Tin Tức Cập Nhật 24/7

Vì sao Nữ Hoàng Anh Không Trao Trả Độc Lập Cho Úc?


Úc lại lâm vào khủng hoảng chính trị với một Quốc hội treo khi cử tri tại đơn vị bầu cử Wentworth bầu cho ứng cử viên độc lập Kerryn Phelps vào Hạ viện thay thế cựu Thủ Tướng Malcolm Turnbull.

Ứng viên độc lập Kerryn Phelps/ Getty Images               

Và nếu đảng đối lập thương lượng được với các dân biểu độc lập và đảng Xanh thành lập Liên Minh trong vài ngày nữa Úc sẽ có 1 Thủ tướng mới, vị Thủ tướng này cũng có thể sẽ chỉ tồn tại tới tháng 5/2018 trước khi bầu cử.

Chỉ trong vòng 11 năm nước Úc có đến 7 hay 8 lần thay đổi thủ tướng và chưa thủ tướng nào làm đủ nhiệm kỳ 3 năm.

Một hệ thống chính trị rối ren như thế là lý do chính vào năm 1999 trong cuộc trưng cầu dân ý nước Úc Cộng Hòa có đến 55% dân Úc từ chối mô hình cộng hòa đại nghị.


… đợi khi Nữ Hoàng qua đời

Để thúc đẩy nước Úc độc lập, tuần qua khi Hoàng tử Harry và Công tước Meghan đang thăm Úc đề tài nước Úc Cộng Hòa lại được mang ra thảo luận.

Phóng viên Robert Hardman tiết lộ khi làm phóng sự “Nữ hoàng của thế giới” (Queen of the World), Nữ Hoàng cho biết quan điểm của bà là nếu nước Úc muốn trở thành một nước cộng hòa thì nên tiếp tục tiến trình đừng đợi đến khi bà qua đời.

Trước đây Cựu Thủ tướng Julia Gillard, một người cộng hòa, chỉ trích các chính trị gia bảo hoàng bằng cách công khai đề nghị hãy chờ cho đến khi Nữ Hoàng “chết” rồi hãy tiếp tục tranh luận về một nước cộng hòa.

20 năm qua mặc dù về chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa nước Úc đã thay đổi rất nhiều nhưng việc tranh luận gần như dậm chân tại chỗ. Nhiều chính trị gia Úc còn bảo hoàng hơn cả giới bảo hoàng nước Anh.

Ông Robert Hardman là phóng viên hoàng gia nên việc tiết lộ quan điểm của Nữ Hoàng cần được nhìn một cách tích cực Nữ Hoàng đang muốn thúc đẩy mở lại cuộc tranh luận về nước Úc cộng hòa.

Phóng viên Robert Hardman cho biết khi cuộc trưng cầu dân ý tại Úc thất bại "Cung điện Buckingham không tổ chức lễ mừng".

Ngay trong bài diễn văn hôm ấy Nữ Hoàng khuyến khích những người cộng hòa đừng chán nản bỏ cuộc hãy tiếp tục tiến trình để nước Úc trở thành 1 nước cộng hòa.

AFP/GETTY

Cuộc Trưng cầu dân ý 1999

Bắt nguồn từ việc Tổng Toàn quyền John Kerr truất phế cựu Thủ Tướng Lao Động Gough Whitlam ngày 11/11/1975, sau nhiều tranh luận, năm 1998 Thủ Tướng John Howard thuộc phe bảo hoàng phải quyết định cho triệu tập Hội nghị Lập hiến.

Ông Howard đưa ra ba mô hình để thảo luận: (1) Tổng Thống trực tiếp do dân bầu; (2) Tổng Thống bầu với ít nhất 2 phần 3 số phiếu tại cả Thượng viện lẫn Hạ viện; và (3) Tổng Thống được bổ nhiệm bởi một hội đồng do Thủ Tướng đề cử.

Phái bảo hòang tin rằng vị Tổng Tòan Quyền là trọng tài cho đàm phán vì thế chính thể quân chủ lập hiến là cơ sở vững chắc cho nền dân chủ tại Úc.

Những người cổ vũ cộng hòa thì cho rằng đã đến lúc Úc phải hòan tòan độc lập với Nữ Hoàng và Anh Quốc, nên dễ dàng chọn mô hình đại nghị số 2.

Phái cộng hòa cấp tiến cho rằng Hiến Pháp không còn hợp thời phải sửa đổi toàn diện hệ thống Westminster và thực hiện một chính thể Cộng Hòa với Tổng Thống trực tiếp do dân bầu theo mô hình số 1.

Sau nhiều tranh luận cuối cùng Hội Nghị quyết định chọn mô hình 2 Cộng Hòa Đại Nghị, tổng thống được bầu với ít nhất 2 phần 3 số phiếu tại cả Thượng viện lẫn Hạ viện, để đưa ra trưng cầu dân ý.

Như vậy tổng thống chỉ giữ vai trò nghi lễ tương tự như vai trò tổng toàn quyền và hệ thống chính trị không có gì thay đổi quyền lực vẫn bị thao túng bởi các chính trị gia.

Phái cộng hòa cấp tiến đã bỏ phiếu trắng trong Hội Nghị và trong trưng cầu dân ý đã vận động chống lại mô hình này.


Chiến dịch vận động

Chiến dịch YES (ủng hộ chính thể cộng hòa đại nghị) tập trung vào việc cần thay đổi thể chế.

Để vận động NO (giữ nguyên thể chế quân chủ) các nhóm bảo hòang đề cao thành quả nước Úc đã gặt hái được. Đồng thời tạo nỗi lo về sự bất ổn khi phải thay đổi thể chế với khẩu hiệu "Nếu hệ thống hiện tại không vỡ, không cần phải sửa".

Người Úc vốn không thích thay đổi. Cho đến nay chỉ có 8 trong số 44 đề xuất đưa vào một cuộc trưng cầu đã được đồng thuận thông qua. Nên chiến dịch vận động NO thành công ở chỗ giữ được các cử tri thuộc phái “bảo thủ”.




Vận động tích cực nhất cho NO là những người cộng hòa cấp tiến với một số lập luận như sau:

Thứ nhất, cộng hòa chỉ đúng nghĩa khi mọi công dân phải được bình đẳng về chính trị, được bầu trực tiếp Tổng Thống;

Thứ hai, chỉ chính trị gia mới có quyền bầu vị Tổng Thống nên mô hình Đại Nghị là một mô hình phi dân chủ với một "nền cộng hòa của các chính trị gia";

Thứ ba, các cuộc khủng hoảng chính trị do các chính trị gia tranh giành quyền lực lại sẽ tiếp tục thường xuyên xảy ra;

Thứ tư, cần viết lại một Hiến Pháp hòan toàn mới cho nước Úc cộng hòa; và

Cuối cùng, chỉ có mô hình Cộng Hòa Tổng Thống chế mới lợi ích thực sự cho nước Úc độc lập vì thế cần từ chối mô hình lần này để sửa sọan trưng cầu dân ý vào lần tới.

Không tới 10% dân Úc ủng hộ phái cộng hòa cấp tiến nhưng cùng với cánh bảo hòang kết quả là 55% dân Úc đã từ chối mô hình cộng hòa đại nghị.

Tác giả cho rằng người Úc không còn gắn bó với nước Anh và với Nữ Hoàng                 

Người Việt tuyệt đối theo cộng hòa

Vào năm 1999 người Việt đã hội nhập và đã bắt đầu quan tâm đến chính trị nước Úc. Trên báo chí Việt ngữ khi đó cũng đã có một số tranh luận về cuộc trưng cầu dân ý.

Nhiều người Việt vẫn tự hào với bản sắc Việt Nam Cộng Hòa và hầu hết người Việt sống trong các khu vực thành trì của đảng Lao Động khi ấy ủng hộ bầu Yes. Là hai lý do có thể kết luận đa số tuyệt đối người Việt đã bầu Yes cho một thể chế cộng hòa.

Ngày nay nhiều bạn trẻ sinh ra và lớn lên tại Úc nhưng vẫn rất tự hào với bản sắc Việt Nam Cộng Hòa. Kiến thức về chính trị lại không khác gì giới trẻ Úc nên vẫn rất ủng hộ cộng hòa.

Thượng Nghị Sỹ tiểu bang Victoria Hương Trương là một điển hình cho người trẻ gốc Việt tham gia chính trị Úc.

Sinh ra và lớn lên tại Úc cô Hương Trương luôn công khai tự hào với bản sắc Việt Nam Cộng Hòa với biểu tượng cờ vàng thường xuyên trên ngực áo trong các cuộc họp Quốc Hội.


Nước Úc ngày nay

Sau Đệ Nhị Thế Chiến giới lãnh đạo Úc đều nhìn nhận quyền lợi nước Úc gắn liền với Mỹ về chính trị và quân sự thay vì với Anh.

Ngày 15/10/2018, Ngoại trưởng Marise Payne tuyên bố Úc cần sự hiện diện lâu dài của Mỹ tại khu vực vì các thế lực khác (Trung Quốc) đang nổi lên, sự thù địch có thể tăng thêm, các thách thức ở Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương đang gia tăng, khiến liên minh Úc – Mỹ cần thiết hơn bao giờ hết.

Về thương mãi nước Úc không còn phụ thuộc vào thị trường Anh và Âu Châu mà chủ yếu mua bán với các quốc gia Á Châu trong vùng.

Xã hội Úc là một xã hội đa văn hóa. Các sắc dân như người Việt, người Hoa, người Ấn, … đều đã khá phát triển. Những di dân gốc Á châu thường không có gì gắn bó với nước Anh nên cũng đều ủng hộ cộng hòa.

Còn giữa Anh và Úc ngoài lịch sử, nghi thức, ngoại giao và các cuộc viếng thăm hầu như không còn mấy gắn bó.

Từ khi Anh gia nhập Liên Minh Âu Châu càng ngày quyền lợi nước Anh càng gắn liền với Âu châu.

Ngay sau khi nước Anh quyết định rời khỏi Liên Hiệp Âu châu, cựu Thủ tướng Malcolm Turnbull đã tuyên bố muốn ký Hiệp định thương mại với Anh, nhưng thực tế cho thấy việc xây dựng lại mối quan hệ đòi hỏi nhiều nỗ lực và càng đòi hỏi nước Úc phải hoàn toàn độc lập với nước Anh.


Dân Úc muốn cộng hòa

Tháng 7/2017, Thủ tướng Malcolm Turnball viếng thăm nước Anh đã viết trên tweet: “Mặc dù tôi là một người cộng hòa, tôi cũng là người của Nữ Hoàng Elizabeth”.

Ông Malcolm Turnball trước đây là Chủ Tịch Phong Trào Cộng Hòa và ủng hộ mô hình cộng hòa đại nghị. Ông nói thế để tránh phải rơi vào tranh cãi với thành phần bảo hoàng như cựu Thủ tướng Tony Abbot.

Nhưng ông Turnball cũng không thể tránh khỏi cuộc đảo chánh do chính ông Tony Abbot bày mưu vào tháng 8/2018 vừa qua.

Vào tháng 8/2017 báo chí đã thực hiện một cuộc thăm dò dư luận, kết quả lên đến 51 phần trăm dân Úc muốn một người Úc đứng đầu nước Úc, chỉ có 38 phần trăm ủng hộ chế độ quân chủ và 11 phần trăm chưa quyết định.

Trong trường hợp Hoàng tử Charles trở thành Vua lại có tới 55 phần trăm dân Úc cho biết họ muốn có một nước Úc cộng hòa.

Gần 70 phần trăm dân số Úc có tổ tiên là người Anh với trên 1 triệu công dân Úc đã sinh ra tại Anh nên vẫn còn 38 phần trăm ủng hộ chế độ quân chủ là điều dễ hiểu.

Cựu Thủ Tướng Julia Gillard là một người Anh sinh ra tại Barry, Wales, bà là một người ủng hộ cộng hòa nên đã công khai đề nghị hãy chờ cho đến khi Nữ Hoàng “chết”…. để chỉ trích Cựu Thủ Tướng Tony Abbot có cha mẹ gốc Úc nhưng sinh đẻ cũng tại Lambeth, London, Anh Quốc, một người cực kỳ bảo hoàng.

Nhìn chung các nhà lãnh đạo, các chính trị gia Úc đều có những gắn bó khá mật thiết với Anh Quốc.

Sau cuộc thăm dò dư luận năm 2017, báo chí phỏng vấn Lãnh đạo đối lập Bill Shorten ông hứa nếu thắng cử ông sẽ cho tổ chức một cuộc họp đảng kín (gồm cả các tiểu bang?) về việc liệu có nên trở thành một nước cộng hòa hay vẫn giữ thể chế độ quân chủ lập hiến.

Nếu câu trả lời là ''có'', ông sẽ xem xét hình thức của chính phủ cộng hòa để đưa ra trưng cầu dân ý.

Tình hình chính trị ở Úc cho thấy có thể vài ngày hoặc vài tháng nữa ông Bill Shorten sẽ trở thành Thủ tướng để khởi động lại việc tranh luận và trưng cầu dân ý về nước Úc cộng hòa.


Trả Độc Lập Cho Úc

Trong lần trưng cầu dân ý trước đây một số bạn bè, cả Úc chính gốc và Việt, cho rằng tôi bảo hoàng khi trước đó vài tháng tôi dám đánh cá là phe cộng hòa sẽ thất bại và thất bại nặng nề.

Quan điểm của tôi là người Úc không còn gắn bó với nước Anh và với Nữ Hoàng nhưng họ đã quá chán ngán hệ thống chính trị và các chính trị gia Úc.

Người Úc muốn được tự họ chọn 1 người đứng đầu nước Úc và một thể chế tam quyền phân lập hẳn hoi không phải một thể chế đại nghị như hiện nay.

Sau cuộc trưng cầu dân ý một người bạn hỏi tôi: “Sao Nữ Hoàng không đơn phương quyết định trao trả độc lập cho nước Úc?”

Tôi trả lời:”Nếu bà ấy làm thế chính trị gia Úc sẽ tranh nhau quyền lực và nước Úc sẽ loạn. Nữ Hoàng phải thúc đẩy nước Úc tiến tới cộng hòa một cách dân chủ và khi bà còn trị vì bà có thể giúp tiến trình được diễn ra một cách tốt đẹp hơn.”

Thử nghĩ với chưa đầy 11 năm nước Úc có đến 7 hay 8 lần thay đổi thủ tướng và chưa thủ tướng nào làm đủ nhiệm kỳ 3 năm có phải là một gánh nặng mà Nữ Hoàng đang mang trên vai mà chưa thể cởi bỏ.

Đơn vị Wentworth một đơn vị từ thời Úc mới thành lập chính quyền Liên Bang, 117 năm về trước, vẫn thuộc về đảng Tự Do và lần trước cựu Thủ Tướng Malcolm Turnball đã thắng cử với hơn 18% chênh lệch thật khó tin nay đã mất.

Lần này tân dân biểu độc lập Kerryn Phelps thắng ứng cử viên Tự Do với số tỷ lệ ước chừng 54-46 với 27% phiếu bầu thay đổi từ phía đảng Tự Do cầm quyền.

Trong chiến dịch tranh cử tân dân biểu độc lập Kerryn Phelps thường xuyên nhắc tới việc hệ thống chính trị hiện nay đã vỡ và cử tri Úc muốn một hệ thống chính trị hoàn toàn khác.

Nước Úc cộng hòa với một Hiến Pháp mới và một Tổng Thống do dân bầu có lẽ cũng là điều Nữ Hoàng mong muốn có được trong những tháng năm sắp tới.


© Nguyễn Quang Duy
    Melbourne, Úc Đại Lợi
    21/10/2018

Bế tắc trong cuộc sống, cả nhà 4 người ở Nghệ An treo cổ tự tử


NGHỆ AN, Việt Nam – Đôi vợ chồng trẻ cùng hai con 6 và 4 tuổi chết trong tư thế treo cổ tại phòng ngủ vì cả nhà nợ nần, túng bấn.

Ngôi nhà xảy ra vụ bốn người chết do tự tử. (Hình: Thanh Niên)

Đến 12 giờ trưa 20 Tháng Mười, 2018, các phòng nghiệp vụ của Công An tỉnh Hà Tĩnh phối hợp với Công An huyện Kỳ Anh đã hoàn tất khám nghiệm hiện trường vụ bốn người trong gia đình chết trong tư thế treo cổ, để lại thư tuyệt mệnh, xảy ra ở xóm Minh Châu, xã Kỳ Hợp, huyện Kỳ Anh.

Theo báo Thanh Niên, vào khoảng 6 giờ sáng cùng ngày, chị Nguyễn Thị Liễu (30 tuổi, chị gái nạn nhân) sang nhà thì phát hiện anh Nguyễn Tiến Thành (28 tuổi) và chị Nguyễn Thị Huyền Thanh (24 tuổi, vợ anh Thành) cùng hai con là Nguyễn Đăng Khoa (6 tuổi) và Nguyễn Thị Huyền Trang (4 tuổi) chết trong tư thế treo cổ ở gian nhà chính.

Ông Lê Văn Vượng, trưởng Công An xã Kỳ Hợp, cho hay khi có mặt tại hiện trường, cả bốn thi thể nạn nhân được người dân đưa xuống, đặt nằm dưới đất.

Theo ông Vượng, vợ chồng anh Thành là lao động tự do tại địa phương.

Kể với báo Thanh Niên, chị Liễu run rẩy kể lại: “Sáng sớm, tôi sang nhà em trai để dọn dẹp. Khi đi vào phòng ngủ thì phát hiện cả nhà nó treo cổ tự tử. Tôi lập tức hô hoán hàng xóm và chạy sang gọi bố đẻ của em dâu ở cạnh đó sang tháo dây ra để cứu, nhưng đã quá muộn. Tại phòng ngủ, tôi cũng phát hiện hai bức thư tuyệt mệnh mà vợ chồng Thành để lại nhưng chưa kịp đọc.”

Theo chị Liễu, anh Thành là con út trong gia đình có ba chị em. Năm anh Thành lên 7 tuổi thì bố mẹ mất vì bệnh tật, ba chị em nương tựa nuôi nhau sống qua ngày. Thời gian sau đó, chị gái đầu đi lấy chồng, chị Liễu và anh Thành ở lại trong ngôi nhà cấp bốn xập xệ bố mẹ để lại. Riêng chị Liễu đến nay vẫn chưa lấy chồng, sau khi anh Thành cưới vợ thì chị ở chung với vợ chồng em trai.

Chị Nguyễn Thị Liễu bàng hoàng kể lại sự việc. (Hình: Thanh Niên)

Ở vùng quê nghèo, anh Thành mở tiệm sửa xe đạp và xe gắn máy, nhưng được một thời gian thì nghỉ. Chị Liễu bị tật bẩm sinh đi lại khó khăn nên cũng không làm được việc nặng để phụ giúp em trai. Nhiều năm qua, để có tiền nuôi hai con ăn học, vợ chồng anh Thành đi làm thuê, công việc không ổn định. Cuối năm 2017, sau khi được Ủy Ban Nhân Dân xã Kỳ Hợp hỗ trợ tiền, vợ chồng anh Thành vay mượn thêm hàng xóm để xây dựng lại ngôi nhà.

“Do nhà mới xây dựng còn dở dang nên tôi ngủ ở căn nhà cũ cạnh bên, vợ chồng và hai đứa con của Thành ngủ trong nhà mới. Tối qua, Thành còn đưa chăn xuống cho tôi đắp và dặn tôi nghỉ ngơi cho khỏe. Đến sáng thì xảy ra sự việc quá đau lòng!” chị Liễu nói trong nước mắt.




Chị Liễu cũng cho biết, mấy ngày trước, một người đến nhà đòi tiền nợ, nhưng anh Thành nói xin cho nợ thêm một thời gian vì chưa có trả.

Báo Thanh Niên cho hay, ngôi nhà của anh Thành xây dựng còn dở dang, nguyên vật liệu nằm ngổn ngang trước sân.

Tại hiện trường, công an phát hiện hai lá thư bằng hai chữ viết khác nhau, nghi do vợ chồng anh Thành để lại.

Bức thư nghi chữ viết của anh Thành để lại có đoạn: “Trước khi đưa ra quyết định này thì vợ chồng tôi đã đấu tranh suy nghĩ mất rất nhiều thời gian. Mong mọi người hiểu và cảm thông cho chúng tôi. Cuộc sống này chán lắm mọi người à, bao nhiêu áp lực buồn phiền, bế tắc dường như không có lối thoát với chúng tôi… Trong 8 năm gia đình mình đã trải qua bao nhiêu vất vả sóng gió và cũng trong thời gian này là niềm hạnh phúc nhất của bố mẹ. Vì bằng tình yêu mà bố mẹ đã sinh ra hai con. Hai con là niềm tin vui của bố mẹ. Không gì so sánh được. Bố mẹ ngàn lần xin lỗi các con vì sinh ra các con trong tình yêu thương.”

Công an khám nghiệm hiện trường. (Hình: Thanh Niên)

Bức thư còn lại nghi của chị Huyền Thanh gửi lại cho cha và các em có đoạn: “Con xin lỗi rất nhiều. Cha và em ở lại cố gắng sống thật tốt nhé. Con sẽ âm thầm giúp đỡ cho cha sức khỏe và các em gặp nhiều may mắn nhé. Mong cha và em và các o (cô), các bác cố gắng chấp nhận sự thật và đừng đau buồn và hứa ở nơi ấy sẽ sống thật tốt. Con sẽ rất vui và yên lòng thấy cha và các em sống thật tốt.”

Trong khi đó, theo báo Pháp Luật Việt Nam, bức thư tuyệt mệnh do người vợ để lại còn có nội dung: “Gia đình chịu áp lực, bí bách trong cuộc sống. Cách đây 4 ngày, anh Thành vào Quảng Bình ăn trộm điện thoại và bị công an Quảng Bình bắt giữ. Sau đó, anh Thành được tại ngoại để công an tiếp tục điều tra. Do không chịu được áp lực nên cả gia đình đã treo cổ tự tử.”

Báo Người Lao Động cũng cho biết: “Theo chị Liễu, cách đây không lâu, anh Thành vào Quảng Bình và ăn trộm của người dân một chiếc điện thoại, sau đó bị công an bắt. Ít ngày sau khi Thành được thả về nhà thì mượn tiền của một người hàng xóm để lo công việc. Mấy hôm trước, người này đến đòi tiền nợ nhưng vì hoàn cảnh gia đình túng bấn quá nên chưa có tiền để trả.”

Anh NVX, hàng xóm và cũng là người cho anh Thành vay tiền, cho hay gia đình anh Thành nợ ngân hàng 100 triệu đồng (hơn $4,283). Trước đó, vợ chồng anh Thành mượn tiền của anh X. nhiều lần với tổng số tiền là 77 triệu đồng (hơn $3,297).

Ông Đào Mạnh Linh, chủ tịch xã Kỳ Hợp, cho hay vợ chồng anh Thành thuộc diện nghèo, làm ăn lương thiện. Chính quyền địa phương và huyện Kỳ Anh đã hỗ trợ tiền cho người thân của các nạn nhân để lo mai táng.


Người Việt

Chiếc giày của chị Dương


Chị Nguyễn Thùy Dương 28 tuổi, ngụ tại Q.2 vừa có một hành động vượt qua mọi suy nghĩ của người dân cả nước. Chị ném chiếc giày của mình đang mang vào bà Nguyễn Thị Quyết Tâm vào sáng ngày 20 tháng 10 trong một cuộc họp của thành phố với người dân oan Thủ Thiêm, khi bà Tâm trên bục giảng thuyết, cố gắng xoa dịu người dân oan trong giải pháp đền bù cho họ bằng việc tiếp tục hứa hẹn những điều mà họ đã nghe không biết bao nhiêu lần từ hơn hai mươi năm qua.

Chân dung chị Thuỳ Dương tại một buổi tiếp xúc cử tri tháng 6/2018, người được cho là đã ném giày vào bà Nguyễn Thị Quyết Tâm trong buổi tiếp xúc cử tri vào sáng ngày 20/10. (Ảnh chụp màn hình trên kênh Youtube Dân Oan Việt Nam)

Chiếc giày của chị Dương không trúng bà Tâm nhưng lại trúng vào tâm điểm của cả guồng máy chính trị mang tên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Mặc dù đây không phải là lần đầu tiên người dân ném giày dép vào lãnh đạo, nhưng có lẽ đây là lần đầu tiên chiếc giày của chị Dương được chú ý nhiều đến thế. Chiếc giày như một thứ vũ khí của người dân đen, nó đơn sơ như thời kỳ Đảng Cộng sản vận động người dân dùng tầm vông vạt nhọn để chiến thắng quân thù. Chiếc giày tuy không nhọn và làm nguy hiểm tính mạng như tầm vông nhưng nó lại mang hình ảnh của những gì tệ hại nhất, mọi thứ nhơ bẩn đều nằm dưới gót của nó, vì vậy, nó mặc nhiên được xem là thứ vũ khí cần thiết khi người ta muốn hạ bệ một hình tượng, một chủ thuyết hay ngay cả một chế độ. Chiếc giày là hình ảnh gây ấn tượng khi nó được ném vào ai đó. Ở đây chị Thùy Dương ném vào bà Quyết Tâm, người phụ nữ quyền lực nhất thành phố. Bà Tâm được người dân xác định là không thuộc phe nước mắt bởi bà không biết khóc, vụ Nhà hát Giao hưởng là ví dụ mới nhất sau một loạt tuyên bố đầy tai tiếng của bà.


Nhưng chiếc giày của chị Dương không chỉ nhắm vào bà Quyết Tâm. Nó nhắm vào cả hệ thống quyền lực của Việt Nam. Thông điệp của nó là bọn dân cùng khổ của chúng tôi không còn sợ hãi guồng máy này nữa. Chiếc giày là tiếng nói chính thức không những của dân oan Thủ Thiêm mà là dân oan khắp nước. Những người sống không ra sống, chết không ra chết, đang vật vã trong những công viên, khu phố ngập ngụa sình lầy, dưới gầm cầu, trong nhà lồng chợ…..những con người ấy đã và đang kêu gào khản cổ nhưng không một ai trong guồng máy trả lời cho họ. Thủ Thiêm hai mươi năm. Đồng Nai hai mươi sáu năm, Long An, Bà Rịa, Văn Giang, Dương Nội, Nam Định….không biết bao nhiêu năm nữa. Chất chứa lâu và dày như thế liệu một chiếc giày có làm cho hệ thống này tỉnh giấc hay không?

Nếu chính quyền không tỉnh thì người dân sẽ tỉnh.

Bởi họ sống quá lâu trong sợ hãi. Người dân không thể tưởng tượng ra được vào một ngày nào đó trong một buổi họp quan trọng, trong một công sở nguy nga lại có một phụ nữ 28 tuổi cũng cùng khổ như mình dám ném chiếc giày vào lãnh đạo thành phố. Người phụ nữ ấy là ai mà bạo gan như thế? Đơn giản lắm, cô chẳng phải là anh thư nữ kiệt gì, cô chỉ là một người dân oan Thủ Thiêm mất đất, bị chính quyền lừa lọc quá lâu, quá nhiều lần. Sự nóng giận nhiều ngày đã biến thành phẫn nộ và từ đó chiếc giày được phóng ra bằng sức mạnh của sự oan ức, lầm than trong bao nhiêu năm tích tụ.




Chính quyền thành phố lần này tỏ ra khôn ngoan hơn khi không bắt giam chị như những lần khác, bởi họ biết bắt người dân oan Thủ Thiêm lúc này sẽ không khác nào đẩy sự cuồng nộ trở thành bão tố.

Chiếc giày của chị Dương làm người dân bình thường chợt tỉnh sau hơn bốn mươi năm sợ hãi chỉ biết cặm cụi mưu sinh và âm thầm tuân theo quy luật do người Cộng sản đưa ra, bất kể quy luật ấy bất công đến thế nào chăng nữa.

Nhiều năm qua, người dân đã biết chống lại công an giao thông khi bị bắt xe xử phạt những lỗi mà họ không vi phạm. Người dân đã biết bất tuân dân sự khi những BOT được dựng lên cốt để thu tiền một cách bất công nhưng ra vẻ hợp pháp. Người dân đã biết biểu tình chống ô nhiễm môi trường bất kể những hậu quả tàn độc mà họ phải nhận. Người dân cũng đã biết họ có quyền từ chối một tờ giấy triệu tập bất hợp pháp của công an cũng như không chấp nhận mở cửa cho an ninh khám nhà khi không có trát tòa. Họ đã biết dạy dỗ công an khi bị canh giữ tại nhà cũng như tố cáo hành vi bất hợp pháp của lực lượng an ninh bằng cách livestream công khai trên mạng xã hội.

Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm (áo vàng) tiếp đón Tổng thống Mỹ Barack Obama nhân chuyến thăm của ông tới Việt Nam vào tháng 5/2016. Ảnh: AP Photo/Carolyn Kaster

Những cái biết ấy tuần tự xảy ra, nay họ biết thêm một điều nữa: người dân có thể ném giày dép vào lãnh đạo, giữa đám đông và giữa ban ngày.

Chiếc giày của chị Dương được ném đi bằng sức đẩy của bất công và bạo lực từ chính quyền thành phố. Bất công khi lấy đất của dân mà tiền bồi thường như của bố thí. Bạo lực khi cưỡng chiếm hàng ngàn căn nhà và đẩy người dân vào đường cùng của đêm tối. Chiếc giày của chị Dương không làm ai bị thương dù có bị ném trúng, nhưng chiếc giày có khả năng sát thương cả một chế độ khi chế độ ấy tiếp tục con đường bắt người dân hy sinh cho đảng trường tồn.

Chiếc giày của chị Dương rồi đây sẽ được người dân nhớ tới trong các cuộc trà dư tửu hậu. Bên gánh hàng rong, trong những quán cà phê chật chội cáu bẩn, hay trên những bàn nhậu vỉa hè. Người dân thấp cổ bé miệng tự dưng cảm thấy lớn lên bởi họ phát hiện rằng những người Cộng sản cũng là con người như họ, cũng biết sợ hãi và đầy rẫy hèn mọn, nhất là khi bị dân chúng nổi lên chống lại.

Đối với người trí thức, chiếc giày của chị Dương làm họ bứt rứt, bất an. Mặc cảm trước một người đàn bà 28 tuổi làm cho họ nhỏ bé và tổn thương. Nhỏ bé vì bất lực, tổn thương vì tự ái. Và biết đâu chiếc giày của chị Dương sẽ khiến họ bừng tỉnh và bước ra khỏi căn chòi “cầu an” mà họ tự nhốt mình bao năm nay một cách tự giác và đầy những bao biện.


Mặc Lâm
Blog VOA

Slovakia - Việt Nam: Khủng hoảng trầm trọng hơn vì vụ Trịnh Xuân Thanh


Quan hệ song phương Việt Nam-Slovakia sẽ "bị đóng băng" cho đến khi Slovakia nhận được lời giải thích khả tín từ Hà Nội về vụ ông Trịnh Xuân Thanh bị bắt cóc về Việt Nam, hãng thông tấn nhà nước Slovakia TASR đưa tin hôm 19/10.

Phái đoàn Slovakia gặp phía Việt Nam trong chuyến thăm chính thức của Thủ tướng Slovakia Robert Fico hồi tháng 7/2018/HOANG DINH NAM/Getty Images

Theo TASR, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Boris Gandel nói rằng Bộ Ngoại giao Slovakia vẫn chưa nhận được câu trả lời từ phía Việt Nam sau cuộc họp giữa ngoại trưởng hai nước hồi tháng Chín tại New York.

"Slovakia là một quốc gia nghiêm túc và sẽ có hành động ngoại giao nghiêm khắc đối với Việt Nam ngay khi những nghi ngờ nghiêm trọng mà Việt Nam đang đối mặt được xác nhận đầy đủ và chính thức," ông Gandel được trích lời.

Tuy nhiên, hiện chưa có thông tin chính thức từ phía Bộ Ngoại giao Slovakia, và cũng chưa rõ liệu phía Slovakia đã gửi công hàm ngoại giao cho phía Việt Nam hay chưa.

BBC đang liên lạc với Bộ Ngoại giao Slovakia để xác thực thêm chi tiết lời phát biểu của ông Boris Gandel nhưng chưa nhận được hồi đáp.

Lần gần nhất đây, trả lời BBC qua email ngày 5/10, Bộ Ngoại giao Slovakia viết:

"Việc bắt cóc một công dân Việt Nam là vi phạm luật quốc tế, cụ thể là Công ước Vienna về Quan hệ Ngoại giao (Điều khoản 3) và vi phạm chủ quyền và quyền lãnh thổ theo Hiến chương Liên Hiệp Quốc (Điều khoản 2) và lạm dụng hệ thống Schengen.

"Vụ việc này phá vỡ niềm tin [giữa hai bên] và gây căng thẳng cho quan hệ Slovakia-Việt Nam.

"Ngoại trưởng Slovakia Miroslav Lajcak trong cuộc gặp với người đồng nhiệm Việt Nam Phạm Bình Minh ở New York hôm 26/9/2018 chuyển thông điệp rằng điều rất quan trọng là Chính phủ Việt Nam phải giải thích không chậm trễ và làm rõ vấn đề.

"Ông báo với người đồng nhiệm Việt Nam rằng vụ việc này đang được điều tra ở Slovakia và nếu nghi ngờ rằng đoàn đại biểu Việt Nam lợi dụng chuyến thăm Slovakia nhằm bắt cóc một công dân của họ được xác nhận, điều này sẽ có hậu quả ngoại giao nghiêm trọng.

"Cuộc gặp diễn ra cách đây một tuần và chúng tôi chưa nhận được phản ứng gì từ phía Việt nam."

Phát biểu của ông Gandel hôm 19/7 về quan hệ 'đóng băng' được đưa ra khi ông hồi đáp yêu cầu của đảng đối lập Tự do và Đoàn kết (SaS) ở Slovakia.

Đảng này yêu cầu chính phủ giải thích về những điều liên quan đến vụ Trịnh Xuân Thanh vốn được báo chí nói đến liên tục những tháng qua.




Tuần qua, một báo Slovakia là Dennik N đưa tin rằng theo lời khai của biên phòng nước này trong cuộc điều tra về vụ Trịnh Xuân Thanh, xảy ra trong nhiệm kỳ của thủ tướng và bộ trưởng nội vụ trước, trong đoàn Việt Nam đi chuyên cơ rời Bratislava sang Moscow (07/2017) có một người mang hộ chiếu Việt Nam "thiếu visa Schengen" để nhập cảnh Slovakia.

Tuy nhiên đây là nguồn tin mới của một tờ báo Slovakia mà chưa có xác nhận chính thức vì cuộc điều tra chưa kết thúc.

Ngoại trưởng Slovakia Miroslav Lajcak/Anadolu Agency/Getty Images              

Hôm 26/9, Ngoại trưởng Miroslav Lajcak đã gặp người đồng nhiệm Việt Nam ông Phạm Bình Minh bên lề kỳ họp Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc tại New York.

Theo website của Bộ Ngoại giao Slovakia hôm 27/9, trong cuộc họp này, hai ông đã bàn về chủ đề 'vụ bắt cóc ông Trịnh Xuân Thanh' từ Đức, một vụ việc mà theo vài nguồn tin, "giới chức Việt Nam đã lạm dụng cả lãnh thổ và chuyên cơ chính phủ của Slovakia".

Trang này nói Ngoại trưởng Lajcak kịch liệt lên án hành động này như một vi phạm căn bản luật quốc tế và lạm dụng hệ thống Schengen, điều đã gây ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ song phương Slovakia - Việt Nam.

Người đứng đầu Bộ Ngoại giao Slovakia nhấn mạnh rằng cho đến giờ, những lời giải thích của chính quyền Việt Nam về cáo buộc nghiêm trọng liên quan đến vụ bắt cóc một công dân Việt Nam qua lãnh thổ Slovakia là không thỏa đáng. Ông kêu gọi người đồng nhiệm nhanh chóng làm rõ các vấn đề chưa sáng tỏ để khôi phục lại lòng tin trong quan hệ song phương giữa hai nước.

"Nếu các ông khăng khăng rằng các ông không lạm dụng lòng hiếu khách của chúng tôi và công dân các ông bắt cóc không có trên chuyên cơ của chính phủ Slovakia, thì tôi yêu cầu ông đưa ra một lời giải thích không mù mờ về chuyện các ông đưa người này từ Đức về Việt Nam ra sao. Bất kỳ nỗ lực đánh lạc hướng nào từ phía các ông sẽ dẫn đến hậu quả trên quan hệ song phương hai nước và chúng tôi sẵn sàng có những hành động hạn chế bên trong Liên minh Châu Âu," Ngoại trưởng Lajcak nói rõ yêu cầu của ông cho người đồng nhiệm Việt Nam.

Ông Phạm Bình Minh hứa sẽ chuyển lập trường này của Slovakia cho lãnh đạo Việt Nam biết, Bộ Ngoại giao Slovakia đưa tin hôm 27/9.

Phó thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh/ TIMOTHY A. CLARY/Getty Images

Cũng hôm 27/9, Tờ Zing.vn đưa tin Phó thủ tướng, Ngoại trưởng Phạm Bình Minh đã có các cuộc gặp với Bộ trưởng Ngoại giao các nước Australia, Slovakia, Slovenia và Uganda.

"Tại cuộc trao đổi với Bộ trưởng Ngoại giao Slovakia Miroslav Lajcak, hai bên cho rằng cần tiếp tục có các biện pháp duy trì và thúc đẩy hơn nữa quan hệ truyền thống tốt đẹp giữa hai nước.

"Phó thủ tướng cũng đề nghị Slovakia tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam đang đầu tư tại Slovakia, cho cộng đồng người Việt Nam sinh sống và kinh doanh ổn định, đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội Slovakia."

Không có bất kỳ tin nào nói về thảo luận giữa hai bên liên quan đến vụ ông Trịnh Xuân Thanh trên truyền thông Việt Nam.

Thời gian qua, quan hệ Đức-Việt Nam có xu hướng phục hồi sau khủng hoảng vì vụ mà toà án Đức xác nhận là "ông Trịnh Xuân Thanh bị mật vụ VN bắt cóc tại Berlin".

Đức đã tạm ngưng quan hệ đối tác chiến lược với VN trong một thời gian dài.

Nay tuy vấn đề với Berlin có vẻ như bắt đầu khai thông, điều có tác động đến sức nặng của Đức tại EU khi khối này thông qua Hiệp định Tự do Thương mại với VN (EVFTA), sức ép lên Hà Nội được chuyển sang Bratislava, theo một nhà báo ở Berlin nói với BBC.

Chính quyền của Thủ tướng Đức, bà Angela Merkel đã yêu cầu chính phủ Slovakia làm rõ xem họ có liên quan thế nào đến việc "đưa ông Trịnh Xuân Thanh" ra khỏi EU.


BBC

Chiến tranh thương mại: Trung Quốc còn nhiều nhức nhối


Nền kinh tế lớn thứ hai thế giới đang mất đà, và với một số rủi ro lớn trước mặt, sự suy giảm có thể sẽ xẩy ra. Dữ liệu được công bố hôm thứ Sáu cho thấy nền kinh tế Trung Quốc tăng trưởng với tốc độ hàng năm là 6,5%.

Chiến tranh thương mại: Trung Quốc còn nhiều nhức nhối/Getty Images

Dữ liệu được công bố hôm thứ Sáu cho thấy nền kinh tế Trung Quốc tăng trưởng với tốc độ hàng năm là 6,5%.

Đây là một suy giảm nhẹ so với quý trước khi Trung Quốc tăng 6,7% - nhưng đây là mức thấp nhất kể từ quý đầu tiên của năm 2009, khi tăng trưởng của kinh tế Trung Quốc sau hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, chỉ tăng 6,2%.

Dĩ nhiên, chúng ta nên luôn có một chút hoài nghi lành mạnh về con số tăng trưởng chính thức của Trung Quốc, nhưng dầu sao đó là một chỉ số tương đối hữu ích để theo dõi.

Những chỉ số này lần đầu tiên được chính phủ Trung Quốc công bố, kể từ khi Tổng thống Mỹ Donald Trump, kể từ tháng Bảy, tấn công Trung Quốc với hai lần áp thuế trên hàng hóa trị giá 250 tỷ đôla, điều sẽ làm tăng thêm trọng lượng cho suy nghĩ hiện tại là nền kinh tế Trung Quốc đang chịu áp lực từ cuộc chiến thương mại.

Nên nhớ là nền kinh tế Trung Quốc đã bị chậm lại trước khi cuộc chiến thương mại giữa Washington và Bắc Kinh bắt đầu căng thẳng vào đầu năm nay. Sự chậm lại là một quá trình chuyển đổi được quản lý - một quyết định mà chính phủ [Trung Quốc] nói là vì cần tập trung vào chất lượng tăng trưởng chứ không phải số lượng.

Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng cuộc chiến thương mại đã thay đổi tình thế. Trong khi chỉ số tăng trưởng này không nhất thiết cho thấy cuộc chiến thương mại đã tác động đến Trung Quốc, thì điều gần như chắc chắn là cuộc chiến này còn gây cho nước này nhiều nhức nhối hơn nữa.

Chưa gây ra tác động

"Qua thảo luận với những người liên hệ trong ngành, chúng tôi chưa thấy có tác động rõ rệt nào đến nhu cầu của người tiêu thụ", Vinesh Motwani của cơ quan Silk Road Research nói với tác giả, sau một chuyến đi Bắc Kinh và Thượng Hải gần đây.

Ông Vinesh dành rất nhiều thời gian nói chuyện với các doanh nghiệp tầm cỡ về nhận định của họ.

"Thật ra, nếu chúng ta có thể thấy được điều gì thì đó là việc một số công ty đang hưởng lợi ngắn hạn từ cuộc chiến thương mại. Đó là bởi vì nhiều khách hàng Mỹ đang cố gắng mua thật nhiều hàng hóa từ Trung Quốc trước khi mức thuế mới có hiệu lực."

Tuy nhiên, điều này có thể chỉ là một đốm sáng nhất thời vì về lâu về dài, như ông Motwani vạch ra, triển vọng thật đen tối.

"Những điều mà mọi doanh nghiệp cùng đang lo lắng là sự bất ổn cuộc chiến thương mại mang đến. Nếu không có cuộc chiến này, các công ty Trung Quốc sẽ lạc quan hơn nhiều vào triển vọng cho năm 2019. "

Viễn ảnh đen tối này cũng đang được lặp lại bởi các dự báo kinh tế./Getty Images

Một số ngân hàng đầu tư, Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Đơn vị Kinh tế Tình báo đã hạ thấp dự báo tăng trưởng của Trung Quốc xuống còn 6,2% vào năm 2019, ước tính hậu qủa của cuộc chiến.

Tất cả những điều này xảy ra vào thời điểm mà các động cơ tăng trưởng kinh tế điển hình của Trung Quốc - đầu tư tài sản cố định, tiêu dùng và xuất khẩu - đang bị chậm lại.

Trung Quốc có thể làm gì?

Như một quan sát viên Trung Quốc nói với tác giả trong chuyến đi đến Bắc Kinh tháng trước, đất nước này không muốn phải đối phó với một cuộc chiến thương mại vào thời điểm mà nó đang phải tìm cácy quản lý những rủi ro hệ thống trong nền kinh tế.

Và có vẻ họ không có nhiều lựa chọn. Các nhà hoạch định chính sách có lẽ sẽ không bơm nhiều gói kích thích lớn vào nền kinh tế theo cách họ đã làm sau năm 2008. Một phần là do quan điểm tập trung mới vào chất lượng tăng trưởng, chứ không chỉ là tăng trưởng.

Vấn đề khác là Trung Quốc đã tăng mức nợ công một cách bất thường - ước tính gần 300% của GDP - và đó là rủi ro chính mà nước này đang cố gắng quản lý.

Điều này có nghĩa là bây giờ Bắc Kinh đang phải chiến đấu ở hai mặt trận, mà không có tất cả các kỵ binh thường có trong tay.

Trung Quốc cũng đang chiến đấu với một kẻ thù ngày càng khó lường và dễ chuyển biến, dưới hình thức một chính quyền Mỹ hung hãn. Tất cả những điều này không mang đến triển vọng tốt cho tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc.


Karishma Vaswani
BBC News

Trung Quốc lật thế cờ khiến Mỹ quay lại Việt Nam


Từ khi nối lại bang giao với Mỹ, Trung Quốc đã phát triển, tiến bộ vượt bực về hết mọi mặt: quân sự, kinh tế, tài chính nhờ vào kỹ thuật, tiền bạc, thị trường Mỹ.

Live Design Show của công ty Trung Quốc tại Las Vegas, Hoa Kỳ: Nhờ quan hệ với Mỹ, Trung Quốc nay vươn lên thành nền kinh tế hàng đầu thế giới

Cho nên ngày nay Trung Quốc đã mạnh đủ để lật ngược thế cờ, ra mặt đối đầu với Hoa Kỳ.

Việc Trung Quốc thay đổi từ hòa bình sang tấn công như thế nào thì mọi người đều đã biết và chúng ta hiện còn đang chứng kiến từng ngày.

Song song với cường độ gây hấn của Trung Quốc là nhịp tăng tốc chiến lược xoay trục của Mỹ.

Và khi Mỹ xoay về Biển Đông thì Việt Nam lại trở về chỗ đứng lịch sử: đó là địa điểm chiến lược quan trọng nhất tại khu vực này.

Đầu thập niên 2000 Trung Quốc đã có những hành động ra mặt khiêu khích Mỹ, bắt đầu với việc tuyên bố chủ quyền về khu vực khí đốt gần đảo Natura phía đông bắc Sumatra (Nam Dương) và tranh chấp với Nhật về quần đảo Senkaku ở Đông hải.

Từ thời điểm đó tới nay đã có tới bốn tổng thống Mỹ liên tục chính thức thăm viếng Việt Nam.

Sự khác nhau là hai tổng thống Clinton và Obama đã tới Hà Nội vào năm thứ tám, năm cuối cùng của nhiệm kỳ hai (Clinton: 16/11/2000 và Obama: 20/5/2016). TT Bush tới vào năm thứ sáu (17/11/2006).

Lần này, Tổng thống Trump chính thức công du nội trong 11 tháng kể từ khi dọn vào Tòa Bạch Ốc.

Việt Nam lại là nước đầu tiên trong nhóm quốc gia ở Biển Đông trên lộ trình của ông. Sự sắp xếp về thời điểm thăm viếng, và thứ tự trước sau trong các chuyến đi của một lãnh đạo luôn có một ý nghĩa sâu xa về chính sách ngoại giao.

Mục đích công du của Trump tại Việt Nam

Trong chuyến đi này, khác với muc đích thăm viếng Trung Quốc, Nhật, Nam Hàn, Philippines, ông tới Việt Nam không phải để thuyết pháp về 'mậu dịch công bằng đối với Mỹ," hay chống lại hiểm họa Bắc Hàn, hay chỉ để bán vũ khí, mục đích chính là về chiến lược.

Đó là làm sao cho Việt Nam - dù ở cái thế kẹt giữa hai cường quốc - vẫn có thể xích lại gần Mỹ trong bối cảnh mà ông gọi là 'Giấc mơ Ấn Độ - Thái Bình Dương'.

Tại hội trường APEC, ông nói đến ý nghĩa của giấc mơ này là để "tất cả có thể cùng nhau phát triển thịnh vượng trong tự do và hòa bình."

Nhưng mọi người đều biết rằng "cùng nhau phát triển thịnh vượng" thì dễ nhưng "trong tự do và hòa bình" thì khó.

Khó là vì Trung Quốc gây hấn gia tăng ngày một nhanh. Cho nên, quyền lợi hỗ tương quan trọng nhất đối với Việt Nam và Mỹ là ngăn chận sự bành trường mau lẹ của Trung Quốc.




Trong chuyến thăm Việt Nam năm 2016, ông Obama khéo léo thúc đẩy Việt Nam qua việc nhắc lại câu thơ của Lý Thường Kiệt, rằng: "Sông núi nước Nam vua Nam ở."

Nhưng trong chuyến công du này thì ông Trump - con người bộc trực, nghĩ sao nói vậy - đã nhắc thẳng đến Hai Bà Trưng từng đánh đuổi Trung Quốc từ gần 2000 năm trước.

Ông nói: "Hai Bà Trưng đã đánh thức tinh thần của người dân vùng đất này. Đó là lần đầu tiên người dân Việt Nam đứng lên đấu tranh cho sự độc lập và niềm tự hào của các bạn."

Trong một hội trường gồm lãnh đạo của cả 21 thành viên và ngay trước mặt ông Tập Cận Bình mà nhắc đến như vậy thì cũng không phải là chỉ để nói bâng quơ.

Chắc cố vấn của ông Trump cũng đã cho ông xem hồ sơ của Tòa Bạch Ốc (9/7/1971) ghi lại lời Thủ tướng Chu Ân Lai nói về Hai Bà Trưng:

"Hai nghìn năm trước đây, Trung Quốc đã xâm lược Việt Nam, và Trung Quốc đã bị đánh bại. Lại bị đánh bại bởi hai người đàn bà, hai nữ tướng."

Ông Trump ưu ái Việt Nam?

Tờ Forbes (12/11/2017) vừa có bài nhận xét rằng Việt Nam là nước có lợi nhiều nhất trong chuyến đi vừa qua của Tổng thống Trump.

Đó là vì Việt Nam nhận được cả hai cái YES từ ông Trump. Tờ này cho rằng: Việt Nam muốn hai điều - một là Mỹ thực sự quan tâm đến sự lo ngại của Việt Nam về tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông; và hai là Mỹ tiếp tục ngoại thương tự do đối với Việt Nam mặc dù đã rút khỏi TPP, vì ngoại thương chiếm tới 89% tổng sản xuất GDP của nước này (201 tỷ USD, năm 2016).

Forbes biện luận: về điểm thứ nhất, trước chuyến công du, ông Trump đã cho chiến hạm đi xuyên qua biển, sát cạnh những hòn đảo TQ đang xây dựng hoặc tranh chấp với Việt Nam.

Ngày Chủ Nhật, ngay trước chuyến thăm Hà Nội của ông Tập Cận Bình, ông Trump lại đề nghị có thể giúp làm trung gian hay trọng tài về tranh chấp Biển Đông.

Ông Trump đề nghị như vậy dù đã biết rõ rằng Trung Quốc luôn chống lại vấn đề trọng tài do một trung gian thứ ba chứ đừng nói tới Mỹ.

Nguyễn Tiến Hưng: "Các nền kinh tế châu Á đều thịnh vượng nhờ quan hệ tốt với Hoa Kỳ". Hình hàng không mẫu hạm Mỹ thăm Hong Kong

Thật vậy, ngày 13/11/2017 báo South China Morning Post từ Hồng Kông đã bình luận rằng việc ông Trump đề xuất làm trung gian tranh chấp Biển Đông sẽ khiến Bắc Kinh khó chịu và phủ bóng xuống quan hệ của ông Trump với ông Tập.

Nhưng sở dĩ ông Trump cứ đề nghị như vậy là "để cho thấy rằng Mỹ thừa nhận sự lo lắng của Việt Nam và tối thiểu là không phải là không đứng về phía Việt Nam".

Về điểm thứ hai, dù ông Trump tấn công các nước rất nặng nề (nhất là Trung Quốc) tại APEC về mậu dịch bất công đối với Mỹ, nhưng tại Hà Nội ông đã nhân nhượng, chỉ nói rằng sẽ chờ mong để tiến tới thương mại hai chiều một cách "công bình và hỗ tương" (fair and reciprocal), và kêu gọi phải "minh bạch hơn" (more transparent).

Đây là mặc dù cán cân thương mại Mỹ - Việt càng ngày càng thâm thụt đối với Mỹ: nguyên 9 tháng đầu của năm 2017 đã lên tới gần 29 tỷ so với 32 tỷ USD của cả năm 2016 và 31 tỷ, năm 2015.
Liệu Việt Nam có được thuyết phục hay không?

Ngoài áp lực nặng nề của Trung Quốc, lại còn vấn đề khả tín của Hoa Kỳ. Chắc rằng Việt Nam cũng đã có câu hỏi: làm sao chúng tôi tin được rằng các ông sẽ không bỏ rơi chúng tôi như các ông đã tháo chạy khỏi Miền Nam?




Đây là vấn đề nhức nhối nhất cho nước Mỹ không những đối với Việt Nam mà còn đối với các quốc gia khác trong vùng.

Để trả lời phần nào câu hỏi này thì Tổng thống Obama đã xác nhận:

"Khi đến Việt Nam, tôi ý thức được quá khứ, ý thức được lịch sử khó khăn, nhưng mặt khác cũng hướng đến tương lai, đến sự thịnh vượng, đến những mục tiêu an ninh và ổn định để hai nước có thể thúc đẩy lẫn nhau."

Rồi một cách tế nhị, như để cam kết sự chung thủy, ông trích Nguyễn Du trong Truyện Kiều:

"Rằng trăm năm cũng từ đây.
Của tin gọi một chút này làm ghi"

Tổng thống Trump thì không mấy văn hoa, cho nên ông nói thẳng rằng sự xích lại gần nhau là dựa trên nền tảng của quyền lợi hỗ tương của cả hai nước.

Phát biểu ở Hà Nội, ông nói: "Chúng ta đã gắn kết dần với nhau để tìm được những mục tiêu chung, những lợi ích chung. Và đó là điều đang diễn ra. Chúng tôi tới đây hôm nay để tái khẳng định những gắn kết đó."

Thông Cáo Chung cũng nhắc lại việc "mở rộng quan hệ đối tác toàn diện giữa hai nước trên cơ sở …các lợi ích và mong muốn chung."

Ta có thể giải thích rộng ra rằng thông điệp của cả ông Obama lẫn ông Trump là:

"Quyền lợi quan trọng nhất của cả hai bên Việt - Mỹ là ngăn chặn tham vọng của Trung Quốc. Mà tham vọng này thì từ đây sẽ không bao giờ chấm dứt, cho nên chúng tôi sẽ không bao giờ làm cái lầm lỡ thứ hai là ôm ông Trung Quốc vào lòng (và bỏ rơi Việt Nam nữa). Đầu thập kỷ 1970 chúng tôi ôm TQ mà không e ngại vì lúc ấy nước này còn đứng vào hàng nghèo nhất thế giới, chưa mạnh về quân sự: năm 1969 xuýt nữa còn bị Liên Xô tấn công nguyên tử nếu không có sự can thiệp của Mỹ."

Thật vậy, tất cả cũng chỉ là vấn đề quyền lợi: chẳng có bạn bè vĩnh viễn (và cũng chẳng có kẻ thù vĩnh viễn) mà chỉ có quyền lợi vĩnh viễn, như Lord Palmerston, Thủ tướng Anh đã từng nhấn mạnh.

Về quyền lợi thì phía Việt Nam cũng đã biết rõ hai điều: thứ nhất, từ Thế Chiến II, không một nước nào từ Âu tới Á đã giàu mạnh lên được mà không phải nhờ Mỹ; và thứ hai, chỉ có Mỹ mới đối lại được với Trung Quốc.

Mở ra hướng đi mới cho Việt Nam

Một quán ở Đà Nẵng trang trí bằng hình ông Trump và các biểu tượng của Hoa Kỳ như Tượng Thần Tự do

Khi đặt Việt Nam vào trung tâm của khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương, một khu vực mà chắc chắn ông Trump sẽ tập trung để phát triển, ông đã gián tiếp mở ra một lối đi mới cho Việt Nam.

Đó là dù bị kẹt giữa hai cường quốc, nước này cũng vẫn có cách để xích lại gần Mỹ. Ngoài việc tiến thẳng tới quan hệ đối tác chiến lược lại còn một lối đi vòng: đó là khi Việt Nam nối tay chặt chẽ hơn với Ấn Độ, Nhật Bản, Nam Hàn, Philippines, Úc thì cũng là gián tiếp nối tay chặt hơn với Mỹ, vì 'bạn của bạn tôi là bạn của tôi.'

Mới nghe thì cho rằng khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương chỉ là viễn tượng của một khu kinh tế, thương mại tự do và mở rộng - như chính ông Trump nói - nhưng rất có thể là nó còn có một ý nghĩa sâu xa hơn - một chủ đề chúng tôi sẽ đề cập tới trong một dịp khác.

Để đáp lại thịnh tình của Tổng thống Trump trong chuyến công du kỳ này, thì Việt Nam cũng đã có ba hành động tượng trưng:

  1. Về kinh tế: ký hợp đồng 12 tỷ USD mua sản phẩm của Mỹ;
  2. Về quân sự: "hoan nghênh hàng không mẫu hạm Mỹ lần đầu tiên tới thăm một hải cảng (Cam Ranh) của Việt Nam trong năm 2018" và "khẳng định kế hoạch hợp tác quốc phòng Việt - Mỹ trong giai đoạn 2018-2020." (ông Trump nhấn mạnh sẽ bắt đầu ngay việc sửa soạn chiến thuật này).
  3. Về chính trị, ngoại giao: đã sắp xếp mời ông Trump đến Hà Nội, dự yến tiệc, phát biểu, ra thông cáo chung một ngày trước khi ông Tập tới, dù đón tiếp ông Tập long trọng hơn ông Trump nhiều.

Điểm thứ 2 và 3: nghe thì đơn giản nhưng là những điểm rất nhạy cảm đối với ông Tập.
Để biết rõ hơn liệu Tổng thống Trump có thành công ở Việt Nam hay không, ta phải theo dõi những hành động có thực chất của cả hai bên trong những ngày tháng sắp tới.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, tiến sỹ Nguyễn Tiến Hưng, Cựu Tổng trưởng Kế hoạch VNCH từ năm 1973 đến 1975, phụ tá về tái thiết của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Hiện định cư tại Hoa Kỳ, ông đã xuất bản các cuốn sách Khi Đồng minh Tháo chạy (2005) và Khi Đồng minh Nhảy vào (2016).


GS Nguyễn Tiến Hưng
BBC

Mẹ Nấm không bao giờ làm thinh


Mỗi lần đảng Cộng Sản Trung Quốc hay Việt Nam chịu trả tự do cho một nhà tranh đấu dân chủ ra khỏi nước, lại có những người thiếu ý thức nói một câu, theo lối, “Bọn Cộng Sản lại thắng nữa rồi!” Sau khi Mẹ Nấm được tự do, có người còn nói rằng đảng Cộng Sản “đã tống được ‘cái gai’ ra nước ngoài!” Vì Mẹ Nấm không được ở trong nước chống đối nữa.

Blogger Mẹ Nấm trả lời phỏng vấn của các cơ quan truyền thông ngay tại phị trường. (Hình: Facebook Nhất Nguyên)

Trước Mẹ Nấm, những ông Phương Lệ Chi, Ngụy Kinh Sinh, Vương Đán đã được Bắc Kinh “tống” đi từ ba bốn chục năm rồi. Ở Việt Nam thì những ông Đoàn Thanh Liêm, Đoàn Viết Hoạt được đưa từ nhà tù thẳng ra phi trường. Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện cũng bị tống đi. Gần đây hơn thì có Nguyễn Văn Hải, Trần Khải Thanh Thủy, Tạ Phong Tần, Cù Huy Hà Vũ, Việt Khang, Nguyễn Văn Đài, vân vân, phải sống lưu vong sau khi Cộng Sản đã giam cầm, hành hạ bao nhiêu năm tháng. Chịu thua vì không khuất phục được họ, Cộng Sản đành phải “tống đi.”

Có thể nói rằng Cộng Sản đã “thắng” các chiến sĩ dân chủ tự do trên đây hay không? Phải nói rõ ràng: Đó chỉ là những luận điệu rất cũ của bộ máy tuyên truyền rất thạo việc bẻ cong sự thật. Bộ máy mà Trung Cộng hay Việt Cộng coi là quan trọng hơn cả những tay chân cầm súng hay mang còn số tám, bây giờ còn được gọi tên là “dư luận viên” có bổn phận nhắc đi nhắc lại rằng “Đảng Ta” lúc nào cũng thắng.

Khi Cộng Sản Liên Xô “tống” được nhà văn Aleksandr Solzhenitsyn ra sang Đức, hoặc xé giấy thông hành, hộ chiếu, của nhạc sĩ Mstislav Rostropovich trong lúc ông đang đi trình diễn hồ cầm ở nước ngoài, bộ máy tuyên truyền Cộng Sản cũng mô tả đó là những “thắng lợi” của “cách mạng vô sản thế giới.”

Sự thật là chế độ Xô Viết đã chịu thua, lùi bước khi bắt buộc phải “tống xuất” Solzhenitsyn và Rostropovich. Sau cùng Solzhenitsyn và Rostropovich mới là kẻ chiến thắng. Họ chứng kiến chế độ Cộng Sản sụp đổ trên quê hương, họ vinh quang trở về và được đồng bào nhiệt liệt đón chào. Trước đó, những người đào thoát để sống lưu vong như Leon Trotsky còn bị Stalin cho người đuổi theo ám sát nhiều lần, cho đến khi giết được ông ở Mexico mới yên tâm.

Khi mới mất hộ chiếu, bị tước bỏ quốc tịch Nga, Rostropovich còn dự tính sẽ ở nước Pháp; vì từ mấy thế kỷ nay bao nhiêu người Nga lưu vong đã chọn Paris làm chỗ dung thân, ông nói, tôi “không khôn hơn mà cũng không dại hơn họ” nên cũng chọn Paris. Nhưng sau cùng, cả Solzhenitsyn và Rostropovich đều chọn sống ở Mỹ.

Cũng sống ở Mỹ như Phương Lệ Chi, Vương Đán, như Đoàn Viết Hoạt hay Điếu Cầy sau này. Bây giờ, Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh mới cùng mẹ và các con qua Mỹ cư ngụ. Cô cũng “không khôn hơn mà cũng không dại hơn” những Solzhenitsyn hoặc Ngụy Kinh Sinh!

Nói rằng đảng Cộng Sản đã tống được “cái gai Mẹ Nấm” ra nước ngoài, nếu không phải nhằm ca tụng Cộng Sản lúc nào cũng thắng; thì cũng do một lối nhìn của những kẻ chủ bại, trong bụng luôn luôn sợ Cộng Sản!




Dù Mẹ Nấm còn ở trong nước thì cô vẫn bị cầm tù, không thể tranh đấu gì nữa. Cũng như những Đoàn Viết Hoạt, Ngụy Kinh Sinh, Vương Đán hay Nguyễn Chí Thiện, khi được sống ở một nước tự do Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh sẽ có nhiều cơ hội đấu tranh hơn. Họ được tự do đi tới bất cứ nơi nào họ muốn, họ có một thính chúng đông đảo gấp ngàn, gấp vạn lần so với thời gian còn sống ở trong nước Trung Hoa hay nước Việt Nam! Hơn nữa, họ cũng được mở rộng tầm mắt nhìn cách sống của con người trong thế giới tự do, dân chủ.

Trước khi rời Trung Quốc hoặc Việt Nam, Vương Đán hay Nguyễn Chí Thiện chỉ biết những lý thuyết về xã hội tự do dân chủ. Khi sống ở Mỹ, họ biết rõ hơn con người trong các xã hội đó thực sự sống ra sao. Họ có dịp so sánh các chế độ độc tài khác chế độ tự do như thế nào, họ thấy và biết rõ hơn phải làm gì để đồng bào mình được sống giống như vậy. Khi đó, những lời kêu gọi của họ gửi về nước được diễn tả cụ thể hơn, rành mạch hơn và tác động đồng bào họ dễ dàng hơn. Tinh thần tranh đấu của họ mạnh hơn, con đường họ chọn chắc chắn vững vàng hơn. Nếu cứ tiếp tục sống trong nước, nhất là ở trong tù, họ không có được cơ hội tạo nên những tiếng nói mạnh mẽ như thế.

Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh cảm thấy tương lai đó cận kề khi cô được ôm con, “cảm xúc của con trai tôi vỡ òa trên máy bay.” Cô nhìn thấy cảnh tự do và đoàn tụ của gia đình mình “là câu trả lời cho những người đã bắt và giam giữ tôi trong suốt thời gian qua! Tôi không cô đơn và những tiếng nói yêu tự do không bao giờ lạc lõng hết.” Mẹ Nấm biết mình đã thắng chế độ Cộng Sản.

Những người bi quan chủ bại phải nghe lời Mẹ Nấm nói khi đặt chân trên đất Mỹ: “Ở trong nước tôi đã không làm thinh thì bây giờ chắc chắn tôi cũng không bao giờ làm thinh.”

Trước đây, những Solzhenitsyn, Đoàn Viết Hoạt, Vương Đán hay Nguyễn Chí Thiện cũng không bao giờ chấp nhận làm thinh. Họ là nhân chứng sống đã phơi bày cho cả thế giới biết chế độ Cộng Sản phi nhân tàn bạo là một vết nhơ cho đất nước họ và trong lịch sử loài người. Mọi người phải cùng nhau xóa bỏ các chế độ lạc hậu, dã man đó, nếu muốn bảo vệ những giá trị chung của nhân loại. Các đảng Cộng Sản Liên Xô, Trung Cộng hay Việt Cộng, trước khi tống họ ra đi, đều biết họ sẽ là những tiếng nói thách thức và đe dọa các chế độ chuyên chế độc tài. Các đảng Cộng Sản đã chịu thua nên đành phải trả tự do cho họ.

Những con người bất khuất “chắc chắn không bao giờ làm thinh” đó nay càng mạnh hơn, nhờ các phương tiện truyền thông tân tiến. Những trang Facebook của Đoàn Viết Hoạt, Vương Đán hay của Điếu Cầy, khi họ thoát vòng cương tỏa của Cộng Sản, còn trở thành những tiếng nói quyết liệt, minh bạch và cụ thể, có thể gây ảnh hưởng trên đồng bào trong nước họ nhiều hơn trước, gấp nhiều lần hơn những gì họ có thể làm nếu còn ở trong nước, nhất là nếu họ còn bị tù.

Sau khi tốt nghiệp tiến sĩ sử học ở Đại học Harvard, Vương Đán đã dạy môn “Lịch sử đảng Cộng Sản Trung Quốc” ở Đại Học Thanh Hoa ở Tân Trúc, Đài Loan. Năm 2010, ông đã bị một người đàn bà cầm dao tấn công trong lúc đang giảng bài. Vương Đán đã chống cự, giật được con dao trong tay hung thủ. Cuộc điều tra sau đó cho biết người phụ nữ này đã theo dõi Vương Đán ba năm trước khi ra tay. Nhưng Vương Đán đã thoát nạn và tiếp tục gửi tới đồng bào của ông những thông điệp về tự do dân chủ. Ông không chịu làm thinh, dù sinh mạng vẫn còn bị đe dọa.


Ngô Nhân Dụng
Người Việt

Việt Nam sẽ mua vũ khí Mỹ như thế nào


Mỹ chính thức bãi bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam vào tháng 5/2016, nhân chuyến thăm của Tổng thống Obama tới Hà Nội.

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis (phải) và Đại tướng Ngô Xuân Lịch, tại Sài Gòn 17/10/2018.

Trong thời gian hai năm qua, hoạt động trao đổi quốc phòng giữa hai nước diễn ra rất sôi nổi. Đó là những cuộc gặp gỡ cấp cao của giới chức quốc phòng hai nước, những chuyến thăm cảng Việt Nam của tàu chiến Mỹ, mà sự kiện mang tính lịch sử nhất là tàu sân bay USS Carl Vinson thăm Đà Nẵng vào tháng 3/2018, những tuyên bố của Việt Nam ủng hộ tự do hàng hải và hàng không mỗi khi tàu chiến Mỹ thách thức chủ quyền Trung Quốc tại các đảo đá và bãi cạn đang tranh chấp ở Biển Đông.

Bên cạnh đó còn có những tin tức về việc Việt Nam mua vũ khí Mỹ, hay là Mỹ biếu không cho Việt Nam những vũ khí cũ.

Ngay trong chuyến viếng thăm Hà Nội vào tháng 5/2016 của Tổng thống Obama, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ lúc đó là ông Ash Carter tuyên bố cung cấp một khoảng tín dụng trị giá 18 triệu đô la Mỹ để mua sắm các thiết bị quốc phòng của nước này.

Bắt đầu từ tháng 5/2017, cho đến tháng 3/2018, Hoa Kỳ đã chuyển giao cho Việt Nam, theo những thông tin được công bố, 12 ca nô và 2 tàu tuần duyên cho lực lượng cảnh sát biển Việt Nam.

Tháng 8/2018, có tin đưa ra từ Bộ Quốc phòng Mỹ là Việt Nam ký một hợp đồng trị giá gần 100 triệu đô là mua vũ khí. Bộ Ngoại giao Việt Nam sau đó tránh bình luận tin này.

Theo luật sư Vũ Đức Khanh, từ Canada, trong buổi thảo luận với đài RFA vào đầu tháng 10, có nói rằng sắp tới đây Việt Nam có thể đưa ra những hợp đồng mua vũ khí của Mỹ trị giá lớn để làm vừa lòng Tổng thống Donald Trump, người muốn có cân bằng mậu dịch với những quốc gia khác, trong đó Việt Nam đang là nước xuất siêu vào Mỹ.

Luật sư Vũ Đức Khanh: Có thể Việt Nam sẽ cân bằng cán can mậu dịch với Mỹ bằng các hợp đồng vũ khí.
Ngoài ra cũng có một thông tin khác có liên quan đến vấn đề mua bán vũ khí là Quốc hội Hoa Kỳ, hiện đang cấm vận quốc gia nào mua vũ khí của Nga, đã đồng ý loại Việt Nam và Ấn Độ ra khỏi danh sách đó, đồng ý để Việt Nam vẫn tiếp tục dùng vũ khí Nga để duy trì sức mạnh của quân đội mình.

Từ Đại học Maine, Hoa Kỳ, Giáo sư Ngô Vĩnh Long, một chuyên gia về quan hệ quốc tế cho biết là chính Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis đã điều trần trước Quốc hội Mỹ về việc này. Ông Mattis đã nêu vấn đề Việt Nam không thể ngay lập tức chuyển sang dùng vũ khí Mỹ trong khi đã dùng vũ khí Nga hơn nửa thế kỷ nay, để chống lại với lý lẽ muốn cấm vận mà Giáo sư Ngô Vĩnh Long cho rằng xuất phát từ các công ty sản xuất vũ khí Mỹ, hoặc các tiểu bang có các công ty này hoạt động.

Máy bay săn tàu ngầm P-3C Orion, là loại vũ khí mà Việt Nam cần để phòng thủ Biển Đông. AFP
Tiến sĩ Hà Hoàng Hợp, một nhà nghiên cứu độc lập từ Singapore cho biết rằng hiện Việt Nam sử dụng đến 80% vũ khí do các quốc gia thuộc Liên Xô cũ sản xuất, trong đó chủ yếu là từ nước Nga. Theo ông, từ câu chuyện loại trừ Việt Nam ra khỏi danh sách cấm vận, cho thấy Mỹ đang có một chính sách mở đối với Việt Nam về chuyện mua vũ khí, đó là Mỹ sẽ bán những gì và những khi nào mà Việt Nam cần, tức là chuyện mua vũ khí từ Mỹ là quyết định của Việt Nam.

Theo thông tin của Tiến sĩ Hà Hoàng Hợp, Mỹ đã muốn bán rẻ hoặc biếu không các máy bay săn tàu ngầm đang được quân đội Mỹ sử dụng là P-3C, và Việt Nam đã gửi nhiều đoàn của Bộ Quốc phòng đến Mỹ để khảo sát đề nghị này, nhưng chưa đưa ra quyết định, và theo Tiến sĩ Hợp, Hà Nội có thể cân đối ngân sách để mua những máy bay hoàn toàn mới.

Bình luận về tin Việt Nam ký hợp đồng mua gần 100 triệu đô la vũ khí Mỹ hồi tháng 8/2018, Tiến sĩ Hà Hoàng Hợp cho rằng nếu có thì không phải là những vũ khí lớn mà là những thiết bị quốc phòng như ra đa phòng không và phòng thủ bờ biển.

Tiến sĩ Hà Hoàng Hợp: Không có rào cản nào trong việc mua vũ khí từ Mỹ cả..
Theo ông, trong tương lai chuyện mua vũ khí của Việt nam sẽ tiếp tục theo hướng đó, và không có rào cản nào trong chuyện Mỹ bán vũ khí cho Việt Nam.

Bình luận về vấn đề mua vũ khí Mỹ của Việt Nam, Giáo sư Ngô Vĩnh Long cho rằng mặc dù chuyện đó là quan trọng, nhưng không phải là vấn đề lớn hiện nay trong quan hệ Việt Mỹ. Mà vấn đề lớn nhất là Mỹ cần có một đối tác chính danh là Việt Nam tại khu vực Biển Đông, Châu Á Thái Bình Dương để củng cố tiềm lực hàng hải mà Mỹ đã duy trì trong suốt vài trăm năm nay.

Theo Giáo sư Long, Mỹ đang cần một nơi dừng chân của tàu chiến trong khu vực Biển Đông, một khi mà quan hệ với đồng minh cũ Philippines không thể còn được đoán định một cách chắc chắn. Ông nói rằng chỉ cần một chuyến hải hành của tàu chiến Mỹ ở Biển Đông là có thể đã tốn hàng trăm triệu đô la Mỹ, vì vậy để một quốc gia đối tác dùng vũ khí Mỹ để bảo vệ quyền lợi chung của hai nước là vấn để rất dễ dàng nhìn thấy là vô cùng có lợi.


Kính Hòa
RFA
 

Top ↑ Copyright © 2016. Tiến Bộ - All Rights Reserved
Back To Top ↑