắn 2013 -2015 thì chỉ đòi quyền bình đẳng và tự trị ngay trong lãnh thổ của TN.Kỳ. Tuy nhiên sau đó tháng 3 năm 2016 đã thề lật đổ chính phủ Thổ. Chính phủ TN.Kỳ rất nghiêm khắc với tổ chức này.

Điều cốt lõi thứ nhất xoay quanh vấn đề rút quân: Đến năm 2002 PKK, bị các nước liệt kê vào danh sách tổ chức khủng bố, bao gồm TN.Kỳ, Hoa Kỳ, Nhật Bản, và Liên minh Châu Âu. Còn Liên Hợp Quốc và Thụy Sĩ, Trung Quốc, Ấn Độ, Nga và Ai Cập, không đồng quan điểm. Đây là tổ chức mà TN.Kỳ quyết tâm truy đuổi mãi cho đến ngày nay.

2. PDK hay KPD: Đảng Dân Chủ của người Kurd (Kurdistan Democratic Party) thành lập năm 1946

tại Mahabad ở Iran Kurdistan, với tuyên bố kết hợp các giá trị dân chủ xã hội. KDP đã từng được mô tả là một đảng bộ lạc, phong kiến và quý tộc, được kiểm soát bởi bộ lạc Barzani.

3. PUK: Đảng Liên Minh Yêu Nước (Patriotic Union of Kurdistan) thành lập:22/5/ 1975

tại Kurdistan ở Iraq bởi Adel Murad, Nawshirwan Mustafa, Ali Askari, Fuad Masum, Jalal Talabani và Abdul Razaq Feyli, đồng sáng lập PUK, là Tổng thống Iraq từ 2014 đến 2018. Mục tiêu là quyền tự quyết, quyền con người, dân chủ và hòa bình cho người Kurd ở Kurdistan và Iraq. Puk liên minh với ít nhất là năm tổ chức khác, có cả nhóm Marxist-Leninist bí mật của Nawshirwan Mustafa, Komala, và Phong trào Xã hội Chủ nghĩa Kurdistan (KSM),…

4. PYD: Đảng Liên minh Dân chủ (Syria) (Democratic Union Party (Syria) thành lập 20/9/2003

tại miền bắc Syria, sáng lập của Cơ quan điều phối quốc gia thay đổi dân chủ. Trung tâm Carnegie Trung Đông mô tả là "một trong những đảng đối lập người Kurd quan trọng nhất ở Syria"- đảng chính trị hàng đầu trong Liên đoàn Dân chủ Bắc Syria và các khu vực. Đảng PYD tuyên bố không đeo đuổi độc lập nhưng chỉ đòi quyền hợp pháp và tự trị sau khi chấm dứt chiến tranh Syria.

5. YPG: Đơn Vị Bảo Vệ Nhân Dân (People’s Protection Units) thành lập 2004

Điều cốt lõi thứ hai xoay quanh vấn đề: Đơn vị Bảo vệ Nhân dân (People’s Potection Unit) tương tự Nhân Dân Tự Vệ, có tư tưởng DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Lực lượng YPG này nhen nhóm từ địa phương của người Kurd ở Syria sau khi nội chiến nổ ra, gồm nhiều thành phần dân tộc và tôn giáo, giới tính khác nhau trong đó người Kurd chiếm đa số, và dùng chiến thuật du kích, hiện được gọi là Rojava, hoặc Tây Kurdistan.

Điều quan trọng trong cuộc chiến tiêu diệt ISIS ở Iraq và truy đuổi tới Syria là Hoa Kỳ ủng hộ nhóm nào, và vì sao?

Trong khi YPG bị đẩy lùi và ISIS thắng thế, các quốc gia liên minh do Hoa Kỳ đứng đầu nhảy vào, hỗ trợ không lực và cung cấp thiết bị quân sự và TN.Kỳ cho phép các Đơn vị Peshmerga quá cảnh TN.Kỳ, để hỗ trợ YPG, vòng vây của ISIS bị phá vỡ và YPG đã kiểm soát Kobane (2015). Chiến thắng này đã mang lại tiếng tăm vang dội và tầm vóc cho YPG trên toàn thế giới về chống ISIS và các nhóm phiến quân khác.

Cuối năm 2015, YPG thành lập Lực lượng Dân chủ Syria theo sự thúc giục của Hoa Kỳ, như một nhóm ô dù để kết hợp tốt hơn người Ả Rập và các thiểu số vào nỗ lực chiến tranh chống ISIS.

Điều thứ ba xoay quanh cốt lõi của vấn đề rút quân: Trong năm 2016 2017, thời TT Trump mở chiến dịch cáng quét ráo riết cùng Lực lượng Dân Chủ Syria (SDF/Syrian Democratic Forces) dưới sự yểm trợ mạnh mẽ và dứt khoát của HK, đã quét sạch quân khủng bố ISIS, trong thời gian ngắn nhất và chiếm lại thủ phủ Raqqa. YPG trở thành lực lượng "hiệu quả nhất" trong việc chiến đấu với ISIS ở Syria.

Điều rốt ráo thứ tư xoay quanh cốt lõi của vấn đề: Trớ trêu thay, trong cuộc nổi loạn ở TN.Kỳ 2015, TN.Kỳ đã biết YPG và cáo buộc tổ chức này là tay chân của Đảng Công nhân người Kurd (PKK) (CS Mác-Lê). Tổng tư lệnh lực lượng đặc biệt của quân đội Hoa Kỳ Raymond A. Thomas tại Diễn đàn an ninh Aspen vào tháng 7 năm 2017,cũng đích thân cho biết YPG là một nhánh của PKK, - bị chính phủ Hoa Kỳ xếp vào danh sách khủng bố. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter đã xác nhận "mối quan hệ đáng kể" giữa PYD / YPG và PKK. Làm chứng trước Đại hội Ủy ban Tình báo Thượng viện Hoa Kỳ, Giám đốc Tình báo Quốc gia Daniel Coats, quan chức tình báo hàng đầu của Hoa Kỳ, cũng đã xác định rõ ràng YPG là "lực lượng dân quân của PKK tại Syria. Lại cũng là bài học quen thuộc của Mác-Lê ở xứ ta, Quân giải phóng miền Nam và quân VNDCCH ở miền Bắc. TN.Kỳ khẳng định YPG là tổ chức khủng bố, và năm 2018 TN.Kỳ đã chiếm được phần lớn Afrin Canton từ tay YPG.

6. KRG: Chính Quyền Khu Vực Kurdistan (Kurdistan Regional Government) thành lập 1992

Tổ chức chính quyền của người Kurd không mấy liên quan đến vấn đề rút quân mà chúng ta bàn đến hôm nay.

Đến đây, để không trùm chăn chung với thầy bói sờ voi, hay chung giường bệnh ghét Trump hóa hồ đồ, chúng ta có liều thuốc ngừa gồm năm viên, trích ra từ các phần trên:

Thứ nhất: PKK: Đảng Công nhân của người Kurd, có cái tên nghe hay, nhưng mọc lên từ đất Marxism – Leninism. Ai không biết thì chúng ta không cần bận tâm, vì nhât định không phải là người Việt.

Thứ hai: YPG: Đơn vị Bảo vệ Nhân Dân, lại một cái tên nghe mát tai nữa, nhưng cũng là anh hai tổ chức DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA, tay chân của PKK, xem như “tứ hải giai huynh đệ”, tuy xa mà gần hệ phái của cụ Bernie Sander, AOC cũng như nhiều vị khác ở Hoa Kỳ.

Thứ ba: Hoa Kỳ và các quốc gia Liên Âu tạm gát sự khác biệt tư tưởng chính trị, hỗ trợ cho YPG và Lực Lượng Dân chủ Syria (SDF) vì chiến dịch càn quét ISIS. Nay ISIS đã tan, chiến dịch hoàn tất, hậu quả rút quân vội vàng ra khỏi Iraq của chính quyền Obama không còn trực tiếp đe dọa HK nữa.

Dĩ nhiên, ISIS hoặc có thể có thêm những cái “xít’ khác sẽ lòi ra lại, vì bản chất xung đột mang tình tự lịch sử tôn giáo, chủng tộc ngàn năm phức tạp không dứt. Và không có vị thánh nào giải quyết được chứ đừng nói đến quân đội hay chính trị gia HK.

Đến đây quý vi nào còn muốn chi tiền, và đem sinh mạng con em mình, cơm ăn - cơm dỡ canh chừng những cái ‘xít’ từ mớ bòng bong ấy cho các dân tộc ở Syria thì tình nguyện. Xin đừng múa mép, bảo con em người ta hy sinh, chỉ vì thỏa mãn cho cái tâm đố kỵ của mình!

Thứ tư: Cả TN.Kỳ và HK đều xác nhận tổ chức YPG song hành chống khủng bố, được HK và các nước liên minh hậu thuẫn, lại là chi nhánh của tổ chức khủng bố lớn PKK.

PKK có khả năng đe dọa an ninh trong vùng, và nhất là nước Thổ như họ đã từng làm qua mấy cuộc bạo động và đòi lật đổ chính quyền. Và TN.Kỳ là nước đã và đang không ngừng truy đuổi. 50 binh sĩ đặc biệt của HK dù có bám trụ nằm ở vùng đệm ở biên giới Syria và TN.Kỳ không thể nào cản được chiến dịch của quân Thổ trong chiến lược bảo vệ quốc gia và giải quyết những vấn đề mà chính quốc gia họ gặp phải.

Theo lẽ phải thông thường, tỷ tỷ năm bất di, bất dịch, để sinh tồn, hoặc để giải trừ một mối nguy chung, trong khi đối đầu với kẻ thù chung nguy hiểm nhất, các phe nhóm thường tạm thời gác lại những khác biệt, tận dụng những lợi điểm của riêng, tạo thế đâu lưng thành sức mạnh. Sau khi kẻ thù chung bị tiêu diệt thì các phe nhóm thường quay sang đối mặt thành thù, tranh gianh quyền lợi phe nhóm. HK ở lại để chia phần hay rút lui? Qúy vị chuẩn bị để cho biết ý kiến ở phần cuối nha. Ở Syria riêng người Kurd đã có từng ấy phe nhóm, lịch sử mấy trăm năm, nay hòa mai đánh, hoà bình hay không, giải pháp nào cho họ, dĩ nhiên không phải HK ăn nằm ở đó mà quyết định được.

Thứ 5: Vấn đề con lại cả ngàn tù nhân ISIS, kể cả vợ con của họ gốc gác là công dân của các nước Liên Âu.

Vấn đề hậu chiến tranh, giải quyết thế nào? Ai chịu trách nhiệm? Không nước nào chịu nhận công dân có biệt tài cảm tử của họ về, để thực hành nhân đạo kiểu chính trị mà họ thường nói trong khi công kích ông Trump. Họ bảo HK lãnh luôn, và Tổng thống Trump đã giải quyết dứt khóat cái một, không cần do dự: “NO!” - ông sẽ không mang về trại Guantanamo Bay, hay nơi nào khác ở HK. Ông bà, anh chị nào nói rằng ông Trump thiếu tình bạn, hay tình đồng minh, đồng chí, đồng rận thì hãy trích mấy đồng tiền dư, hay bớt weo-phe của riêng mình ủng hộ đi nha!

Tin cho hay rằng, một số tù nhân nói trên đã trốn thoát trong khi quân Thổ tấn công vào Syria, và các đài báo lại cứ việc đổ lỗi tại ông Trump. Sao không biết hỏi lại, quân đội HK, con em chúng ta có phải là người canh ngục cho Syria hay người Kurd không? ISIS truy đuổi đến chân tường Syria, hầu hết chỉ còn tư tưởng ISIS. Nó là nguy cơ chung cho các nước liên quan trong vùng. Họ có nhu cầu tiêu diệt hơn HK – một nước mạnh không ai vói tới, cách xa hơn bảy ngàn dặm. Bây giờ đến phiên họ. Còn Liên Hiệp quốc và các nước cho rằng PKK không phải là khủng bố thì để cho Liên HIệp Quốc giải quyết thử đi nha. Được hông?

HK còn có nhiều vấn đề - hậu quả của chính quyền cũ để lại - phải lo xây dựng kinh tế, đời sống của dân, văn hóa, xã hội, tái thiết đất nước, như di dân bất hợp pháp, biên giới, xây dựng quốc phòng sửa lại các Hiệp ước thương mại, nhất là đối đầu với Trung Cộng, Bắc hàn, và Iran.

Nói đến Iran kẽo quên đi mất. Iran cũng là một trong những yêu tố chiến lược có liên quan đến việc rút quân của Tổng thống. Chiến trường ở Syria và Afghanistan là những cuộc chiến không bao giờ thắng trọn vẹn, không bao giờ chấm dứt, chấm dứt rồi sẽ nổ ra vì yếu tố lịch sử dân tộc và tôn giáo. Đã biết thuốc không hiệu quả sao không chịu đổi toa? Có ai trói chân đâu mà không chịu thay đổi chiến lược?

Bây giờ, theo dấu chân của Tổng thống Trump chúng ta có thể hiểu, rút quân ở các nơi này để tái phối trí lại các quân cờ. Iran từ lâu đã đợc xem là một trong ba Trục Ác ma. Iraq tốn kém nhưng kể như đã xong, Bắc Hàn cũng kể như đã một bước vào quỹ đạo. Còn lại trục Iran. Đã biết đó là cái trục quay, tại sao không tập trung lực lượng kinh tế, tài chánh, quân sự bao vây để bẽ gãy cây trục, mà lại phân tán lực lượng đi lượm những cục chì ở đầu dây quay, như quân khủng bố Houti ở Yemen, Hamas ở Palestin, Hezbollah hay các tổ chức khác ở Syria dưới tay Iran.

Bình dân lương thiện, chúng ta cũng đừng quên rằng, hơn ba mươi trước khi ra ứng cử, ông Trump đã nhìn thấy và nói đến các vấn đề quốc gia. Lời hứa rút quân khi vận động tranh cử bây giờ ông thực hiện không phải là bốc đồng mà đã nghiên cứu từ lâu rồi. Thông minh, tài tình và yêu nước hay không, bình dân hãy tự nói đi nha.

Bây giờ thử cào lại cho sạch rác xem sao. Tổng thống Trump chịu khó vâng lời các quân sư quạt mo gốc Mít, bỏ lệnh rút quân cho đẹp tình bạn, vui lòng đồng minh – HK tiếp tục hy sinh nhân mạng và tiền thuế của chúng ta ra gánh vác những nơi hoang tàn, đổ nát, không xơ múi gì, mà lòng người đầy thù hận xâu xé, tranh giành không ngớt, chỉ để được vỗ tay khen như đã từng….

Vâng lời quý vị quân sư quạt mo, chiến dịch xong rồi, gác bỏ khác biệt dựa thằng một thằng khủng bố mới để đánh kẻ thù khủng bố cũ xong rồi, HK ở lại, để nhất định phải cõng nhánh Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa YPG, con của khủng bố PKK làm anh em - gọi là đồng minh mà qúy vị chỉ trích TT Trump bỏ rơi hay là co giò chạy lẹ?

Hoa Kỳ ở lại để phải gánh trách nhiệm tái thiết Syria, Tổng thống HK chỉ huy con em người Mỹ làm nhiệm vụ gác gian ở biên giới trong khi đó Nga và Syria [Putin và Assad] chễm chệ trên ghế Tổng thống ở thủ đô Damacus, ca hát nhảy đầm. Quý vị nghĩ thế nào? Con em của chúng ta nên ở hay nên đi? Hãy gửi thư cho TT Trump đòi ông ta liệt kê xem có xơ múi gì ở Syria không nha.

Nga đã cười ruồi khi vượt lằn ranh đỏ của Obama, tranh giành Al Assad – Syria, bây giờ đến giai đoạn vừa chuẩn bị chống những cái “XÍT” [ISIS] tương lai và tái thiết đât nước hoang tàn do chính bọn họ gây ra, Hoa Kỳ giành với họ để làm gì chứ? Quý vị quân sư quạt mo lên tiếng đi nha.

Rốt ráo, HK và TN Kỳ có điểm tương đồng là không chấp nhận khủng bố YPG hay PKK và nhất là tư tưởng Dân chủ xã hội chủ nghĩa - cộng sản trá hình. Đặc biệt hơn nữa, đối với TT Trump rất nhạy cảm về tư này. Chịu khó suy nghĩ một chút HK rút quân và Thổ Nhĩ Kỳ tấn công, không phải là hai mà mặc nhiên là một, bên giao bên nhận. Tổ chức song hành được HK yễm trợ trong chiến dịch diệt trừ ISIS ở Syria không thể là đồng minh hiện nay, và cả trong tương lai. Các ông bà đại diện đã nghiên cứu chưa là một câu hỏi chưa được trả lời chứ đừng nói chi TTTT và truyền thông gốc Mít bị bệnh ghét Trump chưa khỏi!

Bình dân nghĩ xem, bỏ bạn, bỏ đồng mình có phải là một nhận định hồ đồ không nha. Báo lớn nói ư? Đài bự nói ư? Cũng là những cái đầu, chúng ta cũng có những cái đầu vậy!

Không nói lên ý riêng của mình e sẽ bị cho là không có ‘phe-r.’ Thôi thì xin ‘Ton Ton’ sắp xếp gọn gàng, rút lẹ lẹ về và tập trung lực lượng để bẽ quách cái trục thứ ba như ‘Ton Ton’ đã và đang tính. Tôi hiểu mà!


Vĩnh Tường
Blog Diễn Đàn Độc Lập

Thơ Lục Bát Còn, Tiếng Việt Còn


Hỡi cô tát nước bên đàng,
sao cô lại múc trăng vàng đổ đi?

(“Trăng quê”, Bàng Bá Lân)


“Cho tôi xem qua bài lục bát nào của anh/chị, tôi sẽ nói được ít nhiều về anh/chị.” Câu ấy tôi vẫn nói với những người làm thơ quen biết, và có lý do để mạnh miệng như vậy. Không chỉ “văn là người” mà cả đến thơ cũng là “người”. Hơn thế nữa, bài lục bát ấy cũng nói cho tôi biết ít nhiều về “tay nghề” của tác giả.

Thế nhưng, vì sao là lục bát mà không phải thể thơ nào khác? Chỉ vì, thơ lục bát “dễ làm, khó hay”, và là một thử thách cho người làm thơ. Qua một bài lục bát, dẫu tân, cổ kiểu nào, bản lãnh của người làm thơ thể hiện rõ nét hơn bất kỳ thể thơ nào khác.

I. Từ Ca Dao Đến Hồn Nhiên Lục Bát

Thơ lục bát dễ làm, khó hay, nhiều người vẫn đồng ý như vậy, nhưng không chắc đã đồng ý với nhau thế nào gọi là “hay”.

Biết thế nào là bài thơ, câu thơ hay? Khen một bài thơ hay cũng giống như khen bức tranh đẹp, dễ rơi vào chủ quan. Người này nói đẹp, người kia nói không đẹp. Đẹp xấu, hay dở thế nào là tùy thuộc cảm quan nghệ thuật, khuynh hướng thẩm mỹ của từng người. Cũng tựa như nghe nhạc vậy, người yêu bài này, kẻ thích bài kia. Người yêu “tuyệt phẩm bolero”, kẻ thích “dòng nhạc thính phòng”… Mỗi người mỗi tánh mỗi ý, câu thơ có chạm được vào trái tim người yêu thơ hay không là tùy vào cung bậc cảm xúc của từng người.

Thơ lục bát cũng có lục bát sến, lục bát sang, lục bát truyền thống, lục bát hiện đại, lục bát cổ điển, lục bát tân kỳ, lục bát dung tục, lục bát tấu hài… Mỗi người “tự chọn” lấy những bông hoa mình yêu thích trên cánh đồng thơ lục bát.

Nhiều bài, nhiều câu lục bát được lắm người tán tụng, trầm trồ, thế nhưng tôi đọc chẳng thấy chỗ nào hay ho hoặc chỉ hay vừa vừa. Ngược lại, nhiều bài, nhiều câu lục bát tôi yêu thích nhưng không chắc đã được người khác chia sẻ. Tôi nhớ, một tờ báo mạng “chuyên trị” về thơ lục bát có tuyển chọn ra “1.000 câu thơ lục bát để đời”, hoặc một tờ báo khác làm công việc bình chọn “99 bài thơ lục bát hay nhất thế kỷ”. Không rõ việc bình chọn dựa trên những tiêu chuẩn nào và kết quả thế nào, riêng tôi vẫn cho là việc này không dễ và kết quả việc “bình bầu cá nhân xuất sắc” ấy không chắc được sự đồng thuận của người yêu thơ và làm thơ, nhất là những nhà thơ không thấy… tên mình trong số tác giả được tuyển chọn.

Dường như những bài thơ hay ngày càng ít đi, nhiều lắm chỉ nhặt ra được một đôi câu trong một bài. Người đọc khó mà nhớ được trọn bài thơ nào là vậy. Bài lục bát duy nhất tôi nhớ được trọn bài là “Hoa cỏ may”của thi sĩ Nguyễn Bính, gồm một câu “lục” và một câu “bát”:

Hồn anh như hoa cỏ may
một chiều cả gió bám đầy áo em

Thơ hay, một hai câu cũng hay.

Người viết nhớ đâu ghi đó những câu lục bát dẫn ra trong bài. Người đọc, như trên đã nói, có thể thấy hay hoặc không hay, thấy thích hoặc không thích. Việc dẫn giải những câu thơ trích dẫn, nếu có, chỉ vắn tắt. Dù sao, “bắt” được một, hai câu lục bát hay, với người yêu thơ, cũng là điều thú vị. Mong được như vậy.

1. Lục Bát Dân Gian

Hỡi cô tát nước bên đàng,
sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?

Có tài liệu nói rằng câu thơ trên không phải là câu ca dao quen thuộc như nhiều người vẫn tưởng mà là câu lục bát trong bài thơ “Trăng quê” của thi sĩ Bàng Bá Lân in trong thi tập đầu tay Tiếng Thông Reo, xuất bản năm 1934 ở Hà Nội. (Câu thơ Bàng Bá Lân có khác hai chữ: Sao cô lại múc trăng vàng đổ đi?).

Lại có người cho rằng câu ca dao Trăng bao nhiêu tuổi trăng già / Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non? là câu thơ của thi sĩ Tản Đà.

Những nhầm lẫn này cho thấy nhiều câu lục bát về tình tự dân tộc rất gần với ca dao.

Từ lúc nào, từ nơi sâu thẳm nào trong tâm hồn người Việt đã thấm đẫm nguồn thơ lục bát bàng bạc trong kho tàng ca dao, trong nhiều bài đồng dao, trong lời mẹ ru con bên vành nôi. Nguồn thơ lục bát, trong nghĩa ấy, là nguồn cội dân tộc.

Tôi nhớ đã phải lòng lục bát từ thuở được làm quen với những câu ca dao trữ tình mà nhiều người quen gọi là “lục bát dân gian”. Bên dưới là những câu lục bát thẳng cánh cò bay mà không khéo lắm người lại tưởng rằng… ca dao.

Không trầu mà cũng chẳng cau,
làm sao cho thắm môi nhau thì làm

(Được yêu như thể ca dao, Nguyễn Duy)

Lòng anh quanh quẩn bờ rào,
như con bươm bướm bay vào bay ra

(Cảm ơn, Viên Linh) Hay là:

Thôi thì em chẳng yêu tôi,
leo lên cành bưởi nhớ người rưng rưng

(Động hoa vàng, Phạm Thiên Thư)

(“Nhớ người rưng rưng” mới thật là hay, không phải “khóc người rưng rưng” như lời của bài nhạc phổ thơ).

Trăng tròn từ thuở mười lăm
em tròn từ thuở anh nằm tương tư

(Trăng, Bắc Phong) Hay là:

Chỉ tại con mắt lá răm
nên tằm mới chịu ăn nằm với dâu…

Chỉ tại cái nết không chừa
thế nên trúc cứ lẳng lơ với mành

(Trăm dâu cứ đổ đầu tằm, Ngô Tịnh Yên)

Mùa thu mây trắng xây thành
Tình em mầu ấy có xanh da trời

(Thu 1954, Hoàng Hải Thủy)

Cái đẹp của thơ lục bát là vẻ đẹp tự nhiên, không cầu kỳ kiểu cọ, không chải chuốt điệu đàng.

Cái hay của thơ lục bát là cái hay của vẻ đơn sơ, bình dị, như tâm hồn chân chất mộc mạc của người dân Việt.

2. Lục Bát Qua Cầu Gió Bay

“Mỗi người Việt là một thi sĩ”, tôi ngờ rằng “thi sĩ” trong câu nói ấy nhiều phần là thi sĩ của thơ lục bát, của những lời thơ tựa những lời lẽ người ta thốt ra một cách tự nhiên mà nghe thật ngọt ngào, dịu dàng và êm tai.

Anh đã có vợ hay chưa
mà anh ăn nói gió đưa ngọt ngào?

(Ca dao)

Theo cái nghĩa này, ai cũng có thể làm thơ được dễ dàng mà không nhất thiết phải là thi sĩ, thậm chí không nghĩ rằng mình đang làm thơ. Già trẻ lớn bé gì cũng đều làm thơ lục bát được, và trong số những bài thơ ấy ta nhặt ra được không ít những lời thơ “gió đưa ngọt ngào”.

Câu thơ lục bát hay là câu thơ đọc “vèo” một cái thấy hay hay, đến chừng ngoái lại mới hay là mình vừa bước “qua cầu gió bay” một… câu lục bát.

Cái hay trong thơ lục bát là cái hay tự nhiên, hoặc được dụng công thật khéo để mang vẻ tự nhiên. Nhiều câu lục bát đọc lên nghe khơi khơi, nghe thật hồn nhiên như… lục bát:

Còn điếu thuốc này nữa thôi,
đốt lên anh chúng ta ngồi hút chung

(Chuyện mùa xuân muộn, Thái Phương Thư)

Tôi về đây nhớ chiều xanh,
con chim nào hót trên cành khô kia

(Giọng sầu, Hoài Khanh) Hay là:

Đi trong chiều cuối tháng tư,
nắng Montréal đẹp y như Sài Gòn

(Dạo phố Sainte Catherine, Luân Hoán)

Tháng mười gió bén như dao
Cắt rơi chiếc lá thả vào lòng tôi

(Nhớ nhà, Quan Dương)

Tình ơi, về lại tháng ba
ghé thăm một chút cho ta đỡ buồn
Lục trong ngăn kéo, thỏi son
tình đi ngày ấy hãy còn bỏ quên

(Tình ơi, Lâm Chương) Chưa hết:

Lòng còn thơm ngọn gió quê
thổi đâu từ thuở bờ tre mới trồng

(Năm mới, Phan Ni Tấn)

Trầu ơi, xanh lá cho mau
cho duyên con gái thắm màu vôi yêu

(Chiều thơm, Như Thương) Vẫn chưa hết:.

Mùa thu có lá ngô rơi,
có đôi người mới thành đôi vợ chồng

(Hoa bưởi xóm Chùa Đào, Y Dịch).

Mười năm không trở lại nhà
Bóng trưa nghiêng đổ, tiếng gà trong mơ

(Trăng ý, Tần Hoài Dạ Vũ)

Những câu lục bát như thể “gió đưa cành trúc la đà”, như thể “cánh cò bay lả bay la” trên ruộng lúa mênh mông.

II. Ngôn Ngữ Thơ Lục Bát

Ngôn ngữ thơ là chữ nghĩa, hình ảnh, ý tưởng … chỉ có ở trong thơ hơn là trong đời thực. Có điều, khi đọc, nghe, ta cảm thấy như là có thực, có ý nghĩa và chấp nhận được; hơn thế nữa, lại còn rung cảm vì thứ ngôn ngữ ấy. Bất kỳ cách diễn đạt nào làm cho người ta đọc ra thơ, nghe ra thơ, hiểu ra thơ muốn “nói” điều gì, đều là ngôn ngữ thơ.

1. Chữ Và Nghĩa:

Thường thì nói đến ngôn ngữ người ta dễ nghĩ đến tiếng nói và chữ viết. Chữ nghĩa ở trong thơ lắm khi không giống như ở bên ngoài đời thường.

Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy

Ngoài đời, chẳng ai nói như vậy cả. Câu thơ (của Phùng Quán) không phải là cây gậy, cây nạng mà “vịn” vào được.

Câu thơ hay thường có ý tứ mới, lạ, diễn đạt bằng chữ nghĩa mới, lạ, và nghe rất “thơ”.

Mành tương phất phất gió đàn
Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình

(Truyện Kiều, Nguyễn Du)

Lối đi vừa chớm tiêu điều 

mùa nghiêng bóng nhỏ ngày xiêu cội dài
phố chiều gió vọng bàn tay

 ru anh về với đôi ngày lãng quên

(Bài ru,Trần Dạ Từ)

Những “gây”, “khan”, “nghiêng”, “xiêu”, “vọng”, “ru” ấy chỉ tìm thấy ở trong thơ.

Tóc người chảy suốt cơn mưa
Ngực thơm hoa bưởi, môi đưa bão về

(Chân dung, Du Tử Lê)

Em đi sông gọi tiếng thầm
Lục bình chia nhánh đá trầm mình đau
Em đi trời xuống thật sâu
Mây chia trong tóc, gió nhầu trên vai

(Xóa bình minh, Trần Mộng Tú)

Những “chảy”, “đưa”, “gọi”, “chia”, “trầm”, “xuống”, “nhầu” ấy cũng chỉ tìm thấy ở trong thơ. “Mây chia”, “gió nhầu”…, ngoài đời chẳng ai nói thế bao giờ.

Tôi vào chùa, quá tam quan
Phật ngồi im lặng, liễu bàng hoàng xanh

(Thực, Không đôi bờ, Trần Mộng Tú)

Câu thơ đọc lên nghe… bàng hoàng. Đâu chỉ có Phật, đến cả Chúa cũng bàng hoàng:

Tiếng em hát giữa giáo đường,
Chúa về trong những thánh chương bàng hoàng

 (Động hoa vàng, Phạm Thiên Thư)

Dường như cô bé rất hiền,
tay ngoan cặp sách, mắt viền ngây thơ
Dường như ai đó tình cờ
theo chân guốc nhỏ bất ngờ sau lưng

(Tiểu thư, Như Thương)

Chữ “ngoan” dùng như là động từ, nghe hay hay, ngồ ngộ (những người làm thơ khác chắc sẽ viết “tay ôm cặp sách”). Và động từ “viền” ấy nữa, nghe cũng mới, cũng lạ. Đến hai chữ “bất ngờ” thì thật là… bất ngờ, cứ như là bất ngờ quay đầu lại bỗng giật mình thấy anh chàng đứng ngay sau lưng mình tự lúc nào.

Những chữ nghĩa và cách nói lạ lùng ấy chỉ nghe, chỉ thấy ở trong thơ.

Chữ nghĩa cần có sự phát minh, sáng tạo hơn là lặp lại rập khuôn người đi trước. Những vô thường, vô vi, phù vân, phù ảo, hư ảo, hư không, tà huy, miên trường… mà người làm thơ cố đưa vào bằng được trong thơ mình thường có một vẻ gì khập khiễng, gượng gạo như một kiểu tạo dáng kém tự nhiên, đôi lúc khiến câu thơ tối tăm, khó hiểu.

Thường, thơ khó hiểu thì khó hay; thơ tạo dáng thì khó tạo được cảm xúc.

Thơ hay, “thì”, “mà”, “là”… cũng hay, nhất là với thể thơ lục bát thuần Việt. Chẳng hạn:

Con sông nào đã xa nguồn
thì con sông đó sẽ buồn với tôi

 (Dòng sông của tôi, Hoài Khanh)

Ví dù gối đã lìa chăn
thì chăn gối cũng bao lần với nhau
Ví dù trước đã lìa sau
thì sau trước trước sau sao vẫn là

 (Minh khúc, 89, Nguyễn Tất Nhiên)

Chiều nay ngang cổng nhà ai
nhủ lòng tôi chỉ nhìn cây trúc đào
Nhưng mà không hiểu vì sao
gặp người xưa lại nhìn nhau mỉm cười 

 (Trúc đào, Nguyễn Tất Nhiên).

“Nhưng mà không hiểu vì sao”… những từ ngữ Hán-Việt, những từ ngữ sáo mòn thời thượng, vẫn cứ được nhiều người làm thơ yêu chuộng. Chữ nghĩa bình dân làm thơ kém hay chăng? Chưa hết:

Tiếng em cười tự thu nào
mà nghe rúc rích bên rào giậu thưa
Em gọi tôi ở ngoài mưa
hay cơn gió lạnh nào vừa qua sông? 

 (Thu xưa, Đynh Trầm Ca)

Tôi về khép lại căn phòng
thấy trong lồng ngực như không có gì
Trái tim đã bỏ tôi đi
ai mà nhặt được gửi về dùm tôi 

 (Gửi, Nguyễn Trọng Tạo)

 Hay là:

Chết đi còn sợ xứ người
là ta sợ cái nổi trôi đã từng
Quê nhà em có về không
cho ta về với nằm cùng nghĩa trang? 

 (Về cùng, Hoàng Lộc)

Mai kia mốt nọ ngang nhà,
có còn liếc trộm như là hồi xưa?
E chừng sớm nắng chiều mưa,
chuyện hồi xưa đã ngày xưa mất rồi

(Phụ phàng, Trần Huy Sao).

Vẫn chưa hết, những câu lục bát “nhưng mà”, “mà sao”, “tại vì”, “cũng vì”…

Cũng vì mắt ngó trời xanh
cho nên mắt cũng long lanh màu trời
Cũng vì mắt ngó biển khơi
cho nên mắt cũng xa vời đại dương

 (Ngón tay hoa, Trụ Vũ)

2. Ý Tưởng

Câu thơ đẹp thường có mang theo ý thơ đẹp. Ý tưởng mờ nhạt, có mới mà không hay, hoặc có hay mà không mới, thường kém sức hấp dẫn. Ý tưởng cần sáng tạo hơn là vay mượn.

Một ngày nắng đẹp bình yên
Sớm mai thấy mặt trời lên hiền lành 

 (Không đề, Tế Hanh)

Câu lục bát của nhà thơ Tế Hanh, có người khen hay, có người chê “nhạt”, chê “hiền lành” quá.

Cà phê nhớ bữa hôm nay
Chén trà xin hẹn ngày rày năm sau

(Bên quán cà phê, Bùi Giáng)

Câu lục bát của “trung niên thy sỹ” Bùi Giáng, được “cải biên” khá vô tư từ câu lục bát của Nguyễn Du (hoặc “tư tưởng lớn gặp nhau” không chừng):

Chén đưa nhớ bữa hôm nay
Chén mừng xin đợi ngày rày năm sau

(Truyện Kiều, Nguyễn Du)

Câu thơ hay như bông hoa lạ và đẹp nở ra từ… lục bát, đôi lúc gây bất ngờ và thú vị:

Biệt ly dù ở ga nào,
cho tôi ngồi một toa tàu lãng quên

(Hôm nay, Nguyễn Tất Nhiên)

Em đi mang theo nụ cười,
tôi ngồi nhìn thấy khoảng đời trống không

(Cát bụi, Phổ Đức)

Dấu thu kinh tự còn mê,
em mang tà áo bốn bề là trăng

(Thu vô lượng, Nghiêu Minh)

Áo dài bồng bềnh, chơi vơi như dải trăng thu huyền ảo. Chưa hết:

Khi buồn vẽ mặt bôi râu
nhìn xem lũ quỷ không đầu xưng vương
Khi em đảo ngược thần hồn
thấy tôi cải tạo mười năm chưa về

(Bài ca dao về trăng, Lâm Hảo Dũng)

Có ai ngồi quán mong chờ
lắng nghe đàn khảy tình thơ ít nhiều
Bây giờ ghế ngả bàn xiêu
dưới chân nhện hóng, tơ thiều hết ngân

(Tọa độ người, Hoàng Xuân Sơn).

Chưa hết:

Em về nơi ấy có tôi
chưa tìm đã thấy buông trôi tình cờ
Mất rồi lại có trong mơ
vừng trăng tím ngát bao giờ có em

(Nơi có, Lưu Nguyễn Đạt)

Tình đến rồi đi, tình mất hay còn, tình thực hay mơ, như bóng trăng huyền hoặc.

Tóc mây Hà Nội năm nào
em đem từng sợi buộc vào đời anh
Bây giờ tóc bạc, tóc xanh
tình xưa anh vẫn quẩn quanh tìm hoài

(Tóc rối, Nhất Tuấn)

Tình như “tóc rối”, biết đàng nào mà gỡ.

3. Hình Ảnh

Hình ảnh tô đậm thêm những tình ý trong thơ. Ý tưởng đẹp, minh họa bằng hình ảnh đẹp, thường đọng lại về lâu về dài trong tâm tưởng người yêu thơ.

Người lên ngựa, kẻ chia bào
Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san

(Truyện Kiều, Nguyễn Du)

Dấu chàng theo lớp mây đưa
Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà

(Chinh phụ ngâm khúc, Đoàn Thị Điểm)

Chưa hết, những câu thơ tả tình tả cảnh, kẻ ở người đi…

Mù sương phi cảng não nề
Thôi anh ở lại buồn về em mang

(Khúc ly đình, Cao Thị Vạn Giả)

Bellevue ơi, Bellevue ơi,
xa ngươi ta nhớ lưng trời thông reo
Đồi nghiêng, dốc đổ, chân đèo
bước đi ngoảnh lại nhìn theo bóng người

(Bellevue 1, Chu Trầm Nguyên Minh)

Hình ảnh, có khi là bức tranh thơ tĩnh lặng.

Mở trang kinh. chỉ thấy mây
thiền tâm thanh tịnh niệm ngay di đà
tranh hoàng hôn. cảnh tuyết sa
giọt vàng giọt đỏ. nhạt nhòa giọt tôi

(Chép một tờ kinh, Lữ Quỳnh)

Có khi là bức tranh nhiều màu sắc, sinh động.

Môi cười vết máu chưa se,
cành hoa gạo cũ nằm nghe nắng hiền
Anh nằm nghe bước em lên,
ngoài song lá động, trên thềm áo bay

(Khi nàng đến, Trần Dạ Từ)

Trong phút giây chờ đợi bước chân người tình khe khẽ đến bên hiên nhà, chàng tưởng chừng nghe được cả tiếng gió lay động vạt áo và tiếng lá nhẹ rơi bên thềm nhà vắng.

Có khi là “chiều rơi trên đường vắng”…

Chiều rơi từng vạt mong manh,
chân đi vừa chạm khúc quanh, chiều tàn

(Đường hành hương, Phan Ni Tấn)

Có khi là áo trắng xôn xao mùa tựu trường. Áo trắng như đàn bướm trắng trong nắng sân trường.

Sáng nay áo trắng tựu trường,
gót chân cuống quýt cả hương cúc vàng

(Ánh mắt tựu trường, Đoàn Vị Thượng)


4. Âm Điệu:

Âm điệu trong thơ có thể là vần điệu, nhịp điệu hay nhạc điệu.

(a) Vần điệu

Vần điệu là yếu tố hàng đầu để nhận diện thơ lục bát và cũng tạo sắc thái riêng cho thể thơ này. Câu thơ có vần có điệu dễ quyến rũ người yêu thơ, quyến rũ những tâm hồn nhạy bén với thơ, không cứ gì là thi nhân. Tác giả “Bướm trắng”, từng cho mình là “người thừa trong làng thơ”, vẫn có những khi tức cảnh sinh tình mượn câu lục bát để gửi gấm những nỗi niềm.

Mắt mờ lệ nhớ người xưa,
mười năm thương nhớ bây giờ chưa nguôi
Trông hoa lại nhớ đến người,
hoa xưa, xuân cũ biết đời nào quên 

 (Nhớ Hoàng Đạo, Nhất Linh)

Thơ hay đến từ cảm xúc chân thực. Chỉ cảm xúc thực mới truyền được cảm xúc đến người đọc. Cảm xúc giả tạo hoặc vay mượn dễ nhận biết, tựa bức tranh vô hồn.

Nhớ em là nhớ quê nhà,
bát canh rau đắng mẹ già còn không?

(Lúc nhớ, Hoàng Lộc)

Nhớ em dào dạt biển sông,
làm sao con sóng trong lòng bình yên?

 (Điệp khúc 68, Xuân Chung)

Quê nhà, mẹ già, biển sông, con sóng, chỉ đơn sơ là vậy nhưng khơi dậy những nỗi niềm trăn trở và nhớ nhung da diết.

Thủ pháp gieo vần lưng (yêu vận) là nét đặc sắc trong thơ lục bát, làm biến đổi hẳn về tiết tấu, nhịp điệu câu thơ, nghe như một nốt trầm trong câu nhạc hay một “bước nhỏ ngập ngừng”.

Sao em không chọn mùa đông
mà đi lấy chồng lại đúng mùa thu?

(Thu xưa, Đynh Trầm Ca)

Tôi còn có một mùa đông
Em ở với chồng tận cuối cơn mưa

(Tận cuối cơn mưa, Đồng Đức Bốn)

Người phu quét lá bên đường,
quét cả nắng vàng, quét cả mùa thu

(Góp lá mùa xuân, Trịnh Công Sơn)

Câu thơ, cũng nhờ vậy, có thêm nhạc tính.

Bài này không nhằm đi sâu vào phân tích về âm luật, các thủ pháp gieo vần, ngắt nhịp trong thể thơ lục bát.

(b) Nhịp điệu:

Nhịp điệu là tiết tấu của câu thơ. Câu, chữ trong thơ lục bát thường được ngắt theo nhịp chẵn, đôi lúc nhịp lẻ tùy thuộc cách thể hiện tình ý trong thơ và cũng để tránh sự đơn điệu.

Đò qua sông / chuyến đầu ngày,
người qua sông / mặc áo dài buông eo

(Chuyến đò Cửu Long, Nguyễn Tất Nhiên).

Em giờ là / của người ta
Của riêng tôi / một chậu hoa cúc tần

(Bên giậu cúc tần, Nguyễn Đại Nghĩa)

Có khi là những tiểu đối nhịp nhàng tạo khoảng cách đều đặn và tiết tấu dìu dặt cho thơ.

Khi chén rượu / khi cuộc cờ
Khi xem hoa nở / khi chờ trăng lên 

 (Truyện Kiều, Nguyễn Du)

Rượu mời ta rót cho ta
Bạn gần không đến / bạn xa chưa về
Rót nghiêng năm tháng vào ly
Mắt nheo bóng xế / tay che tuổi buồn

 (Ðêm cuối năm uống rượu một mình, Thanh Nam)

Về khuya tiếng nói âm thầm
em nghiêng mái tóc cho gần vai anh
Nhạc lên men rượu si tình
ngẩn ngơ khói thuốc / bồng bềnh ý thơ

(Bài ca M.L., Hoàng Anh Tuấn)

Có khi là nhịp cầu nối liền chữ thứ sáu và chữ thứ bảy trong câu “bát”, tạo cảm giác đong đưa, mượt mà.

Miệng người tự bữa môi cong
Mắt người tự bữa ngước đong đưa nhìn
(Hiện thể, Bùi Giáng)
Ở đây mưa trắng không gian,
mưa vùi dập mộng, mưa tan tác đời

 (Buộc áo giữa đường, Trần Mộng Tú)

Nhiều lắm, những nhịp cầu nối lênh đênh, dập dềnh.

Em đi phố cũng ngậm ngùi
rừng kêu, núi gọi, sóng vùi dập sông

(Rừng trú ngụ em, Trần Yên Hòa)

Tây Bắc chiều núi lặng thinh
Se-at-tle đó mây lênh đênh về

(Chào Tây Bắc, Nguyễn Nam An)

Lối đi vàng nhạt mùa thu
Nghe lau lách động niềm u uất buồn 

 (Trông theo, Hoài Khanh)

(c) Nhạc điệu:

“Thi trung hữu nhạc”, tôi ngờ rằng “thi” trong câu ấy nhiều phần là thơ lục bát. Các nhạc sĩ chuộng phổ thơ vẫn nói rằng phổ nhạc một bài lục bát không phải dụng công nhiều vì trong thơ đã sẵn có nhạc.

Thử đọc, đọc thành tiếng chứ không đọc thầm, một đôi câu lục bát, ta nghe được những nốt, những thanh âm trầm bổng, nhịp nhàng uyển chuyển đến từ vần điệu, nhịp điệu và ngữ điệu trong thơ. Những yếu tố này khiến câu lục bát giàu nhạc tính hơn bất cứ thể thơ nào.

Nhẹ bàn tay, nhẹ bàn tay
Mùi hương hàng xóm bay đầy mái đông
Nghiêng nghiêng mái tóc hương nồng
Thời gian lặng rót một dòng buồn tênh

(Thơ sầu rụng, Lưu Trọng Lư)

Nghe thơ, như nghe vẳng lên trong đầu lâng lâng tiếng nhạc.

Ngủ đi em, mộng bình thường
Ru em sẵn tiếng thùy dương mấy bờ

(Ngậm ngùi, Huy Cận)

Đèo cao cho suối ngập ngừng
Nắng thoai thoải nắng, chiều lưng lửng chiều

(Đường rừng chiều, Nguyễn Bính)

Tai nương nước giọt mái nhà,
nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn

(Buồn đêm mưa, Huy Cận)

Câu thơ nghe… “lưng lửng”, “buồn buồn” làm sao!

Câu thơ đậu trong điệu hò,
hồn tôi đậu giữa lòng đò trăng soi

(Trong khi chờ thanh xuân, Phan Ni Tấn)

Tiếng thơ nghe dạt dào như con đò nhỏ dập dềnh trên sóng, như mái chèo nhẹ khua nước đêm trăng. Chưa hết:

Tôi đang mơ giấc mộng dài,
đừng lay tôi nhé cuộc đời xung quanh

(Năn nỉ, Lệ Lan)

Mưa như từng giọt rượu hờ,
đêm trong thành phố ai chờ chờ ai
Mưa thưa tựa áo lụa trời,
ôm quanh da thịt chân người người qua

(Mưa mùa hạ, Trịnh Công Sơn)

Nghe tiếng thơ, tưởng nghe được tiếng mưa đêm rơi đều về ngang thành phố.

Có khi câu “lục” trong thơ toàn vần “bằng”, cho một cảm giác mênh mang, xa vắng.

Hơi đàn buồn như trời mưa
Các anh tắt nốt âm thừa đi thôi

(Các anh, Thâm Tâm)

Ôi thông xanh, ôi hồng đào
Phong rêu mấy thuở hồn nào không đau

(Thu ngây, Cung Trầm Tưởng).

Bây giờ môi anh cô đơn
Nhớ em nhớ cả nụ hôn dịu dàng

(Nhớ, Vũ Thành)

Hay là:

Tôi vào chùa, tâm phân vân
Tiếng chuông vỡ giữa Thực, Không đôi bờ

(Thực, Không đôi bờ, Trần Mộng Tú)

Còn chăng là mây lang thang
trên đồi gió hú bạt ngàn rừng thông
Còn chăng là đêm mênh mông
người ngồi nhớ một dòng sông cạn rồi

(Người thi sĩ ấy không còn làm thơ, Phạm Cao Hoàng)

Thơ, nhạc và tranh nhiều lúc vượt ra ngoài biên giới của ngôn ngữ. Cái làm cho thơ “không biên giới” là ý tưởng và hình ảnh (đôi lúc chữ nghĩa) hơn là vần điệu, nhịp điệu hay nhạc điệu. Đọc một bài thơ hay của nước ngoài ta thấy nhiều phần cái hay là hay về ý tưởng hoặc hình ảnh. Bài thơ tiếng Việt chuyển ngữ sang tiếng nước ngoài cũng chỉ chuyển tải được những tình ý, hình ảnh ở trong thơ hơn là âm điệu. Thơ trở thành tiếng nói chung thông qua ý tưởng và hình ảnh. Trên hết vẫn là ý tưởng. Khi không còn nghe ra âm điệu, “lục bát tính” cũng không còn, khiến cái đẹp, cái hay của thơ lục bát cũng hao hụt đi ít nhiều.

Thơ là sự bay bổng của ngôn ngữ. Ngôn ngữ nào bay lên được thì gọi là thơ. Bay đi đâu? Hẳn là bay ra ngoài thế giới ngôn ngữ của đời thường. Thơ bay bổng làm con người cũng muốn bay bổng theo. Đọc được, bắt được một câu thơ, một ý thơ hay thật là sảng khoái, có cảm giác lâng lâng, bềnh bồng tựa hồ… bay là là trên không.

Cái cách tạo cho người ta cảm giác ấy, là thơ, là nghệ thuật của thơ. Và người làm thơ phô diễn cái nghệ thuật ấy bằng ngôn ngữ thơ.

***

Bài này không đề cập đến những biến thể biến thái, cách tân cách điệu về cấu trúc của thể thơ lục bát. Những công trình khai phá hay thử nghiệm nào để làm thơ lục bát thêm phong phú và hấp dẫn cũng đáng được hoan nghênh. Có điều, những canh tân đổi mới này nhiều phần thiên về hình thức hơn là nội dung, thường là những kiểu sắp chữ, sắp hàng, xuống dòng, cách quãng, ngắt nhịp, đôi lúc đi quá đà như chẻ nhỏ hay chẻ vụn câu, chữ trong thơ. Những cách trình diễn lạ mắt ấy ít nhiều đánh mất lục bát tính. Câu thơ lắm lúc đọc nghe trúc trắc, gập ghềnh, tựa như chạy xe trườn lên những cái “bump” gồ ghề trên mặt đường.

Người yêu thơ, vẫn trông đợi nơi thơ cái “tân nội dung” hơn là tân hình thức. Một bài thơ, câu thơ hay không bao giờ cũ, như cái đẹp còn ở lại với ta mãi.

Thơ trích ra trong bài này là những câu thơ “mẫu”, chỉ nhằm minh họa phần nào cái đẹp, cái hay của thơ lục bát trên cánh đồng thơ bát ngát, mênh mông. Xin cám ơn tác giả những câu thơ người viết mạn phép trích dẫn. Chắc chắn là tôi đã quên sót nhiều bài, nhiều câu lục bát hay, và còn nhiều, rất nhiều bài lục bát thật hay nữa tôi chưa được biết tới.

Thơ lục bát không bao giờ cũ, không bao giờ lỗi thời, không bao giờ cạn nguồn. Nguồn thơ lục bát là vô tận.

Thơ lục bát là thơ nội hóa. Yêu thơ lục bát là yêu “hàng nội”, là “ta về ta tắm ao ta”.

Thơ lục bát là kho tàng thi phú của riêng người Việt mình, không sợ ai đánh cắp, bắt chước hay cạnh tranh được, cũng là niềm tự hào về bản sắc và tính độc lập trong ngôn ngữ và thi ca của dân tộc Việt.

Thơ lục bát có thể được kể thêm vào những món “đặc sản” trong văn hóa truyền thống của người Việt như áo dài, như nón lá và cả những món ăn “quốc hồn quốc túy”.

“Truyện Kiều còn, tiếng Việt còn”, ta vẫn nghe vậy. “Tiếng Việt” vẫn còn đây, trong mọi sinh hoạt của cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Truyện Kiều là danh tác, không ai phủ nhận. Có điều trường thi lục bát này, cũng như nhiều áng văn chương “cổ điển” khác, e không có sức hấp dẫn và “hợp khẩu vị” của thế hệ người Việt trẻ trung sinh trưởng hoặc trưởng thành ở nước ngoài.

Sau Truyện Kiều, nối gót cụ Nguyễn Du, các thế hệ thi nhân đã mang đến cho đời nhiều thi phẩm lục bát hay, giá trị với đề tài, nội dung gắn liền với cuộc sống quanh ta.

Nếu được phép đề nghị, các trường dạy tiếng Việt cho học sinh người Mỹ gốc Việt ở hải ngoại, ngoài các bài giảng về tục ngữ, ca dao, có thể thêm vào bài giảng về thể thơ lục bát truyền thống của người Việt mình. Các thầy cô giáo có thể dạy cho các em, các cháu, cái đẹp cái hay của thơ lục bát, gieo vào lòng các em tình yêu thơ lục bát, và qua đó, gieo vào lòng các em tình yêu tiếng Việt.

Hơn thế nữa, ngoài các bài tập làm văn, thầy cô có thể dạy các em… tập làm thơ. Sao không? Không gì bằng dẫn dắt các em đi vào thế giới thi ca bằng cách làm quen với thể thơ lục bát. Nếu cần, phát huy thêm bằng các hình thức tổ chức thi đua làm thơ lục bát về những đề tài gần gũi, thiết thực. Các bậc phụ huynh hẳn sẽ vui lắm khi thấy con em mình… biết làm thơ lục bát (và người yêu thơ lại có thêm nhiều bài thơ hay lục bát). Thiết tưởng đấy cũng là phương cách “bảo tồn và phát huy tiếng Việt” như mục tiêu của hầu hết các trường dạy tiếng Việt ở nước ngoài hiện nay.

Khi mà con cháu chúng ta biết làm thơ lục bát, biết yêu thơ lục bát và biết tự hào về thơ lục bát như tự hào về bản sắc văn hóa của dân tộc Việt thì ta có thể yên tâm là tiếng Việt mến yêu sẽ còn mãi còn hoài, chẳng mất đi đâu được.

“Thơ lục bát còn, tiếng Việt còn”, chúng ta có lý do để tin như vậy.


Lê Hữu
Blog Trần Huy Bích

Trọng không đi Mỹ vì Trump đồng bóng?


Từ nửa cuối tháng 9 năm 2019, bắt đầu xuất hiện một luồng ‘tin nội bộ’ lan truyền trong một số dư luận về việc ‘Cụ tổng’ Nguyễn Phú Trọng chắc chắn sẽ không đi Mỹ, thay vì đi như dự kiến vào tháng 10 năm 2019.

Lý do: Trump là người đồng bóng và hay có những quyết định thất thường, vậy nên ‘cụ tổng’ không muốn đi...?

Cuộc gặp Trọng - Trump tại Hà Nội vào tháng 2 năm 2019

Lý do trên trái ngược hẳn với bầu không khí hồ hởi: Nguyễn Phú Trọng nhiệt tình nhận lời mới đi thăm Mỹ của Donald Trump khi tổng thống Mỹ đến Hà Nội vào tháng 2 năm 2019 để đối thoại song phương với Kim Jong Un. Khi đó, cầm chắc là Trọng sẽ đi Mỹ và không có một lý do nào có thể cản được tâm trạng ‘mình có như thế nào người ta mới tiếp đón như thế chứ’.

Thế nhưng thật là ‘trời không có mắt’: cú bạo bệnh ở xứ Kiên Giang ‘nhà ba Dũng’ vào tháng 4 năm 2019 đã phá tan giấc mộng đặt chân lần thứ hai lên Washington, nhưng lần dự kiến này với tư cách chủ tịch nước - nguyên thủ quốc gia chứ không còn là tổng bí thư của một đảng phái đã hoạt động ‘vô luật’ suốt hơn bảy chục năm trên rẻo đất quằn quại hình chữ S - của Nguyễn Phú Trọng.

Cùng với luồng tin ‘cụ tổng không đi Mỹ vì Trump đồng bóng’, từ cuối tháng 9 năm 2019, bắt đầu rộ lên thông tin bên lề chính trường Việt Nam về việc Nguyễn Phú Trọng gặp phải vấn đề khó khăn về sức khỏe nên sẽ khó có thể đi Washington gặp Tổng thống Trump.

Dấu hiệu gần nhất và dễ nhận ra nhất là Nguyễn Phú Trọng đã phải vắng mặt tại phiên họp Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc ở New York, Mỹ vào cuối tháng 9 năm 2019 - một hội nghị quốc tế lớn mà nếu còn đủ sức khỏe thì Trọng đã luôn hớn hở đi dự, theo đúng tâm trạng của Nguyễn Tấn Dũng khi ông ta thường xuyên đi dự họp Đại hội đồng Liên Hiếp Quốc vào thời còn làm thủ tướng.

Dù báo đài đảng đã cố gắng đưa hình ảnh và phát sóng về ông ta đi nơi này nơi kia cùng vài buổi họp hành trong đảng, nhưng điều lộ diện bị nhiều người thắc mắc nhất vẫn là ‘sao không thấy, hoặc có quá ít hình ảnh Nguyễn Phú Trọng đi lại?’.

Thách thức tự thân với Trọng là biểu đồ hồi phục sức khỏe của ông ta sau một thời gian ngắn tạm ổn nhưng giờ đây lại có vẻ chựng lại và có dấu hiệu đi xuống. Trong ít lần xuất hiện gần nhất, rõ ràng là vận động tứ chi của Trọng không khả quan hơn so với trước đây.

Người ta tự hỏi là với tình trạng sức khỏe chỉ đủ ‘ngồi’ mà không phải là ‘đi’, liệu Nguyễn Phú Trọng có thể bảo đảm cho một chuyến công du dài đến Washington, gặp Trump và sau đó dĩ nhiên phải xuất hiện trước ống kính soi mói của báo chí phương Tây?

Đến lúc đó, bắt đầu manh nha vài tin tức ‘có thể Nguyễn Xuân Phúc sẽ đi Mỹ thay cho Nguyễn Phú Trọng’. Nếu chuyến đi này mang về cho Việt Nam được món quà ‘nâng tầm đối tác chiến lược’ với Hoa Kỳ, dù món quà này chỉ mang ý nghĩa hình thức, đó sẽ là một thành quả chính trị ghê gớm, đủ để biến cá nhân Nguyễn Xuân Phúc trở thành ứng cử viên số một cho cái ghế tổng bí thư tại đại hội 13, nếu từ đây đến đó Nguyễn Phú Trọng không thể cải thiện hơn về mức độ đề kháng tai biến mà có thể khiến cho ‘thái tử’ Trần Quốc Vượng mất ngôi.

Nếu cuộc gặp Trump - Trọng vào tháng 10 bị bỏ lỡ, đó sẽ là lần thứ hai trong năm 2019 bất thành chuyến đi Mỹ của Nguyễn Phú Trọng. Lần đầu tiên không thành là chuyến đi dự kiến vào tháng 7, khi đó Trọng chỉ vừa tạm phục hồi sau cơn bạo bệnh ở Kiên Giang nên chưa thể tiến hành được.

Tục ngữ ‘lực bất tòng tâm’ ngày càng nở rộ trên cửa miệng các quan chức dưới trướng Trọng. Nhiều kẻ đã thấu cày rằng ‘cụ tổng’ chẳng còn mấy hơi sức để tiếp tục ‘cống hiến cho sự nghiệp cách mạng’ nữa.

Còn cái cách loan tin về ‘cụ tổng không đi Mỹ vì Trump đồng bóng’ hẳn chỉ thuần túy do nhu cầu sĩ diện cá nhân phải ngồi một chỗ của Nguyễn Phú Trọng.


Thường Sơn
VNTB

“Khởi kiện là công cụ hữu hiệu nhất để chống lại Trung Quốc”


“Khởi kiện là công cụ hữu hiệu nhất để chống lại Trung Quốc”. Đó là nhận định của ông Bill Hayton, chuyên gia Đông Nam Á của Viện nghiên cứu Chatham House Hayton ở Anh, trong một cuộc nói chuyện với đài Deutsche Welle (Làn sóng Đức).

Ông Bill Hayton, chuyên gia Đông Nam Á của Viện nghiên cứu Chatham House Hayton ở Anh. Ảnh: Manila University

Sau đây là bản lược dịch bài báo “Tranh chấp mới ở Biển Đông” đăng trên trang web của đài Deutsche Welle (Làn sóng Đức) hôm 11/10/2019:

Từ nhiều tháng nay, Trung Quốc đã gia tăng sự đối đầu ở Biển Đông. Các quốc gia ven biển có ít lựa chọn để chống lại. Ở Việt Nam, ngày càng có nhiều tiếng nói đòi kiện Trung Quốc. Ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, phát biểu hôm thứ Tư tuần rồi tại Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương rằng, tình hình ở Biển Đông “cần được phân tích và đất nước phải lường trước những thách thức có thể xảy ra“, trang VnExpress đưa tin như vậy. Trong ngôn ngữ của Đảng, thường được đặc trưng bởi sự kiềm chế, nhưng đây là một phát biểu rõ ràng.

Căng thẳng giữa các quốc gia ven biển trong cuộc xung đột lãnh thổ, đặc biệt là giữa Trung Quốc và Việt Nam, đã gia tăng đáng kể trong những tuần gần đây. Nguyên nhân là sự khiêu khích kéo dài của Trung Quốc từ nhiều tháng nay. Một mặt, tàu thăm dò Hải Dương Địa Chất 8 (Haiyang Dizhi 8) với sự hộ tống của lực lượng hải cảnh Trung Quốc đã hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam (EEZ) từ nhiều tuần qua. Đồng thời, giàn khoan nước sâu Hải Dương Thạch Du 982 (Haiyang Shiyou 982) được cho là đang trên đường đến vùng biển tranh chấp ở Biển Đông.

Năm 2014, việc sử dụng một giàn khoan khác của Trung Quốc đã dẫn đến các cuộc đụng độ dữ dội giữa lực lượng bảo vệ bờ biển của cả hai nước và dẫn đến những cuộc bạo loạn ở Việt Nam, đập phá một số công ty nước ngoài và bốn công dân Trung Quốc bị giết chết.

Giai đoạn mới của xung đột lãnh thổ

Từ vài tháng nay, một giai đoạn mới rõ ràng đã bắt đầu, như Bill Hayton đã xác nhận trong một cuộc nói chuyện với đài Deutsche Welle (Làn sóng Đức): “Đây là một hành vi gây hấn mới của Trung Quốc, tạo ra nhiều áp lực nặng nề hơn“. Trung Quốc đang tiến hành ngày càng nhiều việc sử dụng các đội tàu đánh cá và lực lượng hải cảnh của mình để ngăn chặn các quốc gia ven biển khác đánh bắt cá và thăm dò các mỏ dầu khí, cũng như Trung Quốc thực hiện thăm dò tại vùng lãnh hải của các quốc gia khác.

Theo ông Hayton, chuyên gia Đông Nam Á của Viện nghiên cứu Chatham House Hayton tại Anh, điều đó có thể xảy ra ở mức độ như vậy là nhờ vào các cảng của những đảo nhân tạo có thể được sử dụng để tiếp tế cho các tàu thuyền Trung Quốc. “Các hòn đảo này rất quan trọng đối với Trung Quốc để gây tác động quân sự đến tận phía nam Biển Đông“.

Tại bãi Tư Chính căng thẳng tái diễn nhiều lần giữa các tàu Trung Quốc và Việt Nam trong những tuần gần đây. Photo Courtesy

Những lựa chọn của các nước ven biển

Những nước ven biển không có nhiều lựa chọn để đối phó chống lại Trung Quốc. Con đường đàm phán ngoại giao không dẫn đến thành công trong việc lay chuyển Trung Quốc hợp tác, như các cuộc đối đầu gần đây cho thấy.

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã bị chia rẽ từ nhiều năm nay và do đó không thể xây dựng một thế đối trọng với Bắc Kinh. Về mặt quân sự, các quốc gia Đông Nam Á không cân bằng với Trung Quốc, nước này vốn đã được vũ trang ồ ạt từ nhiều năm nay.

Vì vậy không có gì đáng ngạc nhiên, khi những chuyên gia Việt Nam khác nhau vào tháng 8 (chú thích của người dịch: chính xác là 6/10/2019) tại một cuộc tọa đàm ở Hà Nội đã lên tiếng, Việt Nam nên khởi kiện Trung Quốc ra trước một tòa án quốc tế.

Hoàng Việt, một chuyên gia về Biển Đông, nói với Đài Á Châu Tự do (RFA), “Phần đông cử tọa đều thống nhất rằng Việt Nam cần thay đổi chính sách đối ngoại, trong đó có đề nghị thẳng thắn là phát triển quan hệ hơn nữa với Hoa Kỳ, thoát khỏi ảnh hưởng của Trung Quốc”. Phần lớn các chuyên gia thống nhất rằng, luật pháp quốc tế đứng về phía Việt Nam.

Bill Hayton cũng coi khởi kiện là công cụ hữu hiệu nhất để chống lại Trung Quốc. “Lập luận rằng Trung Quốc không để cho Việt Nam có một lựa chọn nào khác là khá thuyết phục“.

Bill Hayton bác bỏ sự phản bác rằng Philippines đã thắng hầu như tất cả các điểm trong vụ kiện năm 2016 tại Tòa án Trọng tài Hague, nhưng nó không có tác dụng đáng kể. Ông viện dẫn đến chính phủ Philippines dưới thời Tổng thống Duterte: “Đó là lỗi của chính phủ khi nó không tận dụng cơ hội có một không hai này“. Thay vì thúc giục thi hành phán quyết này, chính phủ mới đắc cử của Philippines lại đi đường hướng xích gần với Trung Quốc.

Lo sợ các cuộc biểu tình chống chế độ cộng sản

Nhận xét về vụ kiện, ông Hayton bổ sung về khía cạnh giới hạn: “Quyết định này đối với Việt Nam có thể sẽ gây ra một hậu quả lớn. Nó sẽ phá vỡ mối quan hệ Trung-Việt“. Đối với Việt Nam, nhiều cái sẽ lâm vào tình trạng nguy hiểm, bởi vì Trung Quốc không chỉ là một đối tác thương mại quan trọng, mà còn là một đồng minh ý thức hệ đối với Đảng Cộng sản Việt Nam (CPV).

Một vấn đề khác có thể là trong nước. Các cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc năm 2014 tại nhiều tỉnh khác nhau đã nhanh chóng chuyển sang chống lại các điều kiện lao động và hệ thống chính trị của Việt Nam. “Đó sẽ là kịch bản ác mộng đối với Đảng, nếu họ cho phép các cuộc biểu tình chống Trung Quốc và sau đó mở rộng thành các cuộc biểu tình chống chế độ cộng sản“. Trong chừng mực này, Hayton tin rằng, thời điểm cho một vụ kiện chống Trung Quốc chưa đến.


Tác giả: Bill Hayton
Biên dịch: Hiếu Bá Linh
Nguồn: Neuer Streit im Südchinesischen MeerBill Hayton

China setzt im Südchinesischen Meer seit Monaten verstärkt auf Konfrontation. Die Anrainerstaaten haben dem wenig entgegenzusetzen. In Vietnam mehren sich Stimmen, China zu verklagen.

Những người cùng khổ ở Đắk Nông


Khi ước mơ thoát nghèo lại dẫn đến chấn song sắt và xà lim tử tù.

Từ trái sang, Đặng Văn Hiến, Hà Văn Trường và Ninh Viết Bình trong phiên toà xét xử sơ thẩm vào đầu năm 2018. Ảnh: Báo Zing

Thuở xa xưa, không ai để ý đến Tây Nguyên xa xôi, một vùng đất chưa có nhiều người biết đến, vốn nuôi nấng những tộc người còn chưa có chữ viết. Ở đó, rừng rậm là bá chủ. Rừng ôm trọn lấy tất cả. Rồi người Pháp đến để khai mở vùng đất rậm rạp này. Người Kinh chỉ mới mò mẫm đến chốn hoang vu này trong những năm chiến tranh khói lửa.

Tây Nguyên mở rộng vòng tay với tất cả, những ai chịu được cái buồn muôn thuở. Đâu đâu cũng là rừng, mùa nào cũng buồn như mùa nào, yên tĩnh, trầm lặng. Dân di cư sợ hãi, co cụm vào một chỗ để chống chọi với cái buồn nẫu ruột.

Nhưng đó là chuyện của ngày xưa, ngày những người Kinh còn xa lạ với khí hậu khắc nghiệt, rừng rậm âm u. Tây Nguyên bây giờ thoáng đãng hơn, tiện nghi hơn bởi vị bá chủ đã bị chặt hạ trong những đợt xâm lăng vô cùng tận. Sau chiến thắng, đội quân đó lại xâu xé lẫn nhau.

Đặng Văn Hiến cũng là di dân nhưng anh không ghi danh vào đội quân hung tàn đó. Anh đến với Tây Nguyên trên đôi chân trần, khuân trên vai một ước mơ nhỏ bé nhưng cháy bỏng. Không chỉ anh, những người đồng hương của anh cũng thế. Nghèo đói đã buộc họ ra đi.

Làn sóng di dân

Đầu những năm 1990, những tộc người ở phía Bắc di cư vào Nam đã tạo thành một làn sóng di dân khổng lồ. Họ nghèo quá rồi, không còn đủ đất đai để trồng trọt nữa. Mà họ chỉ biết mỗi cái nghề đấy.

Lời đồn thổi về một mảnh đất rộng lớn ở miền Nam được truyền miệng nhau, nơi mà họ vẫn có thể sống bằng bản năng làm nông và sự am hiểu núi rừng của mình. Tây Nguyên nghẹt thở đón nhận dòng những người tiếp nối nhau đi tìm đời sống mới.

Khi đó, ở một vùng quê nghèo ở Lạng Sơn, gia đình Đặng Văn Hiến, người dân tộc Nùng, vẫn có thể chống chọi với cái đói và cái rét. Họ mới chỉ có một đứa con gái. Họ cũng có một căn nhà riêng và biết sống chắt chiu. Nhưng cuộc sống tằn tiện đắp đổi qua ngày đó kéo dài không lâu. Hiến cũng đến chỗ này chỗ kia trong tỉnh để làm thuê nhưng đều thất bại. Có cố gắng ở mảnh đất quê nhiều đến đâu đi nữa thì cái nghèo vẫn bám anh như đỉa đói bám chân.

Mang mơ ước vào Nam

Cuối cùng, lời đồn thổi và động viên của bạn bè đã thuyết phục được anh thử vận may một lần, đúng hơn là nghèo đói không cho anh cái quyền được chần chừ.

Anh sẽ theo người quen vào Tây Nguyên một chuyến. Nhưng anh đã tính trước, rằng đất ở trong đấy rẻ, lại dễ trồng trọt, anh sẽ chỉ cần đi làm thuê một thời gian thôi. Anh sẽ ăn uống dè sẻn, sẽ tích góp đủ tiền để mua một mảnh đất nhỏ. Rồi anh sẽ cất nhà trên đó, sẽ đón vợ con vào đoàn tụ. Anh sẽ cất nhà gỗ cho rẻ tiền. Lúc nào dư dả, anh sẽ xây nhà bê tông. Điều và cà phê thì chỉ cần trồng một vài năm rồi cứ thế mà thu hoạch. Vợ sẽ nhặt những trái điều căng tròn còn anh sẽ tước những hạt cà phê chín mọng. Tất cả sẽ do chính tay anh vun trồng. Nếu không thích, anh sẽ nhổ chúng đi rồi trồng những cây khác. Anh không phải làm công cho ai cả.

Đầu những năm 2000, khi anh vào Nam đã được một thời gian và biết rõ những vùng Bình Phước, Đắk Lắk và Đắk Nông ngày nay, anh đón vợ vào rồi cùng đi làm thuê. Dẫu sao đủ vợ đủ chồng sẽ đồng lòng hơn, ước mơ sẽ đến sớm hơn khi hai người cùng nhau tích góp.

Năm đó, ước mơ của hai vợ chồng đến theo một cách khác. Họ lấy tiền dành dụm được để thuê đất rẫy của người quen với giá rẻ. Dẫu chỉ là đất thuê nhưng vẫn có chút cảm giác thuộc về mình.

Với bàn tay cần cù của cả hai, những vườn rau mơn mởn của mùa trồng trọt đầu tiên đã nảy nở. Nhưng đúng lúc đó, trời dội liền mấy cơn mưa tầm tã, rả rích mấy ngày trời. Những luống rau cũng phải đầu hàng hàng trước số phận. Hết vốn nhưng không chán nản. Anh Hiến và vợ lại lặn lội, làm thuê khắp vùng đất mà anh nghĩ sẽ có cơ may đổi đời này. Làm gì cũng được, từ tước cà phê, dọn vườn điều, nhặt điều, phơi sẵn, v.v. miễn họ có tiền cho ước mơ của mình.

Mảnh vườn của Hiến

Năm 2005, ước mơ của anh đã hiện ra ngay trước mắt. Tôi nghĩ anh đã cố hết sức để tìm ra mảnh vườn của mình sớm nhất có thể. Mảnh vườn đó nằm sâu hun hút sau mấy dãy núi, cách thị trấn Gia Nghĩa (Đắk Nông) đến 90 cây số.

Quốc lộ 14 thẳng tắp dẫn đến thị trấn Gia Nghĩa thì không có gì để nói. Nhưng từ ngã ba Đông Dương thì tôi phải đi trên một con đường đất đỏ kỳ dị. Không phải ai cũng đủ kiên nhẫn và kỹ năng lái xe máy để đi trên những cung đường như thế này. Du khách cũng đã giã từ con đường này, từ giã thác Đắk G’lun mờ ảo. Mùa mưa, hai bánh của xe máy phải gắn xích thì mới chiến thắng con đường khốn khổ này. Mùa nắng cũng không thể chạy nhanh vì lòng đường mấp mô, mô đất cùng với đá như những gai nhọn hất cả bánh xe tung lên không trung.

Hai bên đường, đồi núi đã “xuống tóc” thành những ngọn đồi trọc, dấu hiệu chiến thắng của đội quân xâm lăng.

Mảnh vườn của Hiến nằm ở phía bên kia con suối, sau khi qua một làng nhỏ của những người Mông di cư từ miền Bắc. Ở đầu con suối này là nhà của đội trưởng Sắc, quản lý đồn công an của Tiểu khu 1535. Vì vậy, ai ra vào khu vực này anh ta đều nắm rõ như lòng bàn tay.

Có lẽ phải vào tận cùng những nơi xa xôi như vậy mới có chỗ cho ước mơ của Hiến. Kể cả cái thị trấn Gia Nghĩa bé nhỏ hay dọc theo Quốc lộ 14 trông có vẻ đìu hiu cũng đã khước từ anh. Anh thuê đất ở đây để trồng khoai mì rồi mua lại từ người chủ đã quá chán ngán với cảnh núi rừng nơi này. Hiến vay của bố 24 triệu đồng cộng với tiền dành dụm để mua cho kịp lúc ông chủ muốn bán nó đi.

Phía bên kia con suối này là Tiểu khu 1535. Từ đây, bạn có thể thấy ngôi nhà của đội trưởng Sắc. Ảnh: Luật Khoa tạp chí

Tiểu khu những ngày không yên ả

Ở một vùng sâu hun hút như vậy nhưng Tiểu khu 1535 chưa bao giờ là một vùng đất bình yên. Đồn công an bận rộn suốt với những vụ đánh đấm trong vùng. Chốc chốc tôi lại thấy đội trưởng Sắc gọi lính của anh thay sắc phục rồi cưỡi xe máy chạy mất hút sau mấy quả đồi. Những bữa cơm của họ thường không thể kéo dài hết bát cuối cùng.

Đồn nằm trên một đỉnh đồi khá cao, cách con suối khoảng bảy, tám cây số. Đường lên đó khó gấp đôi con đường từ ngã ba Đông Dương rẽ vào. Trại khá rộng, phía trước là một quảng sân khá rộng ngó ra những ngọn đồi trọc đang đợi những cây điều lớn lên. Mấy chiếc xe máy, một bàn ăn cơm, vài chiếc võng dù trang trí cho khoảng sân này. Bên trong nhà có một lối đi ở giữa, hai bên là nơi ngủ của công an được đóng bằng ván cao khoảng một mét, bên dưới là nơi để đồ dùng.

Chuyện đánh đấm chủ yếu xảy ra giữa những người nghèo khổ đang thực hiện ước mơ và đội quân xâm lăng là các công ty trồng trọt được chính quyền cho thuê đất. Một chuyện không mới ở Tây Nguyên khi chính quyền giao đất cho doanh nghiệp bằng cách vẽ lên bản đồ hoặc chỉ tay về phía những quả đồi. Ở những nơi đó, họ không biết hoặc giả vờ không biết đã có những di dân nghèo khổ đang canh tác. Nông dân không có giấy tờ sử dụng đất, họ mua lại hoặc tự phát hoang ở những mảnh rừng mà họ nghĩ là vô chủ.

Rồi những công ty trồng trọt từ trên trời rơi xuống, cầm sẵn giấy tờ thuê đất đến giành giật ngôi vườn của họ, cũng bởi vì trồng trọt ở những vùng đất này quá béo bở. Bằng một cách nào đó, các công ty dễ dàng có được những khu đất màu mỡ; giá nhân công lại rẻ mà còn dễ dãi khi không đòi hỏi hợp đồng lao động; giá điều và cà phê cũng thường ổn định. Vì vậy mà họ bất chấp luật pháp để công nhân đánh đấm với nông dân, giành từng mét đất.

Năm 2008, ba năm sau khi Hiến trồng những cây điều và cà phê đầu tiên. Mảnh đất của anh đã trở thành một ngôi vườn trông cũng đẹp mắt, có thể dựa vào đó mà sống. Cũng trong năm đó, công ty Long Sơn được chính quyền tỉnh cấp đất. Ngay lập tức, họ phát hiện ra những nơi trên giấy tờ thuộc về họ đã có người trồng trọt. Họ đưa công nhân cầm gậy gộc, máy xúc đến húc đổ vườn điều của Hiến và nhiều hộ dân trong vùng.

Lúc này, Hiến có lẽ đã học được cách trở nên mạnh mẽ hơn mỗi ngày. Mảnh vườn của anh nom lúc nào cũng có cảm giác là đang có người rình rập để phá hoại. Anh không thể đánh mất ước mơ của mình dễ dàng như vậy. Anh đã đi một đoạn đường dài từ Lạng Sơn tới Đắk Nông, rồi cần cù làm việc để có được mảnh vườn này.

Chính quyền cũng không có cách giải quyết. Chuyện đánh đấm vì thế mà xảy ra trong nhiều năm, nhiều nông dân bị đánh gãy chân gãy tay, chấn thương sọ não phải nhập viện, bị bắt đi tù vì gây rối trật tự, thỉnh thoảng còn có tiếng súng nổ. Một vùng đất đầy ước mơ nhưng cũng chứa nhiều điều bất trắc.

Những công nhân người Stiêng

Đầu tháng Mười năm 2016, chiếc xe bán tải của công ty Long Sơn đỗ xịch trước một con đường nhỏ đầy đất đỏ dẫn vào một ngôi làng của người Stiêng. Chỗ này cách thị trấn Đồng Xoài sầm uất khoảng mười cây số.

Tổ tiên của người Stiêng là những thợ săn oai hùng. Họ đã truyền lại cho hậu duệ của mình một thân hình cường tráng. Nhưng thật ra nó lại không hữu dụng lắm trong xã hội chuộng sự lọc lõi của người Kinh. Cố gắng lắm họ mới có những bữa cơm no bụng. Họ sống trong những ngôi nhà tình thương, đi nhặt điều, làm thợ hồ, bất kỳ chuyện gì cần cơ bắp và sự cần cù.

Chiều hôm đó, Điểu Thành, Điểu An và Điểu Vinh, ai cũng to lớn vạm vỡ, cùng leo lên chiếc xe bán tải của công ty Long Sơn để lên Tiểu khu 1535.

Vợ của Điểu Thành sắp đẻ đứa con đầu lòng, anh phải kiếm một ít tiền. Điểu An và Điểu Vinh là hai anh em họ, họ cũng muốn có một công việc cố định để tránh đám choai choai vô công rồi nghề trong xóm lôi kéo.

Từ nay, họ sẽ có việc làm cố định. Vinh sẽ có tiền gửi về cho người mẹ đang ốm yếu, người cha không có việc làm, và một ít tiền để em gái cậu có thể học hết lớp 9. Vả lại, họ là những người hàng xóm, có họ hàng với nhau, lại cùng sắc tộc nên không ai dám đụng đến họ, biết đâu sẽ còn vui nữa. Năm đó, Vinh mới 16 tuổi.

Chiếc bán tải nổ máy rồi vòng qua một xóm khác để đón Điểu Tào, một người cha có bốn đứa con. Với mức lương hơn bốn triệu đồng và bao ăn, tất cả đều thấy đường đến tương lai như được rút ngắn dần khi chiếc bán tải tăng tốc trên quốc lộ.

Buổi sáng tang thương

Tuần cuối của tháng Mười năm 2016, mưa đã trút nước xuống Tiểu khu 1535 được hơn ba tháng nay. Con suối đã dâng đầy nước nên chiếc bè kéo dây được mang ra sử dụng. Đất nhão ra, dính vào gót giày thành từng mảng lớn. Nước của sình lầy bắn lên áo quần của người đi rẫy ít nhất phải lên đến đầu gối. Chẳng ai buồn rửa xe máy vì rồi chúng sẽ lại lấm lem vào ngày hôm sau.

Lúc này, vợ chồng Hiến đã có thêm một con trai hai tuổi. Mấy năm trước, con gái đầu của họ là Nhung đã học hết phổ thông ở Bình Phước. Bấy giờ, Nhung đã vào quận Thủ Đức của Sài Gòn để học may ở một chỗ của người quen.

Ngôi nhà mơ ước của Đặng Văn Hiến với vườn điều và cà phê bao quanh. Ảnh: Gia đình cung cấp, chụp vào ngày 9/10/2019.

Công ty Long Sơn có thêm nhân công nên chiến đấu ngày càng hăng hơn. Họ đã đầu tư vào vùng này nên muốn lãi càng nhiều càng tốt. Họ không muốn bồi thường cho người dân vì họ đã có giấy tờ thuê đất do tỉnh cấp là bằng chứng hiệu quả nhất, người dân mới thực sự là người phải trả lại đất cho họ.

Những công nhân người Stiêng ngỡ ngàng với công việc đầy bạo lực ở đây. Họ không chỉ làm nông nặng nhọc mà còn kiêm luôn cả cái công việc đánh đấm nguy hiểm. Thành, Vinh, An và Tào bằng cách nào đó đã tạo ra mối thâm thù ảo với những người nông dân ở đây. Chỉ có cách đó họ mới đóng được vai ác mà công ty đã giao. Họ muốn trở về nhà lắm chứ, để còn đi tìm một tương lai khác. Họ biết thế nào rồi cũng sẽ gặp rắc rối ở đây. Nhưng họ phải lĩnh tháng lương đầu tiên đã, bỏ về lúc này thì chỉ có đi bộ với một cái bụng đói về nhà.

Ba giờ sáng ngày 23 tháng Mười năm 2016, khi cơn mưa đêm còn chưa dứt, ông Thiện – người quản lý của công ty Long Sơn – dựng tất cả các công nhân dậy để chuẩn bị máy móc, hung khí lên đường lấy lại đất. Tờ mờ sáng, khoảng 30 người của công ty Long Sơn tiến đến nhà Hiến khi anh còn đang ngủ. Họ đã đặt sẵn máy ủi ngay trước khu vườn của anh. Những cây điều và cà phê trong vườn anh đã trưởng thành và cho trái đều đặn hằng năm. Công ty Long Sơn cho một tốp người khác mai phục sẵn trước cửa nhà. Tiếng chó sủa inh ỏi khiến anh phát hiện rắc rối đã đến ngay trước cửa nhà.

Hiến có một khẩu súng tự chế dùng để săn chồn từ năm 2011. Khẩu súng này giúp anh chống lại nhóm người hùng hổ của công ty Long Sơn. Không có nó, anh chỉ còn biết đứng nhìn ước mơ của mình nát tan dưới chiếc máy xúc. Thật khó có thể biết chính xác về điều người đàn ông có thể làm khi gia đình họ gặp nguy hiểm.

Điểu An nhìn làn đạn từ trên gác nhà Hiến bay loạn xạ trong không trung đi thẳng đến nhóm công nhân đứng trong vườn và xung quanh nhà Hiến.

Một viên đạn xuyên qua tấm khiên, đâm thủng nón bảo hiểm và găm thẳng vào lớp sọ đầu của An. Những công nhân còn lại chạy tán loạn. Điểu Thành bị làn đạn làm hư hoàn toàn mắt bên phải. Điểu Tào và Điểu Vinh bị thương nặng rồi chết tại chỗ. Và một người khác cũng phải bỏ mạng là Dương Văn Tiến, một người thanh niên 26 tuổi quê ở Ninh Thuận. Tiến đã làm cho công ty Long Sơn được hai năm. Đáng lẽ, nếu Tiến ở lại nhà sau đám tang của em trai mình vào tuần trước đó thì có thể anh đã giữ được mạng sống.

Buổi sáng hôm đó, Hiến còn có Hà Văn Trường là em họ bên vợ đến chơi nhà anh đã hơn một tháng. Trường có đưa đạn cho Hiến lắp vào súng. Anh Ninh Viết Bình, nhà ở gần đó, rất thân với nhà Hiến cũng mang súng chạy đến và bắn hai phát vào nhóm công nhân.

Ở Tiểu khu 1535, người ta chỉ dựng đồn công an chứ không xây trạm y tế. Những người bị bắn kéo nhau chạy khỏi nhà Hiến, chờ đợi mòn mỏi để được chuyển đến bệnh viện.

Sáng hôm đó, tiếng súng phát ra từ khu rẫy của Hiến nhưng không đến được đầu con suối. Phải mất một lúc, ông Long – nhà liền kề với nhà đội trưởng Sắc – mới hay tin. Mất khoảng một tiếng đồng hồ, ông Long mới lái được chiếc xe chở củi bằng đầu kéo máy cày đến chỗ những người bị bắn đang ngắc ngoải. Cũng phải mất ít nhất chừng ấy thời gian để đưa họ đến đầu con suối. Từ đó, họ mới được đưa đến bệnh viện trên con đường lầy lội của ngã ba Đông Dương. Nếu đến bệnh viện ở thị trấn Gia Nghĩa cũng mất không dưới một tiếng đồng hồ vì trời mưa khiến đường rất lầy lội.

Phải chăng tiếng súng của Hiến không ác độc đến nỗi tước đoạt mạng sống của những công nhân ngay lập tức mà họ đã chết vì thời gian di chuyển đến bệnh viện quá lâu?

Có những chuyện chỉ cần xảy ra chậm hay sớm hơn một chút thì tương lai đã có một số phận mới. Đôi lúc, những người nghèo khổ luôn cảm thấy họ làm gì cũng sai và bị trừng phạt.

Trưa hôm đó, khi trời còn mưa lất phất, cảnh đau thương biến mất, trả tiểu khu về với cái buồn muôn thuở. Hiến và Trường, người thấp, kẻ cao, khoác áo mưa đi không ngoảnh lại.

Hà Văn Trường

Anh Trường là em họ bên vợ của Hiến, cùng quê ở Lạng Sơn. Anh cao, gầy, gương mặt góc cạnh, rõ những đường nét của một người đàn ông vất vả. Nhà nghèo, cha mẹ già và đứa con mới hai tuổi, Trường vào thành phố Hồ Chí Minh làm công nhân cho một xưởng nấu sắt.

Tháng Chín năm 2016, lò nấu sắt nổ bung bét thành từng mảnh, Trường xém chết tại đó. Anh nghỉ việc rồi rong ruổi lên nhà Hiến ở chơi ngót nghét đã hơn một tháng. Nói là ở chơi nhưng có lẽ anh không còn chỗ nào để đi.

Chỉ đưa băng đạn cho Hiến nhưng anh không tránh khỏi tội danh giết người với 12 năm tù giam, giảm xuống còn chín năm tù sau khi xét xử phúc thẩm.

Cho đến lúc mãn hạn tù, Trường chỉ mới 40 tuổi, anh vẫn có thể xây dựng lại cuộc đời. Nhưng vấn đề là giờ anh không biết mình còn giữ được mạng sống cho đến ngày mãn hạn tù hay không.

Những cơn đau đầu khủng khiếp đến với Trường sau ngày anh bị bắt. Trước đó, anh hoàn toàn là một người khỏe mạnh.

Không biết công an giam anh thế nào nhưng tháng Tư năm 2019, Trường nhập viện ở Bệnh viện Đồng Xoài lần thứ hai rồi chuyển gấp lên Bệnh viện Đa khoa Chợ Rẫy để mổ vì xuất huyết não. Lúc em trai của anh gọi điện cho tôi, chân anh vẫn bị còng vào chiếc giường sắt của bệnh viện trong tình trạng mê man hoàn toàn.Vợ của Trường chưa bao giờ đến thăm anh. Chị mang đứa con trai hai tuổi bỏ về nhà bố mẹ khi anh bị bắt. Bố của Trường mất hồi tháng Chín sau một cơn bạo bệnh. Người mẹ già thì đang nằm bệnh viện vì u phổi.

Hà Văn Trường nằm mệt nhọc trong bệnh viện Đồng Xoài, bị xích chân vào giường bệnh và hai công an canh gác trước cửa phòng bệnh. Ảnh: Gia đình cung cấp.

Ninh Viết Bình

Ninh Viết Bình rời bỏ quê nhà ở Thái Nguyên sau khi bố mẹ từ chối cho anh kết hôn với một người phụ nữ. Bằng một cách nào đó, anh vẫn đăng ký kết hôn và có một đứa con với cô ấy.

Nhưng cuộc hôn nhân không chính thức ấy không đi được đến đâu. Anh bỏ vào Tiểu khu 1535 rồi dựng nhà và sống một mình ở đó, cách nhà Hiến khoảng một cây số. Hiến và Trường quen nhau như những người tha phương cầu thực và co cụm lại để bảo vệ lẫn nhau.

Khi anh bị bắt, cha của anh đã vào tiểu khu để thay anh chăm sóc vườn điều và cà phê. Nhưng gần đây, ông không thể chăm sóc được nữa vì sức khỏe lao dốc nên lại trở về Thái Nguyên. Ninh Viết Bình còn chịu thêm 15 năm tù giam nữa mới được trở về nhà. Lúc đó, anh sẽ ở vào tuổi 53.

Mai Thị Khuyên – vợ của Hiến

Trở thành vợ của một tử tù sau phiên tòa sơ thẩm vào đầu năm 2018, chị vẫn tin chồng mình xứng đáng được ân xá vì trong lòng chị, anh Hiến là một người hùng.

Từ ngày chồng bị bắt, chị Khuyên ngược xuôi trên những chuyến xe đò Bắc – Nam, vật vã với chứng say xe nặng. Khi thì chị về Bắc để lo cho bố mẹ chồng, chăm sóc đứa con trai giờ đã năm tuổi đi học mẫu giáo. Khi thì chị về lại Đắk Nông để thăm anh Hiến và coi sóc khu vườn tược. Khi thì chị chạy tiền từ nhiều nơi để bồi thường dần cho các gia đình nạn nhân.

Chị Khuyên không thể làm công việc làm vườn như chồng vì lâu lâu chị lại bị mệt nặng do hở van tim. Gần đây, chị đưa cho tôi xem một giấy xét nghiệm về khối u ở vú. May mắn thay, đó là không phải là một khối u ác tính.

Bản án tử hình của anh Hiến đã khiến chị vượt xa ra khỏi cuộc sống trước kia. Trước đó, chị là vợ của một nông dân bình dị, có một khu vườn nhỏ, có những đứa con thơ và chỉ lo việc bếp núc trong nhà. Nhưng từ ngày chồng gặp nạn, chị biết dùng mạng xã hội, chị trả lời phỏng vấn báo chí, chị gặp đại diện của các đại sứ quán, v.v.

Đặng Thị Nhung – con gái của Hiến

Suốt mấy tháng đầu năm nay, Nhung ở nhà một mình. Khi bầu trời sập tối, tiếng côn trùng thi nhau râm ran trong những bụi cây, Nhung đóng cửa ở một mình trong căn nhà ván gỗ có mấy chỗ đã hư hỏng vì mối mọt.

Trước nhà có một cái sàn nước nhỏ để rửa chén và giặt giũ. Nơi tắm rửa cũng nằm ở phía trước nhà, cạnh sàn nước, kế đến là nhà bếp. Khi trời mới hừng đông, Nhung thức dậy để chuẩn bị nông cụ làm vườn.

Khi bố Nhung bị bắt, gia đình đã mất đi một người đàn ông duy nhất. Công việc làm vườn giao lại cho chính cô con gái 20 tuổi chưa một lần đụng tay vào cán cuốc. Đáng lẽ, Nhung sẽ được đi Nhật Bản để làm việc như lời hứa của bố. Ước mơ của bố nhưng cũng là niềm mong ước của Nhung.

Nhung kể với tôi rằng, trước khi bố bị bắt, cô đã chán cái tiểu khu xa xôi, hẻo lánh, mùa nào đi lại cũng cực nhọc và còn đầy nguy hiểm với những tay du côn do các công ty thuê mướn này. Cũng vì mong ước này mà em đi học nghề may sau khi tốt nghiệp phổ thông.

Nhung có trách bố cô trong những ngày đầu ông bị bắt. Nhưng bây giờ đã khác, Nhung thương mến cái tiểu khu này hơn, cô biết bố đã cực nhọc như thế nào với gốc điều và cà phê.

Ba tháng trước, Nhung đưa tôi xem lá thư mà cô gửi bố, trong đó có đoạn viết: “Bố à, bố là một người rất dũng cảm, hy sinh vì mọi thứ. Bố chấp nhận đánh đổi tất cả để gia đình có được cuộc sống tốt hơn. Con cũng đã mạnh mẽ hơn, đôi chân bé nhỏ của con đã vững vàng hơn. Con sẽ làm tròn trách nhiệm của một người con, một người chị mạnh mẽ để vượt qua tất cả khó khăn. Bố đã mang tới cho con biết bao là nỗi nhớ, biết bao là tủi hờn nhưng chính vì điều đó đã giúp con khôn lớn, nghị lực và kiên cường hơn trong cuộc sống.”

Vợ và con của Hiến chụp cùng bố mẹ, anh chị em của anh. Chị Mai Thị Khuyên bế con trai 5 tuổi, Đặng Thị Nhung (áo xanh, hàng thứ hai), ông Đặng Văn Lợi – cha của Hiến (ngoài cùng, bên phải). Ảnh: Thịnh Nguyễn

Đặng Văn Lợi – cha của Hiến

Suốt những năm 70, khi quân đội Mỹ triển khai những chiến dịch ném bom ác liệt cuối cùng của họ bằng máy bay B-52 xuống những vùng quê nghèo ở Lạng Sơn, ông Đặng Văn Lợi thu mình trong những căn hầm nhỏ để tải đạn cho bộ đội. Vì gia đình chỉ có hai anh em nên nhà nước để ông làm dân công hỏa tuyến còn người anh thì cầm súng chiến đấu. Cách vài tuần ông lại đi một chuyến, đào đường, tải đạn, vận chuyển lương thực cho bộ đội. Hiến được sinh ra cũng trong những năm tháng chiến tranh đó.

Hòa bình lập lại, ông Lợi được giữ chức trưởng thôn và gia nhập đảng Cộng sản Việt Nam. Những năm 1990, ông làm gương cho dân làng khi khuyên Hiến vào Nam để không phải lấn chiếm đất đai như những người nghèo đói khác.

Ông Lợi có nét nghiêm khắc, cương nghị của một đảng viên cộng sản ở những vùng quê nghèo. Khi hay tin con trai cả bắn chết người, ông giận lắm. Ông nghĩ dù là con trai mình hay ai đi chăng thì đều phải đền tội cho xứng đáng.

Nhưng bây giờ thì ông đã thay đổi, sau khi vào tận Đắk Nông để kiểm chứng hết mọi việc, ông tin nếu là Hiến thì ông cũng sẽ làm như vậy. Người lương thiện nào cũng sẽ đấu tranh đến cùng cho những gì họ đã cần cù tạo ra.

Những người cùng khổ

Trên mạng xã hội, người ta hay nói về những ngôi sao, những tỷ phú, những giáo sư tài năng chứ rất hiếm khi nào nói về những người nghèo khổ. Họ chưa bao giờ là chủ đề trong quá một ngày.

Nhưng Đặng Văn Hiến đã khiến người ta nói nhiều hơn về những nông dân nghèo khó có ước mơ. Trong những dòng chia sẻ trên mạng xã hội, Hiến đại diện cho những người lao động chân chính nhưng bị đẩy vào đường cùng mà bản án tử hình là một vực thẳm có thể nuốt chửng anh bất cứ lúc nào.

Trước cái ngày Hiến cầm súng lên nổ những phát đạn long trời nhắm vào những người công nhân vốn cũng chẳng khá khẩm gì hơn, anh chẳng có gì ngoài một ước mơ nhỏ nhoi và một mảnh vườn mà anh đã vất vả lắm mới có được. Anh chỉ cố gắng để bảo vệ nó mà thôi. Rồi Hà Văn Trường và Ninh Viết Bình, họ cũng chỉ như Hiến, cố gắng đến với ước mơ bằng đôi bàn tay chất phác của mình.

Tôi dám chắc có rất nhiều người hiểu được nỗi đau khổ của họ trước sự khốn cùng của luật pháp. Từng ngày qua, họ cũng phải đấu tranh như Hiến, đó là những dân oan mất đất, những người tù hứng chịu những bản án bất công, và những người nghèo làm gì cũng thấy mình sai và bị trừng phạt.

Dường như ở đất nước chúng ta, những ước mơ bình dị và thiện lương của những người sống dưới đáy xã hội, rất nhiều khi, lại đẩy con người ta đến sau chấn song sắt và xà lim tử tù. Đó không phải là một đất nước của hy vọng. Đó là một đất nước tuyệt vọng.

***

Bài viết dựa trên hồ sơ vụ án Đặng Văn Hiến và tư liệu phỏng vấn các nhân vật.


Trần Phương
Luật Khoa

 

Top ↑ Copyright © 2016. Tiến Bộ - All Rights Reserved
Back To Top ↑